Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chỉ tiêu dân số đến chất lượng cuộc sống của người dân một số thuộc huyện chợ mới tỉnh bắc kạn - Pdf 31

Khúa lun tt nghip

1

Nguyn Th Võn Anh

trường đại học sư phạm hà nội 2
khoa sinh - ktnn
************

Nguyễn thị vân anh

NGHiên cứu ảnh hưởng
của một số chỉ tiêu dân số đến
chất lượng cuộc sống của người
dân một số xã thuộc huyện chợ
mới tỉnh bắc kạn

khoá luận tốt nghiệp ĐạI HọC
Chuyên ngành: Sinh lý người và động vật

Người hướng dẫn khoa học
ThS Nguyễn xuân thành

Hà Nội - 2008


Khóa luận tốt nghiệp

2


Tôi xin cảm ơn các cơ quan ở địa phương đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi
hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.

Hà Nội, tháng 05 năm 2008
Sinh viên

Nguyễn Thị Vân Anh


Khóa luận tốt nghiệp

4

Nguyễn Thị Vân Anh

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
- FAO: Tổ chức nông lương quốc tế (Food and Agricultural
Organization).
- UNESCO: Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp
quốc.
(United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization)
- AFPPD: Diễn đàn nghị sĩ Châu Á về dân số và phát triển.
- DV - KHHGĐ: Dịch vụ - kế hoạch hóa gia đình.
- DS - DV - KHHGĐ: Dân số - Dịch vụ - kế hoạch hóa gia đình.
- DS – KHHGĐ: Dân số - kế hoạch hóa gia đình.
- BVCS&GDTE: Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.
- DS - GĐ&TE: Dân số - gia đình và trẻ em.
- UBDS - GĐ&TE: Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em.
- HĐND: Hội đồng nhân dân.
- UBND: Uỷ ban nhân dân.

6. Do tỉ lệ gia tăng dân số giảm và kết hợp với chính sách kinh tế xã hội
của huyện và xã nên trong thời gian qua kinh tế - xã hội của huyện và xã có
những chuyển biến tích cực, chất lượng đời sống của người dân ngày càng
được nâng cao.
Từ những kết luận trên, tôi đưa ra một số đề nghị sau:
1. Cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong
kế hoạch, chỉ đạo cơ sở. Tăng cường hơn nữa sự phối kết hợp có hiệu quả của
các ban ngành, đoàn thể trong công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em.


Khóa luận tốt nghiệp

6

Nguyễn Thị Vân Anh

2. Có sự đầu tư thỏa đáng cho chương trình DS-KHHGĐ và có chính
sách thỏa đáng cho cán bộ làm công tác này.
3. Đào tạo đội ngũ cán bộ DS ở cơ sở có trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, có khả năng điều phối và quản lý các chương trình dân số ở địa phương.
4. Tăng cường hơn nữa việc tuyên truyền DS-KHHGĐ với người dân,
đưa nội dung giáo dục dân số vào trường học.

Phần 1. MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Hiện nay, một trong những mối quan tâm mang tính sức ép lớn nhất
của thế giới hiện đại – cả về kinh tế, môi trường và các bệnh tật hiểm nghèo –
là sự bùng nổ dân số toàn cầu. Sự tăng trưởng nhanh dân số thế giới trong thế
kỷ qua tạo ra một bức tranh tăng trưởng dân số quy mô lớn, không bền vững
gắn với các cuộc khủng hoảng lương thực, đói nghèo và bệnh tật.

