Nguyên Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05
LỜI MỞ ĐẦU
Các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng luôn luôn phải đối mặt
với nhũng khó khăn, bat on gây ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô. Một trong số nhũng
vấn đề khó khăn đó là tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước. Đây được xem là vấn
đề nan giải mà có thế nói chưa có một giải pháp nào hữu hiệu nhất đế chống lại nó bởi
vì hầu hết những giải pháp đưa ra đều để lại nhũng hệ lụy về sau.
Thâm hụt ngân sách sẽ gây sức ép làm tăng lãi suất thị trường, do đó cản trở nhu
cầu đầu tư của các nhà kinh doanh làm giảm sự tăng trưởng kinh tế, lãi suất tăng làm
giá trị đồng nội tệ tăng, dẫn đến tình trạng siêu nhập. Ngoài ra thâm hụt ngân sách còn
ảnh hưởng tới tình trạng lạm phát, sự ôn định xã hội...
Vì vậy vấn đề thâm hụt ngân sách là một trong những mối quan tâm sâu sắc của
mỗi quốc gia hiện nay. Đe hiểu rõ vấn đề thâm hụt ngân sách của Việt Nam giai đoạn
2009 đến nay như thế nào, trong bài viết này em sẽ trình bày: thực trạng thâm hụt ngân
sách Việt Nam, tác động của nó đến nền kinh tế, nguyên nhân và giải pháp nhằm giảm
bớt tình trạng thâm hụt ngân sách trong giai đoạn này.
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã cố gắng, nhung không thể tránh khỏi
những sai sót. Rất mong nhận được sự góp ý của giảng viên để bài tiểu luận được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Nguyên Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05
DANH MỤC TÙ VIÉT TẮT
OECD
NSNN
IMF
PVN
ODA
WTO
2.4
Ảnh hưởng của thâm hụt ngân s á c h ............................................................ 8
3 Nguyên nhân thâm hụt ngân sách.................................................................... 9
3.1
Thất thu thuế.................................................................................................... 9
3.2
Nhà nước huy động vốn từ kích cầu........................................................... 10
3.3
Đầu tư công kém hiệu q u ả ........................................................................... 10
3.4
Quy mô chi tiêu của Chính phủ quá lớ n .................................................... 11
3.5
Chưa chú trọng giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên............ 11
3.6 Sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn được sử dụng như một
công cụ trong chính sách tài khóa đế kích thích sự tăng trưởng kinh t ế .................... 11
4 Kiến nghị và giải pháp giảm thâm hụt N SN N ..............................................12
4.1
USD) và năm 2011 mức thâm hụt khoảng 6,1% GDP. Cả hai mức thâm hụt đều là mức
cao nhất trong lịch sử của khu vục nàyể
Hiện tại, mục tiêu cao nhất của các nước là cải thiện tính cân đối giữa phục hồi
và phát triển kinh tế với củng cố tài khóa, thúc đẩy niềm tin tiêu dùng và tăng trưởng
bền vừng. Chính sách tài khóa được điều hành theo 2 xu hướng cơ bản: Nới long (đơn
cử như Mỹ và Nhật Bản thực thi gói kích thích kinh tế mới) và tiếp tục thắt chặt (điến
hình tại khu vực châu Âu).
Chính sách tài khóa thắt chặt dựa trên cơ sở vẫn đảm bảo các vấn đề an sinh, xã
hội, đảm bảo cuộc sống người dân ít bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng: c ắ t giảm chi tiêu
Chính phủ ở mức độ vừa phải; Cơ cấu lại các khoản chi cho hợp lý theo xu hướng đầu
tư cho tương lai như tăng chi cho các hoạt động nghiên cứu và phát triến, giáo dục, y tế
và phúc lợi xã hội...; Cải cách chính sách thuế theo hướng bổ sung thuế, hạ thuế suất,
mở rộng đối tượng chịu thuế thông qua việc hạn chế miễn và giảm thuế, giảm thuế trực
thu và tăng thuế gián thu...
