Nghiên cứu đặc điểm sinh học và đề xuất nuôi bảo tồn loài ếch cây sần bắc bộ = THELODERMA CORTICALE - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
MỞ ĐẦU

 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đƣợc đánh giá là một trong 16 quốc gia có tính đa dạng Sinh
học nhất toàn cầu, đặc biệt là sự đa dạng của bò sát, ếch nhái. Trong tổng số
5.250 loài ếch nhái đƣợc biết đến trên thế giới thì Việt Nam có tới 162 loài
[17], trong đó có nhiều loài là loài đặc hữu của Việt Nam.
Ếch cây sần bắc bộ Theloderma corticale là một trong các loài ếch đặc
hữu của Việt Nam. Chúng là loài có giá trị khoa học rất lớn, do vậy đã thu hút
đƣợc sự quan tâm, chú ý và đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều nhà
khoa học trong và ngoài nƣớc. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về loài này
còn rất ít và chƣa đầy đủ.
Ngoài ra, ếch cây sần bắc bộ Theloderma corticale còn là loài có giá trị
kinh tế và thẩm mỹ rất cao. Hiện nay, chúng đang là một mặt hàng “nóng”
trong thị trƣờng động vật cảnh trong và ngoài nƣớc.
Ở Việt Nam, loài này phân bố chủ yếu ở các Vƣờn Quốc gia hoặc các
Khu Bảo tồn thiên nhiên thuộc các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn (Mẫu Sơn),
Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Tuyên Quang (Na Hang) [17], nhƣng với số lƣợng ít.
Trên thực tế, số lƣợng cá thể của loài này cũng nhƣ nhiều loài ếch nhái khác
đang bị suy giảm nhanh chóng do sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy
thoái do các hoạt động của con ngƣời nhƣ việc chặt phá rừng làm nƣơng rẫy,
hay việc khai thác quá mức phục vụ nhu cầu buôn bán…
Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và đề xuất
nuôi bảo tồn loài ếch cây sần bắc bộ Theloderma corticale” để có thể tìm ra
cơ sở khoa học nhân nuôi và bảo tồn loài này. Một mặt, có thể cung cấp một
số lƣợng lớn các cá thể của loài cho các hoạt động nghiên cứu khoa học. Mặt
khác, có thể duy trì và phát triển số lƣợng của loài trong tự nhiên. Đồng thời,


2

K32D- CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử nghiên cứu
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu ếch nhái ở Việt Nam và Tam Đảo
Lịch sử nghiên cứu ếch nhái ở Việt Nam
Ếch nhái ở Việt Nam đƣợc nghiên cứu từ cuối thế kỷ XIX song chủ
yếu do các nhà khoa học nƣớc ngoài tiến hành nhƣ: Tiran (1885), Boulenger
(1903), Smith (1921, 1924, 1932) đáng chú nhất là công trình nghiên cứu ếch
nhái, bò sát ở Đông Dƣơng của Bourret (1934 – 1944) trong đó có nƣớc ta.
Sau hòa bình lặp lại (1954) các nhà nghiên cứu về thành phần loài ếch
nhái đƣợc tăng cƣờng bởi tác giả Việt Nam.
1970 – 1990: có một số công trình nhƣ: “Kết quả điều tra cơ bản động
vật miền Bắc Việt Nam” 1981 (phần ếch nhái và bò sát) của các tác giả: Trần
Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc đã thống kê đƣợc 69 loài ếch nhái.
Trong “Tuyển tập báo cáo kết quả điều tra thống kê động vật Việt Nam”,
1985 của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã thống kê đƣợc 90 loài ếch
nhái. Ngoài ra, các tác giả còn chỉ ra đƣợc sự phân bố của các loài theo sinh
cảnh.
Từ năm 1990 – 2000: đây là giai đoạn nghiên cứu ếch nhái và bò sát ở
Việt Nam đƣợc tăng cƣờng. Đặc biệt, từ những năm 1995 trở lại đây các tác
giả: Nguyễn Văn Sáng, Lê Nguyên Ngật, Ngô Đắc Chứng, Hồ Thu Cúc,
Hoàng Nguyễn Bình, Phạm Văn Hòa, Đinh Thị Phƣơng Anh, Nguyễn Quảng

+ Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nƣớc (1981)
Năm 1995, Lê Nguyên Ngật đƣa ra một số nhận xét về thành phần loài
ếch nhái ở Tam Đảo trong đó thống kê đƣợc 32 loài thuộc 7 họ 3 bộ.
Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc trong Danh lục ếch nhái và
bò sát Việt Nam đã thống kê đƣợc ở Tam Đảo có 61 loài ếch nhái, bò sát
thuộc 17 họ 5 bộ [17].
Gần đây nhất, công trình nghiên cứu của Hồ Thu Cúc, Nikolai Orlov,
Amy Lathrop (2000) trong “Góp phần nghiên cứu khu hệ ếch nhái, bò sát
thuộc Vườn Quốc gia Tam Đảo” đã thống kê đƣợc 56 loài ếch nhái thuộc 8 họ
3 bộ [5].
1.1.2. Một số nghiên cứu chung về sinh học của ếch nhái
Lớp lƣỡng cƣ (Amphibia) hiện có khoảng 5.500 loài thuộc 44 họ và
đƣợc chia ra làm 3 bộ: bộ Lƣỡng cƣ có đuôi (Caudata), bộ Lƣỡng cƣ không

Phạm Thị Nhung

4

K32D- CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

chân (Apoda), bộ Lƣỡng cƣ không đuôi (Anura) và đƣợc gọi chung là ếch
nhái.
Bộ Lƣỡng cƣ không đuôi gồm nhiều loài nhất và phân hóa cao nhất.
Tuy vậy, cấu tạo nói chung của chúng tƣơng đối giống nhau vì liên quan đến
cách chuyển vận nhảy. Hầu hết các loài ếch nhái đều có đặc điểm là thân

Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

quần thể của các loài ếch, ngoài ra còn có các nguyên nhân khác nhƣ ô nhiễm
môi trƣờng, thay đổi khí hậu…[15].
Nhiều nhà khoa học môi trƣờng cho rằng các loài lƣỡng cƣ, trong đó có
ếch là các chỉ thị sinh học xuất sắc đối với sức sống của hệ sinh thái theo diện
tích rộng do vị trí trung gian của chúng trong chuỗi thức ăn, da có khả năng
thấm nƣớc, và cuộc sống hai pha điển hình (giai đoạn ấu trùng sống dƣới
nƣớc, giai đoạn trƣởng thành sống trên cạn). Chúng là loài có trứng, ấu trùng
sống dƣới nƣớc, bị suy giảm số lƣợng lớn nhất, trong khi giai đoạn này là giai
đoạn phát triển trực tiếp chịu nƣớc nhiều nhất.
Các vƣờn thú và các công viên thủy sinh trên toàn thế giới đã đặt tên
cho năm 2008 là “Năm Ếch nhái” nhằm thu hút sự chú ý của công chúng đối
với vấn đề bảo tồn các loài ếch nhái.
1.1.3. Một số nghiên cứu về họ Ếch cây (Rhacophoridae)
Họ Ếch cây (Rhacophoridae) gồm những loài có thân hình dẹp, thân
mảnh và dài, giữa các ngón tay và ngón chân thƣờng có màng da phát triển,
ngón chân có đĩa bám, leo trèo giỏi, chuyên sống trên cây. Có răng hàm và có
đĩa sụn trung gian 2 đốt cuối ngón chân.
Họ Ếch cây có khoảng 186 loài thuộc 10 giống, phân bố rộng rãi ở Cựu
lục địa nhiệt đới; trong đó, 7 giống phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt
đới châu Á.
Ở Việt Nam, theo Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng
Trƣờng họ ếch cây có 6 giống với 47 loài, bao gồm: Giống Chirixalus – 6
loài, giống Nyctixalus – 1 loài, giống Philautus – 12 loài, giống Polypedates –
10 loài, giống Rhacophorus – 11 loài, giống Theloderma – 5 loài [17].
Những năm gần đây, từ những kết quả nghiên cứu ếch nhái, bò sát
nhiều tác giả (Nguyễn Văn Sáng, Lê Nguyên Ngật, Hồ Thu Cúc, Nguyễn

Rana sp..
Ở Việt Nam, từ năm 1960, bộ môn Động vật có xƣơng sống, khoa Sinh
học, trƣờng Đại học Tổng hợp và bộ môn Động vật, trƣờng Đại học Sƣ phạm
Hà Nội, đã tổ chức nghiên cứu ếch đồng.
Ở miền Bắc, từ năm 1992 đã có phong trào nuôi ếch đồng quy mô hộ
gia đình ở một số địa phƣơng: Đông Anh (Hà Nội), Hiệp Hòa (Bắc Giang).
Đến năm 1993, phong trào nuôi ếch đồng phát triển rộng rãi ra một số tỉnh:
Vĩnh Phúc, Hải Dƣơng, Hà Tây (cũ), Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà
Tĩnh…[15].