hụt dân số trong độ tuổi lao động.
Từ rất sớm, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được tầm quan trọng
của vấn đề dân số. Cho đến nay Việt Nam đã đề ra hai chiến lược phát triển
dân số, đó là “chiến lược DS - KHHGĐ đến năm 2000” được ban hành tại
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 4 khóa
VII tháng 1 năm 1993 và “Chiến lược dân số Việt Nam 2001-2010”.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1 tháng 4 năm 1999, dân số
Việt Nam là 76,3 triệu người, tăng 11,9 triệu so với năm 1989. Tỷ lệ tăng dân
số bình quân hàng năm thời kỳ 1989-1999 là 1,7%, giảm 0,5% so với thời kỳ
1979-1989; số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã giảm
nhanh, từ 3,8 con năm 1989 xuống còn khoảng 2,3 con năm 1999 và đến
2007 là 2,09 con.
Những con số này khẳng định kết quả giảm nhanh mức sinh trong thập
kỷ qua. Mặc dù mức sinh giảm nhanh, nhưng quy mô dân số Việt Nam vẫn


Khóa luận tốt nghiệp

8

Nguyễn Thị Vân Anh

ngày một lớn do số dân tăng thêm trung bình mỗi năm còn ở mức cao, bình
quân vẫn ở mức trên 1 triệu người/năm. Vấn đề dân số, bao gồm cả quy mô,
cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư, là những thách thức lớn đối với
sự phát triển bền vững đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân
cả hiện tại và trong tương lai.
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam ở thập kỉ đầu của thế kỷ 21,
khi mức sinh tiến gần mức thay thế, muốn duy trì được xu thế giảm sinh vững
chắc, thì không thể chỉ tập trung giải quyết vấn đề quy mô dân số như trong

 Sự ảnh hưởng của một số chỉ tiêu dân số đến chất lượng cuộc sống của
người dân trong địa bàn huyện Chợ Mới.
 Nghiên cứu phát triển dân số của thị trấn Chợ Mới và xã Quảng Chu
huyện Chợ Mới trong 5 năm (2003 - 2007).
 Những vấn đề còn tồn tại, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Việc nghiên cứu ảnh hưởng của một số chỉ tiêu dân số đến chất lượng
cuộc sống của người dân trong địa bàn huyện Chợ Mới sẽ làm cơ sở để có
những giải pháp hữu hiệu nhằm đưa nền kinh tế của huyện đi lên, bởi vì các
chỉ tiêu dân số là những thông số phản ánh thiết thực nhất chất lượng cuộc
sống của nhân dân cũng như hiện trạng của nền kinh tế.


Khóa luận tốt nghiệp

10

Nguyễn Thị Vân Anh

Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Vai trò của dân số và sự cần thiết phải nghiên cứu
Yếu tố cơ bản của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội là nguồn
nhân lực, mà nguồn nhân lực luôn luôn gắn liền sự biến đổi dân số cả về số
lượng và chất lượng. Mục tiêu của sự phát triển suy cho cùng là nhằm nâng
cao chất lượng cuộc sống và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người.
Mục tiêu đó chỉ có thể đạt được khi quy mô dân số, tốc độ tăng trưởng dân số,
sự phân bố dân cư và nguồn nhân lực thật sự phù hợp và tác động tích cực
đến sự phát triển.
Ðể có sự phát triển bền vững, việc đáp ứng tăng nhu cầu và nâng cao
chất lượng cuộc sống của các thế hệ hiện tại không được ảnh hưởng các thế

gia tăng quá nhanh lại là trở lực cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống nó
tác động tiêu cực đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, chính trị, giáo
dục, văn hóa, môi trường,…
2.1. Về kinh tế - xã hội
Báo động đầu tiên về mức mất cân đối giữa sự tăng trưởng dân số và
nguồn lương thực của con người được đưa ra bởi nhà kinh tế học người Anh
đó là Thomats Robert Malthus. Dân số khi không được kiểm soát sẽ tăng theo
cấp số nhân còn nguồn sống cho con người lại tăng theo cấp số cộng do đó


