ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------------
TRẦN HỒNG CƠ
NGHIÊN CỨU, XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ TỒN LƯU
CHẤT ĐỘC DA CAM/DIOXIN VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
THỬ NGHIỆM CÔNG NGHỆ HÓA CƠ XỬ LÝ DIOXIN
TẠI KHU VỰC SÂN BAY BIÊN HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - Năm 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRẦN HỒNG CƠ
NGHIÊN CỨU, XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ TỒN LƯU
CHẤT ĐỘC DA CAM/DIOXIN VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
THỬ NGHIỆM CÔNG NGHỆ HOÁ CƠ XỬ LÝ DIOXIN
TẠI KHU VỰC SÂN BAY BIÊN HOÀ
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG .............................................................................................. vi
DANH MỤC HÌNH .............................................................................................. vii
DANH MỤC VIẾT TẮT ..................................................................................... viii
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU................................................................. 3
1.1 Tổng quan về tình hình ô nhiễm dioxin tại Việt Nam ............................. 3
1.1.1 Tình hình sử dụng chất diệt cỏ có chứa dioxin trong thời gian chiến
tranh của Mỹ ở Việt Nam......................................................................... 3
1.1.2 Thực trạng ô nhiễm dioxin tại các điểm nóng ................................. 4
1.2 Các phương pháp xử lý dioxin .............................................................. 10
1.2.1 Công nghệ Hóa Cơ (Dehalogenation by mechanochemical
reaction- DMCR) ................................................................................... 10
1.2.2 Giải hấp nhiệt trong mố (In Situ Thermal Desorption- ISTD/IPTD).11
1.2.3 Công nghệ Sinh học. ..................................................................... 12
1.2.5 Biên pháp chôn lấp ....................................................................... 13
1.3 Kinh nghiệm trên thế giới áp dụng công nghệ cơ hóa trong xử lý dioxin14
CHƯƠNG II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................. 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 17
2.1.1. Tính toán khối lượng đất nhiễm dioxin cần phải xử lý tại sân bay
Biên Hòa ............................................................................................... 17
2.1.2 Công nghệ Hóa-Cơ (MCD) xử lý đất bị ô nhiễm tại sân bay Biên
Hòa ........................................................................................................ 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 24
2.2.1 Phương pháp kế thừa, thu thập và tổng hợp tài liệu....................... 24
2.2.2 Phương pháp lấy mẫu ................................................................... 25
2.2.3 Phương pháp điều tra và nghiên cứu ngoài thực địa ...................... 27
Bảng 1.6 : Kết quả xử lý Dioxins (total) ......................................................... 16
Bảng 3.1: Hàm lượng PCDD/Fs (ppt TEQ) trong mẫu đất bề mặt từ khu vực
phía Tây (Biên Hòa) ....................................................................................... 33
Bảng 3.2 Nồng độ dioxin lấy theo chiều sâu tại khu vực Pacer Ivy ................ 36
Bảng 3.3: Hiệu quả tiêu hủy dioxin từ mẻ 1-16 .............................................. 42
Bảng 3.4: Hiệu quả tiêu hủy dioxin từ mẻ 17-33 ............................................ 43
Bảng 3.5: Hiệu quả tiêu hủy dioxin từ mẻ 39-42 ............................................ 44
Bảng 3.6: Hiệu quả tiêu hủy phân chia theo nồng độ ...................................... 46
Bảng 3.7: Quan trắc môi trường đối với dioxin .............................................. 48
Bảng 3.8: Báo cáo quan trắc bụi khu vực xử lý .............................................. 49
Bảng 3.9: Các thông số độc lập từ mẻ 1-10 .................................................... 50
Bảng 3.10: Kết quả phân tích Hồi quy bội (Sử dụng Regression trong excel
để tính toán) ................................................................................................... 51