Phạm Thị Nhung

7

K32D- CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

Sau này, ở đồng bằng sông Cửu Long, có một số cơ sở chế biến thực
phẩm xuất khẩu. Năm 1997, đã có 200 trang trại nuôi ếch gia đình, đăng kí
với chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản địa phƣơng ở 9 tỉnh đồng bằng sông
Cửu Long để bán đùi ếch. Ếch đồng Hoplobatrachus rugulosus đƣợc nuôi với
sản lƣợng lớn để khai thác thịt đùi xuất khẩu dƣới dạng thực phẩm đông lạnh.
Tổng hợp báo cáo từ văn phòng CITES Việt Nam, từ năm 1998 – 2003, hàng
năm Việt Nam xuất khẩu từ 700 tấn đến 1.000 tấn đùi ếch đông lạnh đi các thị
trƣờng Châu Âu, Mỹ và Canada. Việc gây nuôi sinh sản loài ếch này đã mang
lại nguồn thu hàng chục triệu đôla Mỹ mỗi năm cho ngƣời dân các tỉnh đồng

dịch vụ hành chính 1.540ha, và vùng đệm là 15.515ha [1], [3].
Vị trí địa lý
Vƣờn Quốc gia Tam Đảo nằm ở 21021’ – 21042’ vĩ độ Bắc, 105023’ –
105044’ kinh độ Đông, nằm trên địa bàn huyện Sơn Dƣơng (Tuyên Quang),
huyện Mê Linh, Lập Thạch, Tam Đảo (Vĩnh Phúc) và huyện Đại Từ (Thái
Nguyên).
Địa hình
Vƣờn Quốc gia Tam Đảo có địa hình đồi núi cao trung bình, bao gồm
một khối núi thuộc phần cuối của dãy núi cánh cung thƣợng nguồn sông
Chảy, khối núi Tam Đảo chạy dài theo hƣớng Tây Bắc – Đông Nam, gồm
trên 20 đỉnh núi có độ cao trên 1.000m, đỉnh cao nhất là Tam Đảo Bắc nằm ở
ranh giới giữa 3 tỉnh Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên với độ cao
1.592m so với mực nƣớc biển, các đỉnh núi ở dãy núi Tam Đảo nhọn và rất
dốc, đƣợc nối với nhau bằng những đƣờng dông gầy, sắc nhọn. Địa hình trong
vƣờn bị chia cắt mạnh do các dông núi phụ với các khe suối chạy từ trên đỉnh
các dông cao và khu vực các đỉnh Tam Đảo Bắc, Thiên Thị, Thạch Bàn, Phú
Nghĩa đổ xuống.
Vƣờn Quốc gia Tam Đảo có địa hình phức tạp và bị chia cắt mạnh, là
yếu tố quan trọng tạo nên sự đa dạng về hệ động vật, thực vật và đảm bảo cho
sự tồn tại của các cánh rừng đến ngày nay.
Tam Đảo đƣợc xem là dãy núi trẻ, quá trình bào mòn địa chất tự nhiên
còn chƣa lâu. Địa chất và thổ nhƣỡng trong vùng có nguồn gốc từ đá mẹ
thuộc 2 nhóm chính là đá macma axit và đá biến chất, tạo ra nhiều loại đất
nhƣng có 4 loại chủ yếu gồm: đất pheralit màu vàng nhạt, đất pheralit màu
vàng đỏ, đất pheralit màu đỏ vàng, đất pheralit màu xám.
Khí hậu

Phạm Thị Nhung

9

chiếm tỷ lệ 73,9%, phân bố tập trung ở xung quanh khu vực đỉnh Tam Đảo
Bắc và phía bên sƣờn Đông và Tây. Hệ sinh thái rừng trên núi Tam Đảo đã
tạo ra cảnh quan đẹp và là nơi chứa đựng nguồn đa dạng sinh học cao.
Hệ sinh thái đồng cỏ: hệ sinh thái này hẹp và tập trung trên một số
đỉnh núi thấp, đƣờng dông phụ và sƣờn núi. Thực vật chủ yếu là các loài Cỏ

