Tội hủy hoại rừng trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG VĂN VÂN

TỘI HỦY HOẠI RỪNG
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG VĂN VÂN

TỘI HỦY HOẠI RỪNG
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS TRẦN VĂN LUYỆN

HÀ NỘI - 2015


1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định tội hủy hoại rừng trong luật hình sự ................ 13
1.2.
Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của quy phạm pháp
luật về quản lý và bảo vệ rừng............................................................... 16
1.2.1. Giai đoạn sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành
BLHS năm 1985 ...................................................................................... 16
1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1985 đến trước khi ban hành
BLHS năm 1999 ...................................................................................... 18
1.2.3. Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1999 đến nay ................................ 20
1.3.
Phân biệt tội hủy hoại rừng với một số tội phạm khác......................... 22
1.3.1. Phân biệt tội hủy hoại rừng với tội vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng theo quy định tại Điều 175 BLHS ............................. 22
1.3.2. Phân biệt tội hủy hoại rừng với tội vi phạm các quy định về quản lý
rừng theo quy định tại Điều 176 BLHS .................................................... 27
1.4.
Nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với pháp luật
một số nước quy định về tội hủy hoại rừng .......................................... 28
1.4.1. Nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với pháp luật hình
sự Liên Bang Nga .................................................................................... 28
1.4.2. Nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với pháp luật hình
sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ................................................... 30
Kết luận Chương 1 .............................................................................................. 32
Chương 2: TỘI HỦY HOẠI RỪNG TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM
1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG ......................................................... 34


2.1.

Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng và đường lối xử lý hình sự đối với tội

rừng, bảo về rừng và quản lý lâm sản ....................................................... 97
3.3.
Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về tội hủy
hoại rừng ................................................................................................ 98
Kết luận Chương 3 ............................................................................................ 104
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 107
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 111


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS:

Bộ luật hình sự

TTLT:

Thông tư liên tịch


DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ, BIỂU ĐỒ

Số hiệu bảng,
biểu đồ

Tên bảng, biểu đồ

Trang


giới, có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, giữ cân bằng sinh
thái, môi trường, ổn định khí hậu toàn cầu, góp phần ngăn chặn, hạn chế hậu quả
khốc liệt do thiên tai gây ra. Mặc dù rừng có vị trí vai trò quan trọng như vậy nhưng
hiện nay tình trạng chặt, đốt phá, hủy hoại rừng đã, đang và diễn biến ngày càng
phức tạp, gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng, tiềm ẩn những nguy cơ làm suy
vong hệ sinh thái trong hiện tại cũng như trong tương lai, làm mất cân bằng sinh
thái, đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến môi trường sống của con người, vấn đề phát
triển kinh tế, xã hội trên toàn thế giới, từng khu vực nói chung và từng quốc gia
trong đó có Việt Nam.
Ở Việt Nam, nếu như trước đây với 3/4 diện tích là rừng thì hiện nay đã suy
giảm nhiều, riêng địa bàn tỉnh Đắk Lắk là tỉnh có diện tích rừng lớn nhất cả nước,
nhưng hiện nay tình trạng chặt phá, đốt rừng, hủy hoại rừng vẫn diễn biến phức tạp,
trong giai đoạn 2009 - 2014 trên địa bản tỉnh đã phát hiện 173 vụ vi phạm luật bảo
vệ và phát triển rừng [37] trong đó số vụ án đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử theo thống kê của Văn phòng - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk là 49 vụ, diện tích rừng bị lấn chiếm trái phép theo thống kê của Cục kiểm lâm
tỉnh khoảng 12.000 ha [37]. Trên thực tế, những hành vi hủy hoại rừng vẫn diễn ra
và ngày càng gia tăng, với những hậu quả ngày càng nghiêm trọng, tình hình hủy
hoại rừng vẫn còn tiếp diễn ở nhiều nơi, trên địa bàn tỉnh vẫn còn tồn tại một số
“điểm nóng” về hủy hoại rừng như: Vùng biên giới, các huyện Ea Súp, Ea H’Leo,