Bảng 3.11: Mối tương quan giữa các thông số với hiệu suất sử lý .................. 52
Bảng 3.12: So sánh hiệu quả xử lý của các giải pháp xử lý đất nhiễm dioxin . 54
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Các khu vực ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa ..................................... 7
Hình 1.2 Cấu tạo máy nghiền bi .............................................................................. 10
Hình 1.3 Mô tả quá trình đứt gẫy các liên kết hóa học. ............................................ 11
Hình 1.4 Mô hình công nghệ giải hấp nhiệt trong mố .............................................. 12
Hình 1.5 Biểu đồ độ giảm của TCDD trong nghiên cứu thử nghiệm tại Đà Nẵng .... 13
Hình 2.1 Kết quả lấy mẫu dioxin tại phía Tây Nam đường bay (Pacer Ivy) ............. 18
Hình 2.2 thiết bị sấy khô ......................................................................................... 21
Hình 2.3 bốn lò phản ứng được lắp song song ......................................................... 21
Hình 2.4 hệ thống máy nhào đất sau xử lý ............................................................... 22
Hình 2.5 Các bao đất nhiễm dioxin lưu tại nhà kho ................................................. 23
Hình 2.6 Phương pháp lấy mẫu đất dưới bề mặt ...................................................... 26
MCD: Phá hủy cơ – hóa (Mechano Chemical Destruction)
GEF: Quỹ môi trường toàn cầu
GPS: Định vị toàn cầu
PCDD:Polychlorinated dibenzo-p-dioxins
PCDF:Polychlorinated dibenzofurans
PPT:đơn vị tính nồng độ (parts per trillion)
PTS: Hệ thống khoan di động
TCDD: Tetrachlorodibenzo -dioxin
TCDF:Tetrachlorodibenzo -furan
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
TEQ: Tổng nồng độ độc tương đương
UNDP: Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc
US EPA: Cơ quan bảo vệ môi trường – Hoa Kỳ
QA:Quality Assurance/giám định đảm bảo chất lượng
QC: Quality Control/ kiểm soát chất lượng
VOC: Chất hữu cơ dễ bay hơi
MỞ ĐẦU
Trong thời gian chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam, từ năm 1961 đến 1971,
quân đội Mỹ đã phun rải hơn 74 triệu lít chất diệt cỏ xuống miền nam Việt Nam,
trong đó ước tính có khoảng 366 kg dioxin. Đến nay, đã gần 5 thập kỉ trôi qua từ
khi chất độc da cam được sử dụng tại Việt Nam, dioxin vẫn tiếp tục gây ra ô nhiễm
môi trường, thâm nhập chuỗi thức ăn và cộng đồng dân cư, đặc biệt tại những khu
vực gần với các căn cứ không quân cũ của quân đội Mỹ, đây là nơi được coi là các
điểm nóng về ô nhiễm.Trong 3 điểm nóng (sân bay Phù Cát, Đà Nẵng, Biên Hòa)
thì Sân bay Biên Hoà được phát hiện là khu vực ô nhiễm dioxin nặng nhất. Ngay
sau khi chiến tranh kết thúc Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động
nghiên cứu và các biện pháp phục hồi môi trường tại các điểm nóng. Tại sân bay Đà
Nẵng đang áp dụng công nghệ giải hấp nhiệt để xử lý khoảng 73.000m3 đất và trầm
Với mục tiêu sau:
-
Xác định mức độ tồn lưu dioxin tại khu vực Tây-Nam đường bay Biên
Hòa, tính toán khối lượng đất cần xử lý.
-
Đánh giá hiệu quả thử nghiệm công nghệ hóa cơ xử lý dioxin tại sân bay
Biên Hòa
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về tình hình ô nhiễm dioxin tại Việt Nam
1.1.1 Tình hình sử dụng chất diệt cỏ có chứa dioxin trong thời gian chiến
tranh của Mỹ ở Việt Nam
Bảng 1.1: Số lượng các chất diệt cỏ đã được sử dụng tại miền Nam Việt Nam
trong thời gian chiến tranh với Mỹ
Đơn vị: lít
Tác giả
Chất da cam
Chất trắng
Chất xanh
Các chất:
tím, hồng,
43.332.640
21.798.400
6.100.640
2.944.240
74.175.920
Trong bảng này số liệu của Westing không bao gồm các chất tím, hồng và
xanh mạ là những chất có hàm lượng dioxin rất cao (Bảng 1.1). Theo Young
(2009), thì con số 74.175.920 lít là tổng số Mỹ đưa vào Việt Nam, đến năm 1972
theo kế hoạch Pacer Ivy đã đưa về nước 25.200 phi (loại 208 lít) chất da cam, tương
đương 5.241.600 lít, còn lượng đã sử dụng là 74.250.800 lít. Theo số liệu của
Stellman (2003) thì số lượng tổng các chất diệt cỏ là 76.954.806 lít(~77 triệu) các
chất, tương đương với 95.112.688 kg (~ 95 triệu kg), trong đó có 67% các chất chứa
dioxin, mà chủ yếu là chất da cam với khối lượng 49,27 triệu lít, tương đương
63.000 tấn.