Phạm Thị Nhung

10

K32D- CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

tranh, Cỏ rác, Cỏ lá tre cao, Cỏ lông lợn, Cỏ lau, Cỏ chít, Cỏ là,..do bị tàn phá
nặng nên nguồn cây mẹ và nguồn giống tái sinh rất ít, khả năng hồi phục
chậm.
Hệ sinh thái sông, suối, ao hồ: hệ sinh thái này nhỏ về diện tích và tập
trung chủ yếu trên các hồ chứa nƣớc nhƣ Núi Cốc, Đại Lải, Xạ Hƣơng, Làng
Hà, Phú Xuyên, Hồ Sơn, Ninh Lai,…và các suối của hai hệ thống sông Công
và sông Phó Đáy.
Các kiểu rừng
Vƣờn Quốc gia Tam Đảo là nơi hội tụ các luồng thực vật rừng nhiệt đới
Đông Nam Châu Á (Baltzert et al., 2001), rừng á nhiệt đới Nam Trung Quốc
và rừng á nhiệt đới núi cao Đông Himalaya, tạo ra các kiểu rừng nhƣ:
Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: bao phủ phần lớn dãy núi
Tam Đảo và phân bố chủ yếu ở độ cao dƣới 800m, có các loài cây có giá trị

400m, trƣớc đây là rừng sản xuất nên bị các lâm trƣờng khai thác gỗ, chỉ còn
lại rừng nghèo kiệt và nƣơng rẫy, hiện đang phục hồi.
Trảng cỏ và cây bụi, gồm trảng cỏ có cây gỗ rải rác, là sinh cảnh quan
trọng của các loài động vật , đặc biệt là các loài thú móng guốc.
Khu hệ thực vật
Vƣờn Quốc gia Tam Đảo đã thống kê đƣợc 1.282 loài thực vật bậc cao,
thuộc 660 chi, trong đó có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm đƣợc ghi vào
Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục Đỏ thế giới (2006) cần bảo vệ nhƣ
Hoàng thảo tam đảo (Dendrobium tamdaoensis), Trà hoa đài (Camellia
lengicaudata), Hoa tiên (Asarum petelotii), Chùy hoa leo (Mosla
tamdaoensis), Trọng lâu kim tiền (Paris delavayi) và nhiều loài khác. Vƣờn
Quốc gia Tam Đảo còn có 669ha rừng lùn, với ƣu thế bởi các loài thuộc họ
Đỗ quyên và họ Chè. Theo Đặng Huy Phƣơng và cộng sự (2004), đã phát
hiện nhiều loài Phong Lan có giá trị thƣơng mại cao, cùng với một quần thể
nhỏ Lan hài (Paphiopedilum sp.) phân bố ở độ cao 900 đến 1.000m ở vùng
phía Bắc Tam Đảo và là loài đặc hữu của vùng này.
Khu hệ động vật
Vƣờn Quốc gia Tam Đảo đã đƣợc công nhận là một trong 63 vùng
chim quan trọng của Việt Nam (Tordoff et al.,2002). Đã ghi nhận có 280 loài
chim ở khu vực này (Peter và Lê Mạnh Hùng, 2005). Có một số lƣợng lớn các
loài chim phân bố hạn chế, trong đó có 39 loài chỉ phân bố trong vùng địa
sinh học rừng Á nhiệt đới Trung Quốc – Himalaya và 9 loài chỉ phân bố trong
vùng địa sinh học nhiệt đới khô Đông Dƣơng. Đặc biệt, một vài loài trong số

Phạm Thị Nhung

12

K32D- CN Sinh



13

K32D- CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

Bảng 1.1. Đa dạng về giá trị công dụng tài nguyên động vật ở Tam Đảo
Đối tƣợng

Giá trị
Bảo vệ rừng

Kinh tế

Nguồn gen quý

Thú

38 loài

60 loài

24 loài

Chim




25 loài

17 loài

6 loài

Tổng cộng

442 loài

236 loài

64 loài

Tỷ lệ

37,24

19,98

5,3

(Nguồn: Dự án đầu tư Vườn Quốc gia Tam Đảo giai đoạn 2003 – 2008)
1.3. Địa điểm nhân nuôi ếch cây sần bắc bộ
Nghiên cứu ếch cây sần bắc bộ trong điều kiện nuôi nhốt đƣợc tiến
hành tại Trại thực nghiệm Sinh học ( xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, thành phố
Hà Nội), thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Khoa học và
Công nghệ Việt Nam.