Nhìn chung, tình trạng thâm hụt trong năm 2010 của các nước đã được cải thiện
với mức thâm hụt giảm nhẹ. Các nước phát triển thâm hụt giảm 1% GDP tù' 8,8%
xuống 7,9%, Mỹ và Đức ghi nhận mức thâm hụt thấp hơn dự báo tương ứng là 0,5% và
ỉ %. Tuy nhiên, thị trường thâm hụt của các nền kinh tế mới nổi không được cải thiện
nhiều. Năm 2011, khu vực kinh tế châu Âu dự kiến mức thâm hụt ở mức 4% (giảm
khoảng 0,4% so với dự báo từ tháng 11/2010 của IMF). Đức có thể sẽ giảm mức thâm
hụt xuống còn 1,5% năm 2011. Các nền kinh tế mới nổi mức thâm hụt vào khoảng
3,2% (giống mức thâm hụt dự báo từ tháng 11/2010 của IMF).
2. Tình hình thâm hụt ngân sách Việt Nam và những ảnh hưởng của nó giai
đoạn 2009 đến nay
2.1 Thâm hụt NSNN
NSNN là tống các kế hoạch chi tiêu, thu nhập hàng năm của Chính phủ, bao
gồm các khoản thu (chủ yếu từ thuế) và các khoản chi ngân sách.
Nhưng khi tình trạng các khoản chi của NSNN lớn hơn các khoản thu, và phần
chênh lệch đó chính là thâm hụt ngân sách.
2.2 Thực trạng thâm hụt ngân sách Việt Nam trong năm 2009
Thu nội địa
233.000
2
Thu tù’ dầu thô
63.700
3
Thu cân đôi ngân sách từ hoạt động xuât khâu, nhập khâu
88.200
4
Thu viện trợ không hoàn lại
B
KẾT CHUYỂN TỪ NĂM TRƯỚC SANG
c
TỎNG CHI CÂN ĐÓI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
491.300
6
Dự phòng
C
B Ô Ĩ CHI NSNN
-87.300
Tỷ lệ bội chi so GDP
-4.82%
D
NGUÒN BÙ ĐẮP BÔI CHI NSNN
87.300
1
Vay trong nước
71.300
2
Vay ngoài nước
Tăng 20,1% ( 22.700 tỷ đông ), chiêm 25,4% tông chi
NSNN và bằng 8,1%GDP
Tăng 10,2% ( 6000 tỷ đông )
Qua đó cho ta thấy, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu cùng với
nhũng khó khăn trong nước và áp lực chi đế phục hồi kinh tế, on định đời sống nhân
dân thì việc bội chi ngân sách là đều không tránh khỏi. Mặc dù con số bội chi 6,9%
GDP vẫn nằm trong phạm vi cho phép của Quốc hội nhưng bội chi ngân sách tăng
trong bối cảnh chính sách tiền tệ nới lỏng, luôn tiềm ân nguy cơ lạm phát cao trở lại.
Điều này cũng cảnh báo độ an toàn của ngân sách trong các năm tiếp theo nếu như
không chủ động có các biện pháp cải cách đe tạo nền tảng tăng nguồn thu cũng như
tăng cường kỷ luật tài chính cho ngân sáchẽ
2.3
đến năm 2011
Thực trạng thâm hụt ngân sách Việt Nam trong năm 2010 và ưóc tính
So với năm 2009, nhiều yếu tố nền tảng của kinh tế sẽ được cải thiện trong năm
2010, trong đó phải kể đến cầu đầu tư và cầu tiêu dùng trong nước. Chính nhũng
chuyến biến tích cực đó đã tạo điều kiện đế tăng thu NSNN, cụ thế:
Nội dung
Thu NSNN
Tông chi NSNN
Bội chi NSNN
Năm 2010
Ước đạt 520.100 tỷ đồng
Ước đạt 637.200 tỷ đồng
Ước tính 117.000 tỷ
đồng, 5,95% GDP
2005
2006
2007
2008
2009
I Thâm hụt ngần sách (fi đ ề)
2010
2011 (F)
'% GDP
Nguồn: Bộ tài chính
Quan sát biếu đồ trên ta có thế thấy trong giai đoạn (2005-2008) bội chi ngân
sách ở mức khoảng 5% GDP, nhưng đến năm 2009 mức bội chi ngân sách lại tăng tới
mức báo động 6,9% và đến năm 2010 thì giảm xuống ỏ mức 5,95%GDP.