1


Krông Bông, M’đrắk, Buôn Đôn. Việc điều tra, thống kê phân loại các đối tượng
hủy hoại rừng đã được thực hiện nhưng chưa xử lý, giải quyết triệt để, tình trạng
đốt, chặt phá rừng, khai thác rừng trái phép diễn biến phức tạp mặc dù cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền đã có sự kiểm tra, giám sát, thực hiện các biện pháp ngăn chặn,
đấu tranh cũng như các quy định các biện pháp từ xử phạt vi phạm hành chính đến
truy cứu trách nhiệm hình sự. Kết quả thực hiện Chỉ thị số 08/2006/CT-TTg ngày

trong việc áp dụng pháp luật về tội hủy hoại rừng, nhưng nghiên cứu ở góc độ
phòng ngừa tội phạm hoặc tội phạm học, không nghiên cứu áp dụng ở địa bàn tỉnh
Đắk Lắk. Cho đến nay, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk chưa có công trình nghiên cứu về
đề tài tội hủy hoại rừng. Do vậy, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu cụ thể, đầy đủ, rõ
ràng, để có luận cứ khoa học cho việc đưa ra những kiến nghị, các giải pháp nhằm
hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp góp phần đấu tranh, phòng chống, ngăn
ngừa, xử lý có hiệu quả tội phạm hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Vì vậy,
tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu về tội hủy hoại rừng trong luật hình sự Việt Nam
trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:Những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về tội
hủy hoại rừng trong luật hình sự Việt Nam, trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh
Đắk Lắk.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Các quy định của BLHS năm 1999 và thực tiễn áp dụng pháp luật về tội hủy
hoại rừng, trên cơ sở số liệu thực tiễn về tội hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
trong giai đoạn 2009 - 2014.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích của đề tài: Tập trung làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý và các
quy định của pháp luật liên quan đến tội hủy hoại rừng. Trên cơ sở nghiên cứu thực
tiễn áp dụng pháp luật hình sự xuất phát từ thực trạng, số liệu thực tiễn xét xử về tội
hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, làm sáng tỏ các vấn đề về định tội danh, quyết
định hình phạt khi xét xử tội hủy hoại rừng để tìm ra những hạn chế, thiếu sót và giải
pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tội hủy hoại rừng và pháp luật chuyên
ngành liên quan, nâng cao hiệu quả, chất lượng xét xử của Tòa án cũng như góp phần
trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

3



4


chứng minh v.v. Các phương pháp nghiên cứu nêu trên được sử dụng một cách đan
xen, linh hoạt để tạo ra kết quả nghiên cứu của đề tài.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận
văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội hủy hoại rừng trong luật hình sự
Việt Nam.
Chương 2: Tội hủy hoại rừng trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 và
thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng các quy định của luật hình sự Việt Nam về tội hủy hoại rừng.

5


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Nhận thức chung về tội phạm hủy hoại rừng
1.1.1. Khái niệm tội phạm hủy hoại rừng
Trong lịch sử phát triển của đất nước, ý thức về bảo vệ tài nguyên rừng được
chú ý và quan tâm trong nửa cuối thế kỷ XX, khi hậu quả của việc tàn phá rừng ảnh
hưởng nghiêm trọng đến tự nhiên, xã hội và con người, đặc biệt phải kể đến thiên
tai hiện hữu như: Ô nhiễm đất, nước và không khí, lũ lụt, nạn sa mạc hóa, hiệu ứng
nhà kính v.v. Nguyên nhân chủ yếu là do rừng bị suy giảm, để đấu tranh có hiệu quả
với những hành vi hủy hoại rưng, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp tích

tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, nghiêm cấm mọi hành động làm suy
kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường (Điều 29). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi năm 2013 xác định: Mọi người có quyền được sống
trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 43); Nhà nước
có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài
nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống
thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo
vệ môi trường và rừng, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo; tổ
chức, các nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và làm
suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi
thường thiệt hại(Điều 63) [22], từ những quy định nêu trên có thể thấy, Nhà nước ta
đã nhận thức một cách sâu sắc về tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng.
Chính sách hình sự của Việt Nam hiện hành quy định tội hủy hoại rừng tại
Điều 189 của Chương XVII, của chương các tội phạm về môi trường, đây là một
bước đột phá quan trọng khi xây dựng một chương riêng trong BLHS năm 1999 cho
các tội phạm về môi trường,thể hiện quyết tâm đấu tranh với loại tội phạm này
thông qua việc quy định hình phạt hết sức nghiêm khắc với mức hình phạt cao nhất
lên đến 15 năm tù.
Hành vi cấu thành tội phạm quy định tại Điều 189 của Chương XVII của
BLHS là những hành vi xâm hại tài nguyên rừng, có tính nguy hiểm cho xã hội

