Nghiên cứu kiểm nghiệm một số dược liệu mang tên sâm bằng phương pháp hiển vi - Pdf 31

BỘ Y TÊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Dược HÀ NỘI

NGHIÊN c ú u KIỂM NGHIỆM MỘT s ố

DƯỢC LIỆU MANG TÊN SẢM
BẰNG PHƯƠNG PHÁP HIEN VI

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ ĐẠI HỌC KHOÁ 1995-2000

Người thực hiện:

Nguyễn Thị Phương Lan

Người hướng dẫn:

TS. Nguyễn Viết Thân
PGS.TS. Nguyễn Kim cẩ n

Nơi thực hiện:
Thời gian thực hiện:

Bộ môn Dược liệu
3/2000 - 5/2000

HÀ NỘI - 5.2000

N9/I2. u



2

1.1. Nguyên liệu

2

1.2. Phương pháp nghiên cứu

2

1.2.1 .Thu mẫu và bảo quản

2

1.2.2. Quan sát đặc điểm hình thái

3

1.2.3. Nghiên cứu cấu tạo giải phẫu

3

2. Kết quả thực nghiệm.

4

2.1. Huyền sâm

4

loại dược liệu, Nhân Sâm là một vị thuốc quí, đây là vị thuốc có tác dụng
bồi bổ khí lực tăng cường sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ, vì thế đông y đã coi
Nhân sâm là vị thuốc đứng đầu các vị thuốc bổ theo thứ tự sâm, nhung, quế,
phụ. Do tác dụng như vậy nên một số cây thuốc có tác dụng bổ được gọi là
Sâm. Theo đánh giá sơ bộ, ngoài Nhân sâm, có khoảng 40 loại dược liệu
cũng mang tên Sâm với các tác dụng khác nhau, vì thế trong khi sử dụng
không tránh khỏi nhầm lẫn.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành khoá luận: "Nghiên cứu
kiểm nghiệm một số dược liệu mang tên Sâm bằng phương pháp hiển vi"
với mục tiêu là:
1. Phân biệt một số dược liệu mang tên Sâm bằng phương pháp hiển vi.
2. Nghiên cứu một sô mẫu dược liệu mang tên Sâm để bổ sung tư liệu và
góp phần vào việc thành lập các chuyên luận kiểm ngiệm
chúng vê mặt hiển vù


PHẦN II

TỔNG QUAN
Để thuận tiện cho việc theo dõi và tránh lặp lại, chúng tôi sẽ trình bày
phần tổng quan theo từng phần tương ứng với từng vị dược liệu.

PHẦN III

THỰC NGHIỆM VÀ KÊT QUẢ
1. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

cứu

1.1. Nguyên liệu:

- Các bộ phận nghiên cứu được làm mềm trước (nếu cần thiết) bằng
nước hoặc cồn: nước: glycerin (1:1:1), tuỳ tính chất từng dược liệu.
- Chọn phần dược liệu nguyên không hỏng, cắt một phần có các đặc
điểm đặc trưng, thường có hình chữ nhật hoặc hình bán nguyệt.
- Tiến hành cắt bằng máy cắt mỏng cầm tay.
- Sau đó các lát cắt được xử lý theo trình tự:
Tẩy sáng:
* Ngâm hoặc đun các lát cắt trong dung dịch cloramin 5-10% khoảng
hai đến năm phút từ lúc sôi, tuỳ từng trường hợp.
* Rửa bằng nước cất nhiều lần đến hết cloramin.
* Ngâm trong dung dịch axit acetic 10% trong khoảng năm phút.
* Rửa lại bằng riiĩớc cất đến hết axit.
Nhuộm bằng phương pháp nhuộm kép thông thường với đỏ son phèn
và xanh metylen.
* Các lát cắt sau khi rửa hết axit acetic, nhuộm đỏ son phèn.
* Rửa lại bằng nước cất đến khi nước rửa không còn màu hồng.
* Nhuộm xanh bằng xanh metylen.
* Rửa lại bằng nước cất đến khi nước rửa không còn màu xanh.
Thời gian nhuộm tuỳ thuộc vào tính chất bắt màu của mỗi dược liệu.
Loại nước:
Vi phẫu cần được loại hết nước trước khi cố định.