Khối lượng 95.112.688 kg các chất diệt cỏ này được phun rải lên 2,63 triệu
ha chiếm 15,2% diên tích toàn miền Nam Việt Nam (172.540.000 ha, theo SIPRI,
1971). Nếu chỉ tính riêng các chất có hoạt chất 2,4,5-T, thì diện tích bị phun rải loại
các chất này, cũng theo Stellman và cộng sự là 1,68 triệu ha, chiếm 9,7 % diện tích
toàn miền Nam.
Từ các số liệu trên đây, có thể đánh giá mật độ phun rải như sau: Tất cả các
chất là ~ 36 kg/ha, riêng các chất da cam với khối lượng 49.268.937 lít tương đương
3
sân bay được xem là các nguồn ô nhiễm thứ cấp, các khu vực ô nhiễm được mô tả
trong hình 1.1
Từ năm 2000, các nghiên cứu được mở rộng và với sự tài trợ của UNDP
(Quỹ Ford), GEF (Quỹ môi trường toàn cầu), Ban 10-80/Hatfield (2007),
TTNĐVNg/Hatfield (2009), Văn phòng 33/Hatfield/UNDP (2007,2010).
Kết quả của các đợt khảo sát cho thấy nồng độ dioxin trong đất và trầm tích
của khu vực Z1 là rất cao, với nồng độ cao nhất là 410.000 ppt TEQ trong đất và
5470 ppt (theo trọng lượng khô) trong trầm tích. Các đợt khảo sát tiếp theo vào năm
2004-2005 cho thấy nồng độ vẫn cao trong một vài mẫu trầm tích tại hồ 2, với nồng
độ cao nhất trong mẫu trầm tích là 833 ppt TEQ. Trong chương trình khảo sát gần
đây nhất vào tháng 1 năm 2008, hiện trạng ô nhiễm dioxin tại khu Z1 vẫn còn cao,
với nồng độ TEQ của mẫu cao nhất là 262.000 ppt. Ngoài ra, các khu vực phía tây
nam sân bay và khu vực vành đai của Z1, nồng độ dioxin trong nhiều mẫu vượt quá
ngưỡng 1.000 ppt TEQ. Đặc biệt các mẫu lấy tại vùng đất thấp ở cuối dốc của khu
Z1 bao gồm các kênh rạch thoát nước, ao hồ tại đầu phía Nam của sân bay tiếp tục
bị ô nhiễm dioxin với nồng độ cao. Cần có thêm các chương trình lấy mẫu và phân
tích mẫu để có thể xác định chính xác thể tích đất và trầm tích cần được xử lý. Nồng
độ dioxin tại khu vực Pacer Ivy (địa điểm do Bộ Quốc phòng Mỹ đề nghị khảo sát,
nằm ở phía Tây Nam của sân bay) là tương đối cao, cho thấy khu vực này có thể đã
được sử dụng để phun thuốc diệt cỏ trong chiến tranh Mỹ - Việt Nam. Tuy nhiên số
lượng mẫu lấy tại khu vực này còn hạn chế. Vì đây là một khu vực có diện tích lớn
và có khả năng lan truyền ô nhiễm đến các hệ sinh thái nước qua hệ thống kênh
rạch, nên cần thiết phải có những đánh giá kỹ lưỡng về mức độ ô nhiễm.Kết quả
nghiên cứu được tổng hợp trong bảng 1.2.