7


cao,những hành vi có tính nguy hiểm xã hội thấp hơn, chưa đến mức phải truy cứu
trách nhiệm hình sự sẽ được xử lý bằng các biện pháp khác như áp dụng trách
nhiệm hành chính. Với diễn biến phức tạp của đời sống xã hội và tình hình tội phạm
hủy hoại rừng, những hành vi xâm hại tài nguyên rừng sẽ được nghiên cứu thường
xuyên góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự.
Từ những phân tích nhận định trên, thiết nghĩ cần phải có nhận thức chung

nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do BLHS quy định đối với người phạm
tội. Việc áp dụng trách nhiệm hình sự chính xác đối với người phạm tội có mục
đích rất quan trọng, mang tính chất nhằm từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới thủ
tiêu tình trạng phạm tội và những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm. Trách nhiệm
hình sự là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kỳ dạng trách
nhiệm pháp lý nào khác, phản ánh thái độ của Nhà nước đối với người thực hiện tội
phạm bằng việc quy định các biện pháp cưỡng chế về hình sự để áp dụng đối với
người thực hiện tội phạm, là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, trách
nhiệm hình sự chỉ phát sinh (xuất hiện) khi có sự việc phạm tội, không có việc thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị BLHS quy định là tội phạm thì không thể có
trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện trong phạm vi của
quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và
nghĩa vụ nhất định, một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội [34], người
thực hiện tội phạm hủy hoại rừng chính là người thực hiện những hành vi hủy hoại
rừng, xâm phạm tài nguyên rừng làm mất hoàn toàn hoặc làm giảm đáng kể giá trị
rừng sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Một khi đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự
cũng cần cân nhắc và đảm bảo hai khía cạnh là điều kiện cần và đủ để buộc một
người thực hiện tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự khi người đó phạm vào một
tội được quy định trong luật hình sự, đó là về năng lực trách nhiệm hình sự của chủ
thể thực hiện tội phạm và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Dưới góc độ lập pháp, tuổi chịu trách nhiệm hình sự không được ghi nhận
chính thức như là một đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của tội phạm trong Điều 8 BLHS,
nhưng dấu hiệu này lại rất quan trọng, không thể thiếu trong yếu tố chủ thể của tội
phạm bên cạnh dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự [34].

9


Trên cơ sở cân nhắc sự phát triển về thể chất, khả năng nhận thức và các yếu
tố tâm, sinh lý, độ tuổi, cũng như xuất phát từ yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng


nguy hiểm của hành vi hủy hoại rừng nhưng vẫn thực hiện, do đó trong thực tiễn
những vụ án hủy hoại rừng đều có nguyên nhân chủ quan xuất phát từ bản thân
người phạm tội.
Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự được hiểu ngược lại là
một người ở thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội ở trong trạng thái
hoàn toàn không nhận thức hoặc không điều khiển được hành vi của mình do mắc
bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần của họ, trên cơ sở
này Điều 13 BLHS hiện hành quy định:
1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi đang mắc bệnh tâm
thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển
hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải
áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự; nhưng đã lâm
vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp
dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu
trách nhiệm hình sự.
Nội dung điều luật phản ánh việc một người thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội, trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu
trách nhiệm hình sự; đối với người này phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
và nguyên nhân trực tiếp của tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là do
mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần của họ,
trên thực tiễn loại tội phạm hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk chưa có hành vi
phạm tội nào mà người phạm tội rơi vào trường hợp không có năng lực trách nhiệm
hình sự khi phạm tội.
Người phạm tội có thể thực hiện các hành vi hủy hoại rừng gồm: đốt, phá
rừng trái phép hoặc có các hành vi khác hủy hoại rừng; việc liệt kê cụ thể các hành
vi khách quan như vậy giúp dễ dàng nhận thấy hành vi nào là phạm vào tội hủy hoại
rừng, hành vi nào không là tội phạm theo quy định của điều luật này, phân biệt với