3


* Các lát cắt được khử nước từ từ với cồn có độ cồn tăng dần 20°, 30°,
80°, 90°, sau đó là cồn tuyệt đối.
* Rửa xylen nguyên chất ba lần.
Lên kính:
* Nhỏ lên phiến kính một giọt bôm canada (đã được pha loãng trong

Thiểm Tây,Quí Châu, Cát Lâm, Liêu Ninh. Cây thảo cao l,5-2m, thân có
bốn cạnh, màu lục, có rãnh dọc. Lá mọc đối, hình trứng, đầu nhọn, mép có
răng cưa, dài 3-8cm, rộng l,5-2cm. Hoa màu tím nâu, có bốn nhị mọc
thành chùm ngắn ở ngọn thân, kẽ lá, đầu cành, quả và hạt màu đen. Bộ
phận dùng là rễ có hình trụ không đều thon dần về một đầu. Dài khoảng 613cm , đường kính 0,6-2,5cm. Rễ có thể phân nhánh. Mặt ngoài có màu
vàng nhạt mang các vết sẹo ngang và các rễ phụ. Thể chất chắc [2,5].
Trước đây Việt Nam ta phải nhập Huyền sâm từ Trang Quốc. Vào
những năm 1960, Huyền sâm đã bắt đầu di thực vào nước ta. Hiện nay
Huyền sâm đã được trồng nhiều ở miền núi cao và đồng bằng trung du Việt
Nam [2,9].
Có một số cây thuộc chi Scrophularia được trồng và sử dụng ở các
địa phương khác nhau:
-

Scrophularia buergeriana Miq. (S. oldhami Oliv.) : Bắc huyền sâm,

Dã huyền sâm. Có một số đặc điểm khác Huyền sâm - Scrophularia
ningpoensis Hemsl.. Hoa mọc từng chùm, núm hoa màu xanh vàng, lá hình
trứng có loại hình trứng dài, chiều dài lá khoảng 5-12cm. Quả non hình
trứng dài 6mm. Củ tròn dài, có nếp nhăn dọc, vỏ màu nâu tối, có củ con
hoặc nốt củ con. cắt ngang mặt củ trong vỏ không có tế bào mô cứng. Củ
ngâm nước thành màu đen, ưa trồng ở nơi ẩm ướt. Có trồng tại các vùng

5


Hắc long giang, Cát lâm, Liên minh, Hà bắc, Sơn đông, Sơn tây, Nội mông,
Giang tô [6,7,12].
-



Bột: Màu đen nhạt, vị hơi mặn. Soi dưới kính hiển vi thấy: nhiều tế
bào mô cứng tập hợp thành từng đám, hoặc rải rác những tế bào riêng lẻ có
ống trao đổi rõ, đa số hình thoi. Mạch gỗ hầu hết là mạch vạch. Mảnh bần
gồm những tê bào nhiều cạnh đều đặn có thành dày. Mảnh mô mềm. Rải
rác tinh bột nhỏ có hình tròn [3].
Kết quả kiểm nghiệm:
Hình dạng bên ngoài: Bộ phận dùng là rễ có hình trụ thon dần một
đầu. Dài khoảng 6-13cm, đường kính 0,6-®*2¿5cm. Rễ có thể phân nhánh.
Mặt ngoài có màu vàng nhạt mang các sẹo ngang và các rễ phụ, thể chất
chắc (Ảnh 2).
Vỉ phẫu: Mặt cắt có hình tròn. Từ ngoài vào trong có: Lớp bần gồm
1-3 hàng tê bào thành nhăn nheo xếp thành hàng, có chỗ bị rách nứt. Mô
mềm vỏ gồm các tế bào có màng mỏng hình đa giác xếp sít nhau. Trong mô
mềm có những đám tế bào mô cứng gồm 2-3 tế bào có thành rất dày hoặc
những tế bào mô cứng riêng lẻ xếp rải rác gần bần. Libe cấp 2 cấu tạo bởi
những tế bào nhỏ xếp đều đặn, libe phát triển thành tạo thành các bó nhỏ
nằm ứng với bó gỗ bên trong. Tầng phát sinh libe-gỗ liên tục thành vòng.
Gỗ cấp 2 liên tiếp thành những đoạn, dãy mạch thẳng hàng từ trong ra
ngoài. Giữa tâm điểm có một đám mạch gỗ cấp 1. Tia ruột rộng (Ảnh 3).
Bột: Màu đen xám nhạt. Soi kính hiển vi thấy: Mảnh bần có màu
vàng gồm các tế bào thành dầy (1). Mảnh mô mềm (2). Rải rác có các sợi
thành mỏng (3). Nhiều mảnh mạch vạch (4). Những tế bào mô cứng liêng lẻ
hoặc tập trung thành từng đám có ống trao đổi rõ^Có khi gặp những hạt tinh
bột tròn có rốn phân nhánh (Ảnh 4).
Bàn luận:
Kết quả nghiên cứu cho thấy các mẫu Huyền sâm có đặc điểm hiển
vi đáp ứng các yêu cầu của Dược điển Việt Nam II tập 2.