5
Bảng 1.2: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu từ năm 2000 của Bộ Quốc phòng, Văn
Trầm tích
6
339 ppt
236 – 508 ppt
Đất
12
137 ppt
nd – 412 ppt
Trầm tích
2
52 ppt
44 – 50 ppt
Đất
8
83 ppt
80, 200405
Trầm tích
-
-
36 – 833 ppt
Đất
-
-
nd - 425 ppt
Khu Z1
Đất
8
115390 ppt
109 – 262000 ppt
Góc Tây Nam
30
1119 ppt
6,15 – 13300 ppt
Trầm tích
1
413 ppt
Trầm tích
5
966 ppt
Tên dự án
Vị trí
Dự án Z1 Khu vực Z1
& Chương
trình 33;
Hồ Cổng 2
2000,
2001
Khu ruộng gần hồ
Cổng 2
- Nồng độ TCDD đo được trong tháng 1 năm 2009 lấy tại trung tâm và phía
nam sân bay Đà Nẵng thấp hơn đáng kể so với các mẫu lấy tại phía bắc; trừ trường
hợp ở khu kho chứa Pacer Ivy (PISA). Nồng độ TCDD cao chỉ bắt gặp ở một mẫu
đất lấy tại vị trí gần khu vực PISA (20.600 ppt; 65% TCDD), và trong một mẫu cá
(25,4 ppt TEQ) lấy tại hồ D phía nam sân bay vào năm 2009.
7
- Tại khu nhiễm sân bay Đà Nẵng, dioxin đã thấm sâu vào đất đến 150 cm:
lớp đất 120-150 cm, có nồng độ TEQ là 952 ppt (n=5). Nghiên cứu hiện nay và
các nghiên cứu trước đây của Hatfield/Ban 10-80 đã xác nhận rằng, nồng độ chất
độc da cam dioxin cao nhất ở Việt Nam được tìm thấy trong đất ở lớp bề mặt 10
cm trên cùng; tại một số điểm nồng độ cao được tìm thấy ở độ sâu lớn hơn (ví dụ
> 30 cm), nhưng chỉ trong các vùng bị giới hạn tại khu nạp và trộn cũ, khu kho
chứa cũ, và PISA ở sân bay thành phố Đà Nẵng. Trong nghiên cứu này, mặt cắt
đứng ở khu kho chứa Pacer Ivy chỉ ra rằng nồng độ TEQ tăng theo độ sâu: 0-10
cm và 10-30 cm.
- Theo hướng lan tỏa, dioxin tích tụ trong hồ Sen, trong bùn, động vật, thực
vật thủy sinh: trong 3 hồ: hồ Sen A bị ô nhiễm dioxin nặng cần có biện pháp xử lý.
Hồ B và hồ C: trong các mẫu bùn và cá nồng độ dioxin không cao, dưới 100 ppt TEQ.
- Khu vực ngoài sân bay theo hướng lan tỏa: Đất khu dân cư, bùn trong các
hồ Xuân Hà, hồ 29-3, sông Hàn, sông Cẩm Lệ, sông Phú Lộc có nồng độ dioxin
thấp, dưới mức cho phép.
- Động vật, thực vật thủy sinh trong hồ Sen A có hàm lượng dioxin cao, trên
ngưỡng cho phép, cần xử lý và không được sử dụng làm thực phẩm và thức ăn cho
chăn nuôi.
- Kết quả khảo sát vào năm 2009 cho thấy nồng độ dioxin cao và khẳng định
khu vực đầu phía bắc sân bay Đà Nẵng là một điểm nóng. Ô nhiễm dioxin ở khu
phía nam sân bay Đà Nẵng ở mức nhỏ.
tiềm tàng cho các công nhân làm việc trong sân bay và cộng đồng dân cư sống ở
gần khu sân bay.
Trong khu vực nạp và rửa, nồng độ dioxin thấp hơn rất nhiều và có lẽ không có
nguy cơ lớn đối với sức khỏe con người và môi trường. Tương tự như vậy mẫu tại bể
sa lắng và các hồ A, B và C có nồng độ dioxin thấp. Do đó, không đòi hỏi cần khảo sát
tiếp theo cũng như các biện pháp làm giảm ô nhiễm.
Các mẫu lấy tại các khu vực do Bộ Quốc phòng Mỹ giới thiệu (khu vực góc
Đông Nam của sân bay), tuy nhiên các mẫu này đều có nồng độ dioxin thấp và tỷ lệ
TCDD trên tổng TEQ nhỏ (dưới 50%). Kết quả cho thấy khu vực này có lẽ không bị
sử dụng nhiều chất độc da cam trong thời gian chiến tranh, mà có thể đã được sử
dụng để làm văn phòng, doanh trại quân đội và các mục đích giải trí.