Khóa luận tốt nghiệp

12

Nguyễn Thị Vân Anh

dịch bệnh, nạn đói, chiến tranh, đói học, đói việc làm gây sức ép về kinh tế xã
hội.
2.1.1.Ảnh hưởng của sự bùng nổ dân số đối với vấn đề cung cấp
lương thực thực phẩm
An ninh lương thực luôn là vấn đề được cả cộng đồng thế giới quan
tâm, đặc biệt trong tình trạng hiện nay sự gia tăng dân số quá nhanh trong khi
việc tạo ra lương thực thực phẩm không tăng hoặc tăng không đang kể so với
tốc độ gia tăng dân số dẫn đến hậu quả là nạn đói không ngừng xảy ra cụ thể:
số người chết đói trên thế giới tăng từ khoảng 460 triệu (1970) lên khoảng
550 triệu (1990), 600 – 650 triệu người(2000). Trong đó có khoảng 60% số
người chết đói là ở những nước đang phát triển, 25% là ở Châu phi, 10% ở
Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê. Theo tính toán của FAO và UNESCO thì
có tới 65 nước Á – Phi đang phát triển, nếu cứ duy trì nhịp độ canh tác như
hiện nay thì lương thực cũng chỉ đủ cung cấp cho hơn 1/2 số dân đang sống ở

khăn.Ở Việt Nam có khoảng 15% trẻ em chưa được đến trường.
2.1.3. Sức ép của dân số đối với việc bố trí công ăn việc làm
Các quá trình biến động dân số có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển
nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng, đi kèm theo đó là vấn đề việc
làm. Nhưng mối quan hệ giữa dân số với nguồn lao động và việc làm cần
được xem xét từ nhiều phương diện khác nhau. Sự tái sản xuất dân số là
nguồn cung cấp lực lượng lao động duy nhất cho xã hội, nhưng đảm bảo việc
làm cho lực lượng lao động lại hết sức khó khăn trong điều kiện dân số tăng
nhanh, nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà nước và xã hội.
Khi dân số có sự gia tăng thì nguồn lao động trở nên “quá dồi dào” lại
gây ra sức ép lớn đối với việc bố trí công ăn việc làm, đặc biệt đối với các
nước đang phát triển ở Châu Á - Phi - Mỹ La Tinh có từ 1/4 đến 1/3 số lao
động không có việc làm thường xuyên, nhiều nước tỷ lệ này là 70%. Theo tổ
chức lao động quốc tế, năm 1980 có gần 1/3 lực lượng lao động trên thế giới
thất nghiệp hoặc bán thất nghiệp. Còn hiện nay thế giới có ít nhất 15% lực
lượng lao động thất nghiệp thực sự [6].


Khóa luận tốt nghiệp

14

Nguyễn Thị Vân Anh

Dân số Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn “tuổi vàng” vì lực
lượng lao động rất dồi dào và đông đảo, tỷ trọng nhóm tuổi từ 15 – 59 là lứa
tuổi có thể lao động được chiếm 59%. Đây đồng thời lại là vấn đề khó khăn
do nhu cầu việc làm tăng cao và nạn thất nghiệp diễn ra [2]. Mặc dù tỷ lệ thất
nghiệp ở thành thị đã giảm từ 8 – 9% vào đầu những năm 90 xuống còn 5, 6%
(2004) nhưng vẫn còn ở mức cao. Đặc biệt ở nông thôn nạn thiếu việc làm