7

thiếu máu, vàng da, bệnh bạch huyết, viêm thượng thận, nước tiểu có
anbumin, chân phù đau. Còn dùng làm thuốc bổ dạ dày, chữa ho, tiêu đờm,
lợi tiểu tiện. Người ta còn gọi Đảng sâm là Nhân sâm của người nghèo vì
có mọi công dụng của Nhân sâm lại rẻ tiền hơn [6].
Đảng sâm bắc có saponin và đường. Đảng sâm nam có đường, chất
béo [2,6].
Rễ khô của cây Đảng sâm nam (Codonopsis jơvanica) hơi giống rễ
khô cây Tục đoạn (Dipsacus ịaponicus Miq., họ Tục đoạn Dipsaceae) [10].
Ở đây chúng tôi tiến hành nghiên cứu các mẫu Đảng sâm bắc, Đảng
sâm nam thường dùng trên thị trường.

9


2.2.1. Đ ả n g sâm nam
Yêu cầu kiểm nghiệm:
Hình dạng bên ngoài: Dược liệu là rễ hình trụ, có khi phân nhánh,
đường kính 0,5-2cm, dài 6-15cm, có khi tới 20cm. Đầu trên phát triển to, có
nhiều sẹo của thân. Mặt ngoài màu vàng nâu nhạt, trên có những rãnh dọc
và ngang, chia rễ thành đường lồi lõm. Mùi thơm nhẹ, vị hơi ngọt [3].
Vỉ phẫu: Lófp bần gồm 5-6 hàng tế bào hình chữ nhật. Mô mềm vỏ
cấu tạo bởi tế bào hình nhiều cạnh. Trong mô mềm rải rác có đám mô cứng
và ống nhựa mủ. Một sô tế bào chứa inulin và tinh bột. Libe chiếm phần lớn
lát cắt, có ống nhựa mủ. Mạch gỗ họp thành 2 hàng phân cách nhau bởi tia
ruột có có tế bào thành mỏng[3].
Bột: Màu vàng nâu nhạt. Soi kính hiển vi thấy: Nhiều hạt tinh bột
nhỏ, đường kính 3-20|Lim. Khá nhiều mảnh mạch mạng. Tế bào mô cứng
màu vàng nhạt. Mảnh mô mềm với ống nhựa mủ. Mảnh bần màu vàng nâu
[3].
Kết quả kiểm nghiệm:

Ảnh 5: Cây Đảng sâm nam

^

Anh 6: Rễ Đảng sâm nam

Anh 7: Vi phẫu rê Đảng sâm nam

0,05 mm

:o Ö o

Ảnh 8: Một số đặc điểm bột Đảng sâm nam
12


2.2.2. Đ ả n g sâm bắc
Yêu cầu kiểm nghiệm:
Hình dạng bên ngoài: Dược liệu là rễ, có hình tròn dài dẹp, dài
khoảng 8-22cm, đường kính 7-10mm, cũng có củ to dài hơn. Đầu củ trông
hơi giống đầu sư tử. Mặt ngoài màu vàng nhạt có những rãnh sâu nằm
ngang không đều, gần đầu rễ có những rãnh ngang thưa. Thể chất dễ bẻ
gẫy, mặt gẫy không phẳng. Không mùi, vị ngọt.
Vi phẫu: Qua kính hiển vi quan sát mặt cắt ngang thấy : Ngoài cùng
là lớp bần, sát lớp bần là mô mềm gồm những tế bào vách mỏng có nhiều
ống nhựa mủ. Libe phát triển. Tầng phát sinh libe- gỗ tạo thành vòng liên
tục. Các mạch gỗ hình tròn to nhỏ không đều nhau xếp thành dải trong mô
mềm gỗ không hoá gỗ [12].
Bột: Có màu vàng nhạt. Soi dưới kính hiển vi thấy: các mảnh bần.
Các tế bào thành dầy hoá gỗ. Mảnh mô mềm có các ống nhựa mủ. Các

14


Anh 9: Đảng sâm bắc

Ảnh 10: Vi phẫu rễ Đảng sâm bắc

0,05 mm

Anh 11: Một số đặc điểm bột Đảng sâm bắc

45


2.3. Đan Sâm.

Dược liệu là rễ đã chế biến của cây Đan Sâm {Salvia miltiorrhiza
Bunge), họ Hoa môi (Lamiaceae) [3].