Đến năm 2011, trong khuôn khổ Dự án “Xử lý ô nhiễm môi trường tại những
điểm nóng ô nhiễm nặng dioxin tại Việt Nam”, từ nguồn kinh phí Quỹ Môi trường
9
toàn cầu (GEF) tài trợ thông qua Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP),
Văn phòng Ban Chỉ đạo 33 (Chủ dự án) năm 2011-2012 đã tiến hành chôn lấp, cô lập
7.500m3 đất và trầm tích nhiễm dioxin trên diện tích 2,06 ha (Dự án Dioxin,2011).
1.2 Các phương pháp xử lý dioxin
Xuất phát từ nhu cầu thực tế về việc bảo vệ và phục hồi môi trường, đặc biệt
là khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại, từ những năm 90 của thế kỷ trước các
nhà nghiên cứu môi trường của Việt Nam cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức, các
nhà khoa học Quốc tế đã triển khai một số công trình nghiên cứu nhằm tìm ra các
giải pháp tẩy độc cho các khu vực bị ô nhiễm nặng chất độc da cam/dioxin ở sân
bay Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát. Các công nghệ đã và đang được nghiên cứu,
thử nghiệm và áp dụng tại Việt Nam được trình bầy sau đây:
1.2.1 Công nghệ Hóa Cơ (Dehalogenation by mechanochemical reactionDMCR)
↓
Dạng nhỏ
↓
Sản phẩm phá hủy cuối cùng
1.2.2 Giải hấp nhiệt trong mố (In Situ Thermal Desorption- ISTD/IPTD).
Phương pháp do Terra-Therm Inc.(USA) đề xuất, hiện nay đã và đang được
áp dụng xử lý tại Sân bay Đà Nẵng. Phương pháp gồm hai bước, bước một là dùng
điện cực gia nhiệt cho đất, bùn nhiễm trong mố (ụ đất) đến nhiệt độ thích hợp để
làm bay hơi các hợp chất hữu cơ độc hại gây ô nhiễm (hình 1.4); bước hai là thu
gom và xử lý bằng các phương pháp thích hợp khác. (CDM Smith,2009)
11
Hình 1.4 Mô hình công nghệ giải hấp nhiệt trong mố
1.2.3 Công nghệ Sinh học.
Biện pháp sinh học xử lý chất ô nhiễm nói chung và các hợp chất dioxin nói
riêng đã được nghiên cứu ứng dụng từ lâu đã dần trở thành hướng đi triển vọng vì
đây là một biện pháp tuy có nhược điểm là thời gian xử lý kéo dài nhưng là một
biện pháp hiệu quả, rẻ tiền và đặc biệt là không tạo sản phẩm thứ cấp, an toàn đối
với con người và hệ sinh thái. Công nghệ này được chia thành 3 phương pháp:
- Bổ sung các vi sinh vật có khả năng phân hủy chất ô nhiễm vào vùng ô
nhiễm mà ở đó điều kiện môi trường có thể điều khiển được (bioaugmentation)
(Wise, 2000).
- Kích thích phát triển của vi sinh vật bản địa ngay tại nơi bị ô nhiễm
(biostimulation);
- Phân hủy bằng thực vật (phytoremediation) (Vroblesky và cs, 1998);
Đối với đất nhiễm dioxin tại các điểm nóng Biên Hòa và Đà Nẵng, Viện
công nghệ sinh học thuộc Viện khoa học công nghệ Việt Nam (2004) đã có các
nghiên cứu khảo sát ban đầu, đánh giá khả năng phân hủy dioxin của các vi sinh vật
Từ năm 2006 đến 2009 tai sân bay Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, cũng trên cơ sở
loại hình công nghệ này đã tiến hành cô lập triệt để tại chỗ khoảng gần 100.000m3
trên diện tích 4,3 ha đất nhiễm chất đôc da cam/dioxin trong các hố chôn an toàn
(báo cáo Dự án Z1, Bộ Quốc phòng). Vào năm 2012, Bộ Quốc phòng phối hợp với
Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ bằng ngân sách của Chính phủ Mỹ thực hiện đã
chôn lấp hoàn toàn 7.500m3 đất nhiễm tại sân bay Phù Cát do Văn phòng 33 làm
chủ dự án (2011-2012).