mỏ. Nhiều loại khoáng sản như: Ag, Zn, Pb,… cũng chỉ khai thác được 20 –
30 năm nữa [5].
Thổ nhưỡng, thế giới động thực vật tuy là tài nguyên tái tạo được
nhưng cũng bị nghèo kiệt và suy giảm nhanh chóng. Cứ theo đà phá rừng như
hiện nay thì 60 – 80 năm nữa toàn bộ thế giới sẽ biến thành đồi trọc. Diện tích
rừng suy giảm làm nhiều loài động thực vật quý hiếm bị diệt vong. Từ năm
1600 đến nay có hơn 700 loài động – thực vật đã bị tuyệt chủng, có nhiều loài
bị tuyệt chủng trước khi phát hiện ra. Sự giảm tính đa dạng sinh học là một
trong những nguyên nhân làm mất cân bằng sinh thái. Mất rừng còn dẫn đến
các hiện tượng hạn hán, lũ lụt, đất đai bị suy thoái.
Tài nguyên nước hiện nay khá dồi dào ước tính khoảng 1386 triệu km3
nhưng lượng nước ngọt được dùng chỉ chiếm 0,8%. Do phá rừng bừa bãi làm
mất nguồn nước ngầm, do các chất thải công nghiệp, nông nghiệp, chất thải
sinh hoạt nên nhiều nơi lâm vào tình trạng thiếu nước và nhiều nơi nước bị ô
nhiễm không sử dụng được [7].
2.2.2. Môi trường suy thoái
Trong những năm 60 và đầu những năm 70, người ta nhận thấy rằng
thế giới sẽ gặp phải các vấn đề nghiêm trọng nếu hệ sinh thái của hành tinh
không được quan tâm đúng mức. Chất lượng không khí ở những khu vực
đông dân trên toàn cầu đã bị phá huỷ đến mức báo động. Rất nhiều dòng sông
trên thế giới đã bị ô nhiễm gây ảnh hưởng đến đời sống ở biển. Do đó nguồn
nước trở nên không an toàn để con người có thể sử dụng với các mục đích
khác nhau nữa. Thậm chí nước mưa, nguồn nước thường được coi là trong
sạch nhất đã trở thành nguồn gây độc cho các loại thực vật, ô nhiễm các dòng


Khóa luận tốt nghiệp

16




Khóa luận tốt nghiệp

17

Nguyễn Thị Vân Anh

như vậy, nếu chúng ta tiếp tục đốt các sản phẩm từ các nguyên liệu hoá thạch
(than, các sản phẩm dầu mỏ) với mức độ như hiện nay hoặc cao hơn, mỏm
cực băng có thể tan chảy và dẫn đến ngập lụt trên toàn thế giới.
Kết luận: Chất lượng cuộc sống luôn gắn liền với quy mô dân số. Mục
tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
con người chỉ có thể đạt được khi quy mô dân số, tốc độ tăng trưởng dân số,
sự phân bố dân cư và nguồn nhân lực thật sự phù hợp và tác động tích cực
đến sự phát triển. Dân số phù hợp sự phát triển đòi hỏi sự điều chỉnh các xu
hướng dân số phù hợp với quy luật phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
bền vững đó cũng là nhiệm vụ cấp bách của mọi quốc gia trên toàn thế giới.
Việt Nam, theo tổng cục thống kê, năm 2005 Việt Nam có khoảng
83,1199 triệu người, là nước đông dân thứ 13 trên thế giới. Mật độ dân số lên
tới 252 người/km2 tức là gấp 6 lần mật độ dân số chuẩn quốc tế (trong khi đó
các chuyên gia LHQ tính toán để có cuộc sống thuận lợi, bình quân chỉ nên có
30-40 người/km2). Việt Nam là quốc gia có quy mô dân số rất lớn, mặc dù
vậy dân số vẫn đang tăng nhanh, bình quân vẫn ở mức trên 1 triệu người/
năm, chính vì vậy mà chất lượng dân số vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được
yêu cầu của sự phát triển: Chỉ số phát triển con người của Việt Nam vẫn ở
mức trung bình thấp so với khu vực và trên thế giới. Theo báo cáo phát triển
con người Việt Nam năm 2000, chỉ có 12 tỉnh có trình độ phát triển cao (HDI
từ 0,7 trở lên), có tới 41 tỉnh có trình độ phát triển trung bình (HDI từ 0,6 đến
dưới 0,7), và 8 tỉnh còn lại có trình độ phát triển thấp (HDI dưới 0,6). Tuổi

trong độ tuổi sinh đẻ có chồng là 7400 người. Với diện tích lớn, nhiều loại
hình dân tộc và số đối tượng trong diện vận động sinh đẻ có kế hoạch tương
đối nhiều vì vậy, việc thực hiện chủ trương chính sách dân số của nhà nước là
“mỗi cặp vợ chồng chỉ có từ 1 đến 2 con cách nhau từ 3 đến 5 năm” gặp rất
nhiều khó khăn.
2.3.2. Tình hình thực hiện công tác DS - KHHGĐ trong 5 năm của
huyện Chợ Mới