hiệu là điều kiện cần thiết để quyết định việc hành vi hủy hoại rừng của một chủ thể
có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không đó là tình tiết “đã bị xử phạt hành
chính về hành vi này mà còn vi phạm”. Về tình tiết này tuy không là dấu hiệu bắt
buộc nhưng là dấu hiệu cần và đủ để làm cơ sở phân hóa vai trò, mức độ, hậu quả
do hành vi hủy hoại rừng gây ra, hành vi có thể không gây hậu quả nghiêm trọng
nhưng chủ thể thực hiện hành vi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Tình tiết này
được hướng dẫn tại mục 6 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm
2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số
quy định của Bộ luật hình sự.

12


Mục 6 Nghị quyết 01 quy định: “Đối với các tội mà điều luật có quy định
tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” đã được hướng
dẫn tại các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền thì thực hiện
theo đúng hướng dẫn của các văn bản đó” [30].
Như vậy, trong trường hợp bị xử phạt hành chính quy định tại khoản 1 Điều
189 BLHS, đã được hướng dẫn cụ thể tại mục 1 phần I của TTLT số 19, xác định
một người bị coi là đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm tức là
trước đó đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê tại
khoản 1 Điều 189 BLHS là những hành vi đốt, phá rừng trái pháp luật hoặc có hành
vi khác gây hậu quả là thiệt hại thực tế đối với tài nguyên rừng, đã bị ra quyết định
xử phạt vi phạm hành chính, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt
hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại thực
hiện một trong các hành vi được quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đó.
1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định tội hủy hoại rừng trong luật hình sự
Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc
biệt đối với sự sống của loài người, rừng có vai trò cân bằng hệ sinh thái, ổn định
và điều hòa khí hậu, điều tiết nước giúp sự sống trên trái đất được duy trì bền

của tình trạng này chính là từ sự hủy hoại môi trường nói chung và sự hủy hoại
rừng nói riêng, xuất phát từ sự suy giảm diện tích, giảm sự đa dạng sinh quyển, sự
ảnh hưởng tới không khí, nguồn nước, đất v.v. tất yếu dẫn tới những tác hại xấu
tới đời sống con người.
Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk hiện nay tình trạng đốt, phá rừng còn diễn biến
phức tạp, phổ biến diễn ra ở các huyện có rừng, làm suy giảm diện tích rừng, mất đi
sự đa dạng cả về số lượng, số loài thực vật, bên cạnh đó là sự gia tăng các thiên tai
như hạn hán kéo dài, sụt lở đất, lũ ống v.v. gây thiệt hại về người và tài sản.
Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, cần có sự trừng trị
nghiêm minh theo quy định của pháp luật đối với những tội phạm môi trường nói
chung và tội phạm hủy hoại rừng nói riêng, cũng chính vì nguyên do như trên mà
chính sách hình sự của nước ta đã hình sự hóa hành vi hủy hoại rừng quy định tại
Điều 189 chương XVII của BLHS. Việc quy định tội phạm này có ý nghĩa rất to lớn
đối với việc duy trì và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng trên cả nước nói chung và trên
địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng, là căn cứ để xử lý, trừng trị nghiêm minh những kẻ

14


hủy hoại rừng, cũng là hồi chuông cảnh tỉnh đối với những kẻ vi phạm rằng mọi
hành vi hủy hoại rừng sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật và bị xử lý bằng chế
tài nặng nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam là chế tài hình sự, chính vì lẽ đó,
nó cũng mang ý nghĩa giáo dục, tuyên truyền, ngăn ngừa các hành vi vi phạm góp
phần vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm môi trường trong đó có hành
vi hủy hoại rừng nói riêng.
Trước thực trạng tài nguyên rừng đã và đang bị tàn phá nghiêm trọng như đã
nêu trên và để bảo vệ nguồn tài nguyên rừng tránh khỏi sự tàn phá bởi hành vi trái
pháp luật của con người, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp, nhiều nhà
nghiên cứu khoa học cũng đã chú tâm nghiên cứu vấn đề này, với mục đích tìm ra
những giải pháp hữu hiệu để bảo vệ tài nguyên rừng. Song thực tiễn cho thấy, tuy