Phương pháp chôn cô lập không phải là phương pháp xử lý tận gốc nguồn
gây nhiễm, nhưng là giải pháp cô lập và ngăn chặn triệt để nguồn gây nhiễm; giải
pháp đơn giản, rẻ tiền có thể áp dụng trên nhiều vùng miền của Việt Nam.
1.3 Kinh nghiệm trên thế giới áp dụng công nghệ cơ hóa trong xử
lý dioxin
Theo báo cáo của Công ty EDL (EDL company,2011) thì dây truyền công
nghệ MCD của New Zealand đã được áp dụng thực tế xử lý đất bị ô nhiễm
dioxin ở các quy mô khác nhau và ở một số quốc gia, kết quả được trình bày
trong bảng dưới đây.
Bảng 1.3 Một số dự án thử nghiệm công nghệ Hóa Cơ
Năm
Địa điểm/dự án
Khối lượng
Công nghệ áp
dụng
Loại ô nhiễm
2006
Shipyard, San Francisco cho lực lượng Hải quân mỹ để đánh giá hiệu quả công
nghệ MCD xử lý PCBs rò rỉ từ kho dự trữ hàng hóa. Kết quả cuộc thử nghiệm cho
thấy các hợp chất POPs bao gồm thuốc trừ sâu, Dioxins, Pentachlorophenol (PCP),
Total Petroleum Hydrocarbons (TPHs) và các chất ô nhiễm khác đạt hiệu quả cao
hơn 99% sau 45 phút xử lý.
Bảng 1.4: Kết quả xử lý PCPs (ug/kg)
- Năm 2007, công ty EDL tiếp tục tiến hành thử nghiệm xử lý đất nhiễm
POPs, Dioxins… tại San Fransisco. Kết quả xử lý dioxin và furan cho thấy trong 15
phút đầu, nồng độ dioxin và furan còn cao hơn nhiều lần so với nồng độ ban đầu.
Có thể giải thích rằng dioxin, furan được tạo thành do sự phá hủy thứ cấp của các
hợp chất hữu cơ khác. Sau 15 phút, dioxin và furan bắt đầu được phá hủy, và trung
bình sau 60 phút xử lý hiệu quả đạt đến 94%.
Bảng 1.5: kết quả xử lý dioxin và furan (Đơn vị tính:TEQ)
- Năm 2011, EDL tiến hành thử nghiệm xử lý ở Osaka, Japan. Với hệ thống
xử lý cải tiến hơn so với các cuộc thử nghiệm trước. Mô hình xử lý này giống
với mô hình công nghệ đã tiến hành thử nghiệm tại sân bay Biên Hòa vào cuối
năm 2012.
200kg đất đã được xử lý với độ ẩm 10%, kết quả được tóm tắt trong bảng sau:
15
Bảng 1.6 : Kết quả xử lý Dioxins (total)
Reactor 1 out: mẫu đất trước khi ra khỏi lò phản ứng số 1
Reactor 2 out: mẫu đất ra khỏ lò phản ứng số 2
các ao này.
Tại khu vực này, phân tích 15 mẫu trong tổng số 19 mẫu đất và trầm tích.
Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga phân tích 11 mẫu và Công ty AXYS phân tích 4
mẫu, bao gồm 2 mẫu lặp lại để kiểm chứng phương pháp.
Kết quả phân tích cho thấy, phía tây của khu vực này (chân dốc đường băng)
có nồng độ dioxin cao (2.000 và 22.300 ppt TEQ). Tại khu vực phía Tây - Nam
mức độ ô nhiễm thấp hơn. Đối với trầm tích, mẫu lấy tại cá ao hồ và rãnh thoát
nước dọc theo hướng dòng chẩy từ đường băng thì nồng độ dioxin đều cao hơn
ngưỡng cho phép của Việt Nam và Quốc tế (1090, 1500 và 5970 ppt TEQ). Đây là
khu vực có địa hình phức tạp với nhiều ao nuôi cá và hồ.Mức độ ô nhiễm dioxin rất
17