Trên đây là nhừng kết quả rất đáng khích lệ trong bối cảnh nền kinh tế vừa trải
qua suy giảm. Chính việc chấp hành kỷ luật ngân sách không nghiêm, thất thu, gian
lận, nợ đọng thuế, kể cả thuế nội địa và thuế xuất nhập khẩu còn lớn, số nợ thuế chờ xử
lý (chiếm hơn 20% tổng số nợ thuế) tăng khá nhiều sẽ là dư địa quan trọng để tăng thu
ngân sách và giữ kỷ cương luật pháp về NSNN ( Tổng quan về kinh tế Việt Nam năm
2010 và kiên nghị cho năm 2011 ).
Tuy nhiên, “chúng ta cần thừa nhận rằng, một điếm đặc biệt đáng lưu ý của Việt
Nam là những cân đối vĩ mô lớn như thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại đang
+ Thâm hụt ngân sách tạm thời trong giai đoạn suy thoái sẽ kích thích đầu tư
phát triến, góp phần đưa đến tăng trưởng cao.
+ Khi nền kinh tế gặp khủng hoảng, việc tăng chi tiêu Chính phủ sẽ kích thích
kinh tế phát triển tạo ra việc làm lâu bền cho người lao động góp phần làm cho doanh
thu tù' thuế tăng và trợ cấp thất nghiệp giảm.
Tuy nhiên trong nhừng năm gần đây: năm 2009 thâm hụt ngân sách là 6,9%,
còn năm 2010 là 5,95%. Những số liệu chính là cơ sở đế giải thích tại sao cần phải
giảm thâm hụt ngân sách?
Việc gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ có thế dẫn đến giảm tiết kiệm nội địa, giảm
đầu tư tư nhân, hay gia tăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai. Thâm hụt ngân sách
cao và kéo dài còn làm xói mòn niềm tin đối với năng lực điều hành vĩ mô của Chính
phủ. Nó cũng làm tăng mức lạm phát kỳ vọng của người dân và của các nhà đầu tư vì
họ cho rằng Chính phủ trước sau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt.
Tiêu cực: Thâm hụt NSNN tác động đến lạm phát, lãi suất, thất nghiệp và tỷ
giá.
Thâm hụt NSNN làm nền kinh tế thiếu tiền, do đó phải đi vay, phát hành tiền.
Khi phát hành tiền sẽ làm tăng lượng tiền trong nền kinh tế, dẫn đến giá cả tăng (tiền
mất giá) gây ra lạm phát. Đối với việc đi vay, bao gồm vay trong nuớc và vay nước
ngoài luôn có nhũng điều khoản ràng buộc và một mức lãi suất nhất định nhưng nếu
nhà nước chi tiêu khoản tiền này không phù hợp sẽ không thế tái tạo, quay vòng số tiền
đó, nghĩa là sử dụng không hiệu quả dẫn đến tình trạng gây mầm cho lạm phát gia tăng
ở thời kì sau. Khi lạm phát tăng thì lãi suất danh nghĩa cũng tăng theo. Khi đó trong
nước sẽ hạn chế tiêu dùng, đầu tư, tăng cường tiêt kiệm, sản lượng trong nước giảm
đáng kế, nền kinh tế kém tăng trưởng.các doanh nghiệp sẽ hạn chế việc sản xuất làm
nhu cầu về nhân lực giảm, thất nghiệp gia tăngẽ Tiền trong nuớc mất giá, tỷ giá sẽ tăng
cao,nghĩa là số tiền VND phải nhiều hơn trước mới có thể đối được 1 đơn vị tiền tệ
Nguyên Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05
khác. Việc này sẽ làm giảm đầu tư, đặc biệt là đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam và
thuế nhập khấu và thuế giá trị gia tăng 1 năm đối với nguyên vật liệu vật tư thiết bị
máy móc, nhập khấu cho các hợp đồng bị hủy, tức là được gia hạn đến ngày
31/12/2011. Đồng thời cơ quan thuế cũng không áp dụng biện pháp cưởng chế nộp
thuế và Vinashin sẽ được miễn tiền phạt nộp thuế. Chính điều này đã gây lượng thất
thu lớn từ thuế.