về quản lý và bảo vệ rừng
1.2.1. Giai đoạn sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban
hành BLHS năm 1985
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa được thành lập vào ngày 02 tháng 9 năm 1945. Nước ta lúc bấy giờ chưa có BLHS
nhưng Nhà nước cũng đã quan tâm đến việc đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm,
nhằm ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ thành quả
cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.
Do hoàn cảnh lịch sử, nên nhiệm vụ trọng tâm lúc bấy giờ tập trung vào việc
củng cố chính quyền cách mạng còn non trẻ vừa mới được thành lập, nên việc đấu
tranh phòng, chống các loại tội phạm tuy được Nhà nước quan tâm, nhưng chủ yếu
ở các loại tội phạm xâm hại về an ninh chính trị và các loại tội đặc biệt nghiêm
trọng khác như: Giết người, cướp của, hiếp dâm v.v.
Vào thời điểm đó, tài nguyên rừng của nước ta rất phong phú, diện tích rừng
tự nhiên khoảng 14.300.000 ha, độ che phủ đạt 43%, nhu cầu sử dụng tài nguyên
rừng phục vụ trong sinh hoạt đời sống của nhân dân tuy có nhưng không đáng kể so
với những năm sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, mà đặc biệt là sau đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) thời kỳ xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường [11].
Các quy định của pháp luật hình sự về bảo vệ tài nguyên rừng giai đoạn từ
năm 1945 đến năm 1954 chủ yếu được quy định trong các sắc luật, cụ thể [11]:

16


Sắc lệnh số 26/SL ngày 25 tháng 02 năm 1946 về các tội phá hoại công sản;
Sắc lệnh số 247/SL ngày 15 tháng 6 năm 1946 về âm mưu và hành động phá
hoại tài sản của Nhà nước, hợp tác xã và của nhân dân làm cản trở việc thực hiện
chính sách, kế hoạch Nhà nước;
Thông tư số 1303 BCN/VN ngày 28 tháng 6 năm 1946 của liên Bộ Nội vụ Bộ Canh nông, quy định điều chỉnh những hành vi xâm hại đến rừng; tại Thông tư

Nghị định số 220/CP ngày 28 tháng 12 năm 1961 của Chính phủ quy định về
quản lý của Nhà nước đối với công tác phòng cháy chữa cháy;
Pháp lệnh số 17/LCT ngày 05 tháng 4 năm 1963 quy định về phòng cháy
chữa cháy;
Pháp lệnh (không số) ngày 23 tháng 3 năm 1966 quy định về phòng cháy
chữa cháy;
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21 tháng
10 năm 1970;
Pháp lệnh (không số) ngày 06 tháng 9 năm 1972 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định việc bảo vệ rừng, nêu rõ: “Rừng là một bộ phận của môi trường
sống, là tài sản quý báu của nước ta, có giá trị lớn đối với nền kinh tế quốc dân và
văn hoá công cộng, việc bảo vệ rừng phải do Nhà nước và toàn dân cùng làm”.
Nghị định số 155/CP ngày 03 tháng 10 năm 1973 của Hội đồng Chính phủ
về việc thi hành pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng.
Do hoàn cảnh và điều kiện lịch sử nước ta vừa giải phóng, nhiệm vụ trọng
tâm trong thời kỳ này chủ yếu tập trung cho việc tái thiết đất nước và củng cố chính
quyền cách mạng, nên chưa kịp thời xây dựng BLHS với đúng nghĩa của nó và
cũng chưa có các văn bản pháp luật cụ thể để xử lý các tội phạm xâm hại đến tài
nguyên rừng, pháp luật thời kỳ này vẫn duy trì các quy định của pháp luật trước đây
đồng thời áp dụng tiền lệ pháp để xử lý hành vi phạm tội nói chung, các hành vi
phạm tội trong lĩnh vực tài nguyên rừng nói riêng.
1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1985 đến trước khi ban hành
BLHS năm 1999
Đến năm 1985, nền kinh tế nước ta đã có sự phát triển nhất định, nhu cầu của
xã hội về sử dụng tài nguyên rừng đã tăng lên đáng kể, dẫn đến việc khai thác rừng
tràn lan không kiểm soát được, không những làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên
nhiên của đất nước mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái.

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status