Khóa luận tốt nghiệp

19

Nguyễn Thị Vân Anh

Từ khi có “Chiến lược dân số Việt Nam 2001 – 2010” và “Chiến lược
quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 – 2010” của chính
phủ, thì “Chiến lược dân số - gia đình và trẻ em tỉnh Bắc Kạn 2001 – 2010”
của ủy ban nhân dân tỉnh được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa chiến lược dân
số Việt Nam phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của tỉnh từ nay đến
năm 2010 và thực hiện mục tiêu công tác dân số mà Nghị quyết đại hội Đảng
bộ tỉnh lần thứ XV đã đề ra.
Đồng thời luôn thường xuyên quan tâm giám sát việc thực hiện Nghị
quyết ở từng địa phương. Các cấp ủy chính quyền, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở
đã coi công tác DS - KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội, là yếu tố cơ bản nâng cao chất lượng cuộc sống của từng
người, từng gia đình và của toàn xã hội.
Công tác DS - KHHGĐ được coi là 1 chỉ tiêu để xếp loại cơ sở Đảng,
đơn vị chính quyền trong sạch, vững mạnh, là tiêu chuẩn để xét gia đình văn
hóa, làng, xã văn hóa và xét thi đua khen thưởng cho tập thể, nhân dân hàng

tình hình và giải quyết những vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện kế
hoạch, đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao .
UBND huyện tiếp tục triển khai công tác tuyên truyền chỉ thị 55/CT –
TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng cơ sở
với công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em, tiếp tục thực hiện chỉ thị của Thủ tướng
Chính phủ về đẩy mạnh các hoạt động văn hóa vui chơi cho trẻ em.
Tập chung chỉ đạo cơ sở tổng kết 10 năm thi hành luật bảo vệ chăm
sóc.
Công tác thông tin giáo dục tuyên truyền về DS - GĐ&TE từ huyện
xuống khu dân cư thường xuyên được tăng cường bằng nhiều hình thức, kết
hợp nhiều loại hình tuyên truyền như báo cáo các chuyên đề, mở hội nghị tọa
đàm, huy động lực lượng học sinh, thanh niên, phụ nữ dùng băng cờ khẩu
hiệu, loa đài, trống ếch đi tuyên truyền cổ động ở những chiến dịch ở những
nơi vùng sâu, vùng xa, những nơi đông người…… kết hợp tuyên truyền vận


Khóa luận tốt nghiệp

21

Nguyễn Thị Vân Anh

động trực tiếp từng người, từng nhà thông qua nhiều tài liệu tranh ảnh, tờ rơi,
sách báo gia đình và xã hội. Ban DS - GĐTE huyện phối hợp với các ban
ngành đoàn thể tổ chức tuyên truyền chiến dịch truyền thông lồng ghép với
DV - KHHGĐ năm 2005.
Huyện tập trung tuyên truyền Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em,
Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Có sự phối hợp hoạt động tuyên truyền
vơi các ngành, đoàn thể, tổ chức Chính trị xã hội.
Phối hợp với Hội phụ nữ huyện chỉ đạo cơ sở xây dựng mô hình tổ phụ