Còn được gọi là Huyết sâm, Xích sâm, Huyết căn [6].
Cây này mới di thực vào nước ta, hiện đang gây giống ở Tam Đảo.
Rễ thu hoạch vào mùa đông. Đào rễ, cắt bỏ cây và rễ con, phơi hoặc sấy
khô [6].
Trên thực tế người ta trồng, thu hái một số cây kháe chi Salvia với tên
gọi Đan sâm:
♦ Salvia bowleyana Dunn., Nam đan sâm: Dược liệu là rễ củ có hình
ống dài, dài 5-8cm, đường kính 0,5cm. Mặt ngoài đỏ nhờ, chất hơi cứng, dễ
bẻ gãy, mặt gãy không phẳng. Vị hơi đắng [12].
♦ Salvia przewalskii Maxim., Đan sâm cam túc: Dược liệu có hình
dùi tròn, trên to dưới nhỏ dài 10-20cm, đường kính 1-4cm. Mặt ngoài màu

về máu cho phụ nữ trước và sau đẻ, như kinh nguyệt không đều, rong kinh,
đau bụng, tử cung xuất huyết, ngoài ra chữa đau khớp xương, phong tê, ung
nhọt sưng đau, ghẻ lở và là thuốc bổ máu [2,6,9].

Yêu cầu kiểm nghiệm:
Hình dạng bên ngoài: Rễ hình trụ, dài 10-25cm, đường kính 0,8l,5cm, đầu trên phình to. Mặt ngoài màu đỏ nâu hay đỏ gạch bẩn, có nhiều
nếp nhăn dọc, lộn xộn và còn vết tích của rễ con. Mặt cắt ngang có tầng
sinh libe-gỗ mảnh, ngoằn ngoèo, vùng gỗ rộng chiếm gần 2/3 bán kính, bó
gỗ màu trắng ngà sắp xếp theo tia toả ra. Vị hơi ngọt, sau đắng chát.
Vi phẫu: Lớp bần gồm nhiều tầng tế bào có thành dày bị bẹp. Mô
mềm vỏ dầy cấu tạo bởi tế bào hình tròn hay hình bầu dục, thành mỏng,
xếp đều đặn theo hướng tiếp tuyến. Libe cấp hai gồm những tế bào nhỏ,
thành mỏng, xếp đều đặn và liên tục thành vòng tròn, tí

17

b


những chỗ tương ứng với các nhánh gỗ. Tầng sinh libe-gỗ. Gỗ cấp hai từ
tâm điểm chạy ra chia thành nhiều nhánh. Mạch gỗ nằm trong mô mềm có
màng dầy hoá gỗ. Tia ruột rộng, mỗi tia gồm 6-35 dãy tê bào có thành
mỏng xếp theo hướng xuyên tâm từ gần trung tâm xuyên qua gỗ đến libe
cấp 2 [3],
Bột: Có màu đỏ nâu, mùi thơm, vị ngọt, sau đắng chát. Soi kính hiển
vi thấy: mảnh bần gồm tế bào màu đỏ nâu, hình nhiều cạnh, thành dầy. Tê
bào mô mềm hình gần tròn, thành mỏng. Mảnh mạch điểm rộng 20-50 |Lim.
Sợi dài, thành dầy [3] .

Kết quả kiểm nghiệm:

19


20


2.4. Sâm eau

Dược liệu là rễ của cây Sâm Cau (Curculigo orchioides Gaertn.), họ
Sâm cau (Hypoxvdaceae) [2,6,9].

Cây Sâm cau còn có tên khác là Tiêm mao, Ngải cau, Sâm đỏ, Soạng
cà (Tày), Nam sáng ton (Dao), Cồ nốc lan [6,9].
Sâm cau mọc phổ biến ở nhiều tỉnh miền Bắc nước ta,còn thấy mọc
ở Campuchia, Ân độ, Malayxia, Thái lan, Trung Quốc,Philippin

[6].

Một số cây khác cũng có tên là Sâm cau:
♦ Sâm cau lá lớn: Curculigo capitulata Lour, Hypoxidaceae [2].
♦ Sâm cau lá rộng hay còn gọi Cồ nốc lá lứn Curculigo latifolia
Dryand. ex Ait.f.) Hypoxidaceae [2].
♦ Sâm mây, Sâm cau, Huệ đá: Peliosanthes teta Andrews, họ Hoàng
tinh ịConvallariaceae). Cây mọc ở sườn núi, chân núi đá nhiều nơi thuộc
miền Bắc Việt Nam [2] .
Rễ Sâm cau chứa nhựa, tanin, nhiều calci [9].
Công dụng của Sâm cau dùng chữa nam giới tinh lạnh, liệt dương,
phụ nữ đái đục, bạch đới, người già suy nhược phong thấp, vận động khó
khăn [2].
Kết quả nghiên cứu:


22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status