Phạm Thị Nhung

15

K32D- CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Loài ếch cây sần bắc bộ Theloderma corticale Boulenger, 1903 thuộc
họ Ếch cây (Rhacophoridae), bộ Không đuôi (Anura), lớp Lƣỡng cƣ
(Amphibia).
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu thực địa: nghiên cứu thực địa đƣợc tiến hành tại
Vƣờn Quốc gia Tam Đảo.
Địa điểm nghiên cứu nuôi nhốt: nghiên cứu ếch cây sần bắc bộ
(Theloderma corticale) trong điều kiện nuôi nhốt đƣợc tiến hành tại Trại thực
nghiệm Sinh học (xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội).
2.3. Thời gian nghiên cứu
Thời gian điều tra thực địa: tiến hành khảo sát 2 tuần vào tháng 6/2009
tại Vƣờn Quốc gia Tam Đảo - Vĩnh Phúc.
Thời gian nghiên cứu nuôi nhốt: từ tháng 6/2008 đến tháng 12/2009.
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Quan sát, ghi chép về các tập tính nhƣ: bắt mồi, chu kì hoạt động ngày

lâm sàng và làm tiêu bản tạm thời, quan sát nấm bằng kính hiển vi quang học,
kết hợp chụp ảnh qua kính hiển vi bằng máy ảnh kỹ thuật số.
2.5. Thiết kế bể nuôi nòng nọc và chuồng nuôi ếch sinh trƣởng
2.5.1. Bể nuôi nòng nọc
Bể nuôi nòng nọc có kích thƣớc 80x40x60cm dùng để nuôi 50 – 100
con nòng nọc, giữa bể xếp nhiều gạch, đá với nhiều ngóc ngách giúp cho
nòng nọc có chỗ trú ẩn.
Cũng có thể để nòng nọc phát triển ngay trong chuồng nuôi bố mẹ đến
khi nòng nọc biến thái thành ếch con mới chuyển sang chuồng nuôi ếch sinh
trƣởng.

Phạm Thị Nhung

17

K32D- CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

Hình 1. Chuồng nuôi nòng nọc ếch cây sần bắc bộ
2.5.2. Chuồng nuôi ếch sinh trƣởng
Chuồng nuôi ếch sinh trƣởng và ếch bố mẹ có kích thƣớc 80x60x60cm
dùng để nuôi 50 con ếch sinh trƣởng hoặc 3 – 5 cặp ếch bố mẹ. Trong chuồng
ta cũng xếp nhiều gạch, đá, ống tre khô hay gỗ làm chỗ trú ẩn, giá thể để ếch
bám và đẻ trứng.
2.6. Môi trƣờng khu nhà nuôi
Sinh cảnh khu vực nuôi ếch cây sần bắc bộ nói chung là thoáng mát, có

các thác nƣớc hay trên các bờ đá của các suối bị che phủ bởi các tán rừng
rậm, hay trong các hốc cây còn sống hoặc đã chết, có đọng nƣớc mƣa dƣới
đáy có bùn hay lá cây mục ở độ cao từ 700m – 1.500m. Ngoài ra, còn phát
hiện thấy chúng trong các bể nƣớc mƣa của các ngôi biệt thự cũ của Vƣờn
Quốc gia Tam Đảo.
Thành phần thức ăn: Ếch cây sần bắc bộ chủ yếu ăn các loại côn
trùng, nhóm côn trùng ƣa thích là cào cào, châu chấu (Bộ Cánh thẳng –

Phạm Thị Nhung

19

K32D- CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

Orthoptera), tiếp đến là các loài kiến (Bộ Hymenoptera), ngoài ra còn các loài
côn trùng thuộc họ Cánh cứng Coleoptera, hay Cánh vẩy Lepidoptera.
Sinh sản: Ếch cây sần bắc bộ ngoài tự nhiên ở Vƣờn Quốc gia Tam
Đảo cũng nhƣ một số địa điểm khác sinh sản gần nhƣ quanh năm. Chúng
không đẻ 1 lứa duy nhất trong năm nhƣ hầu hết các loài ếch khác mà đẻ làm
nhiều đợt. Mỗi ổ trứng thƣờng từ 10 – 30 quả. Trứng đẻ thành đám hoặc nằm
rải rác bám trên vách đá hay bám trên thân cây cách mặt nƣớc khoảng từ 15 –
30cm. Thời gian phát triển của trứng tới khi nòng nọc thoát vào môi trƣờng
nƣớc khoảng từ 12 – 15 ngày tuỳ thuộc vào nhiệt độ.
3.2. Những biến đổi của ếch cây sần bắc bộ thu từ tự nhiên đƣa vào nuôi
nhốt