Phối hợp với ngành giáo dục đào tạo tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện
Nghị quyết TW2 (khóa VIII) và đề án 01 của Tỉnh ủy (khóa VII) về công tác
giáo dục trẻ em. Mạng lưới trường lớp từ giáo dục mầm non đến giáo dục phổ
thông các cấp được mở rộng và phát triển.Tiếp tục đưa công tác giáo dục DS GĐ&TE vào trong nhà trường.
Phối hợp chặt chẽ với ngành y tế, đẩy mạnh công tác chăm sóc sức
khỏe sinh sản KHHGĐ đạt hiệu quả thiết thực. Thường xuyên đảm bảo phục
vụ tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh cho trẻ em. Trẻ em dưới 6 tuổi được
khám và chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở y tế Nhà nước. Thực hiện tốt
chương trình tiêm chủng mở rộng phòng 6 bệnh nguy hiểm cho trẻ em nên số
trẻ em mắc bệnh và tử vong giảm. Đã có những nỗ lực trong việc khắc phục
thiếu dinh dưỡng của trẻ em và bà mẹ mang thai.
Phối hợp với ngành tư pháp từ huyện xuống thực hiện tốt việc đăng ký
khai sinh cho trẻ em.
Bên cạnh những việc đã thực hiện tốt thì công tác DS - KHHGĐ vẫn
còn gặp 1 số khó khăn và hạn chế:
- Về sự lãnh đạo: Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính
quyền còn thiếu chặt chẽ và sát sao. Cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của các
cơ quan chức năng trong kế hoạch chỉ đạo cơ sở. Tăng cường hơn nữa sự phối
hợp có hiệu quả của các ban ngành, đoàn thể trong công tác bảo vệ chăm sóc


Khóa luận tốt nghiệp

23

Nguyễn Thị Vân Anh

và giáo dục trẻ em. Nhận thức của một bộ phận dân cư, nhất là đối với các
dân tộc thiểu số trong đó có cả cán bộ đảng viên chưa đầy đủ về chương trình
dân số, chăm sóc và bảo vệ trẻ em. Chính quyền địa phương chưa kiên quyết

2008 và các năm tiếp theo của huyện Chợ Mới – Bắc Kạn
2.2.3.1. Phương hướng
Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và chính quyền huy
động toàn xã hội tham gia công tác dân số và KHHGĐ. Nâng cao trách nhiệm
và tăng cường sự phối hợp của các cấp ngành, đoàn thể nhân dân, đồng thời
huy động các tổ chức xã hội và các thành phần kinh tế tích cực tham gia công
tác này. Tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho mỗi gia đình, mỗi người
dân tự nguyện thực hiện chính sách DS - KHHGĐ.
Tiếp tục đẩy mạnh mở rộng và đổi mới công tác thông tin giáo dục
tuyên truyền về DS - GĐ&TE nhất là pháp lệnh dân số và Nghị định 104/NĐCP của chính phủ mới ban hành. Phổ biến và triển khai sâu rộng đến mọi
người dân trong cộng đồng, nâng cao vai trò và vị trí trách nhiệm của các tổ
chức đoàn thể xã hội, chi bộ, khu dân cư, dòng họ trong việc thực hiện chính
sách DS - KHHGĐ để xây dựng làng xã văn hóa. Từng bước tiến tới xã hội
hóa DS - KHHGĐ.
2.2.3.2. Những giải pháp
* Lãnh đạo tổ chức quản lý
Tăng cường sự chỉ đạo của cấp trên, sự phối kết hợp của các ngành
đoàn thể. Thường xuyên kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện các chương
trình mục tiêu, phân công từng thành viên, từng cộng tác viên phụ trách từng
xã, thôn , xóm, bản làng để lãnh đạo, chỉ đạo sát sao công tác DS - GĐ&TE ở
cơ sở đạt hiệu quả cao. Bố trí cán bộ chuyên trách và cộng tác viên bảo đảm
chất lượng và ổn định, có đủ năng lực chuyên môn để hoàn thành nhiệm vụ.


Khóa luận tốt nghiệp

25

Nguyễn Thị Vân Anh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status