hoạt động tích cực vào các giờ cho ăn là sáng sớm và chiều muộn. Ếch cây
sần tiếp xúc hàng ngày với ngƣời chăm sóc trong quá trình nuôi nhốt, làm cho
chúng ngày càng hiền hơn ngoài tự nhiên.
Tỷ lệ chết trong những tháng đầu, sau khi thu ếch cây sần từ tự nhiên
về nuôi nhốt cũng khá cao tới 30% tổng số cá thể. Nguyên nhân chết chủ yếu
do một số cá thể bị sốc do thay đổi môi trƣờng, đặc biệt là sốc về nhiệt độ, độ
ẩm. Vì vậy, trong môi trƣờng nuôi nhốt, chúng tôi phải duy trì nhiệt độ các
chuồng nuôi từ 250C – 280C. Chúng không chịu bắt mồi, ít hoạt động, một số
khác chết vì bị tổn thƣơng vùng đầu mõm do nhảy húc vào thành chuồng khi
mới nuôi nhốt và vết thƣơng bị nhiễm trùng. Những cá thể đã thích nghi qua
giai đoạn đầu thì chúng có sức khoẻ tốt hơn và thích nghi với điều kiện sống
mới.
Lƣu ý lớn nhất khi thu ếch cây sần trƣởng thành từ ngoài tự nhiên đƣa
vào nuôi nhốt là vấn đề dịch bệnh của chúng. Ngoài một số bệnh do vết
thƣơng ban đầu, nhiễm khuẩn, sốc vì thay đổi môi trƣờng thức ăn, đặc biệt
phải quan tâm đến bệnh do giun tròn ký sinh ở phổi. Tất cả ếch cây sần khi
thu từ tự nhiên đều nhiễm giun tròn với cƣờng độ thấp. Tuy nhiên, chúng sẽ
bị nhiễm nặng khi nuôi nhốt lâu ngày do giun tròn lây trực tiếp qua nguồn
phân thải của ếch. Giun tròn gây tác hại lớn cho sức khỏe của ếch và sẽ làm
chúng chết dần nếu không đƣợc chữa trị. Vì vậy, việc cách ly ban đầu, tẩy
giun sán trƣớc khi nuôi nhốt chung ếch cây sần thu từ tự nhiên là rất quan
trọng.

Phạm Thị Nhung

21

K32D- CN Sinh




Phạm Thị Nhung

22

K32D- CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

Trong điều kiện nhiệt độ từ 230C – 270C, trứng phát triển thành nòng
nọc khoảng từ 12 ngày – 15 ngày. Khoảng 4 ngày sau khi đẻ, ta có thể quan
sát thấy hình nòng nọc trong trứng với khối noãn hoàng lớn, ở bụng khối noãn
hoàng này bé dần cùng với sự phát triển của nòng nọc. Sau khoảng 1 tuần
nòng nọc trong trứng bắt đầu động đậy. Ta có thể thấy hình nòng nọc đầy đủ
vào khoảng ngày thứ 10. Sau khi nòng nọc sử dụng gần hết khối noãn hoàng
chúng sẽ hoạt động mạnh thoát khỏi lớp màng nhầy và rơi xuống nƣớc.

Hình 4. Một số giai đoạn phát triển của trứng

Phạm Thị Nhung

23

K32D- CN Sinh


Khóa luận tốt nghiệp


thân (mm)

đuôi (mm)

1 ngày

18,0 – 18,7

5,8 – 6,1

12,2 – 12,6

1 tuần

23,5 – 24,3

8,7 – 9,1

14,8 – 15,2

2 tuần

32,7 – 33,7

13,8 – 14,3

18,9 – 19,4

3 tuần



Khóa luận tốt nghiệp
Tuổi

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

Chiều dài cơ

Chiều dài

Chiều dài

thể (mm)

thân (mm)

đuôi (mm)

3 tháng

65,5 – 66,3

28,7 – 28.9

36,8 – 37,3

Mọc chân sau

4 tháng

khoảng 2 tuần – 3 tuần.
Cùng với sự phát triển chân sau, lƣng của nòng nọc bắt đầu đổi màu từ
đen dần sang xanh và xuất hiện các nốt sần. Đồng thời, chân trƣớc cũng phát
triển nhƣng đƣợc bao bọc bởi 1 lớp màng. Khi chân sau đạt kích thƣớc tối đa
chân trƣớc bắt đầu bật ra và đuôi bắt đầu tiêu biến. đuôi sẽ tiêu biến hoàn toàn
trong khoảng 7 ngày – 10 ngày.

Phạm Thị Nhung

25

K32D- CN Sinh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status