Một nguyên nhân khác gây hụt thu là do giá dầu thô giảm đã ảnh hưởng làm
giảm thu ngân sách: do giá dầu thô sụt giảm từ mức đỉnh 149 USD/thùng hồi giữa năm
2008 xuống mức thấp nhất vào khoảng 40 USD/thùng đầu năm 2009 và dao động ở
mức 50 ƯSD/thùng đã khiến các chỉ tiêu tài chính, doanh thu của PVN sụt giảm. Cụ
Nguyên Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05
thế, trong quý I năm 2009, doanh thu của PVN đạt 52.200 tỷ đồng, bằng 25% so với kế
hoạch năm 2009; giảm 20% so với cùng kỳ 2008. Điều này gây lo ngại cho ngân sách
quốc gia, khi nguồn thu từ tập đoàn thường chiếm trên 20% ngân sách.
Đặc biệt, hiện tượng “bong bong ngân sách” được hình thành với mục tiêu tiếp
“sức sống mới” cho những nền kinh tế đang xì hơi, nhưng điều này cũng có thể dẫn
đến nhừng trở ngại rất lớn cho tăng trưởng bền vững nhiều năm sau. Nguy cơ thật sự sẽ
đến: bong bóng ngân sách càng phình to sẽ buộc phải tiếp tục vay nợ và in tiền, dẫn
đến cả bảng cân đối tài sản của ngân hàng trung ương cũng phình to, và nợ vay nước
ngoài cũng phình to và mức thâm hụt ngân sách càng lớn.
3.2 Nhà nước huy động vốn từ kích cầu
Năm 2009, Chính phủ thực hiện kích cầu 8 tỷ USD thông qua 3 nguồn tài trợ
chính là: Phát hành trái phiếu Chính phủ, miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà
nước. Sử dụng gói giải pháp kích cầu một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng
kinh tế. Tuy nhiên, sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8-12%GDP.
3.3 Đầu tư công kém hiệu quả
Từ năm 2008 đến 2010, lượng vốn đầu tư vào nước ta ngày một gia tăng. Điều
này nhằm giúp cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc
gia phục vụ lợi ích phát triến của đất nước. Tuy nhiên, do công tác quản lý, điều hành
phát. Vì vậy, cần phải thực hiện tiết kiệm, nhung không chỉ tiết kiệm chi tiêu gia đình,
người dân, mà lớn hơn và quan trọng hơn là tiết kiệm chi tiêu Chính phủ. Đây mới là
khoản tiết kiệm lớn và nếu giải quyết được vấn đề này, nguồn tài chính sẽ có điều kiện
rót vào nhũng khu vục cần thiết, chang hạn như đầu tư vào doanh nghiệp, giải quyết
việc làm...
3.5 Chưa chú trọng giữa chi đầu tư phát triến và chi thưòng xuyên
Đây là một trong nhũng nguyên nhân gây căng thắng về ngân sách, áp lực bội
chi ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương). Chúng ta có thế thấy, thông qua cơ
chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bố sung từ
ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Ngân sách địa phương được phân cấp
nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong dự toán ngân
sách hằng năm. Vì vậy, khi các địa phương vay vốn đế đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm
nguồn chi thường xuyên đế bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và
đi vào hoạt động cũng như chi phí duy trì, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu
quả đầu tưễ Chính điều đó luôn tạo sự căng thắng về ngân sách. Đe có nguồn kinh phí
hoặc phải đi vay đế duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bố sung ngân sách, cả hai
trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN.
3.6 Sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn đưọc sử dụng như
một công cụ trong chính sách tài khóa đế kích thích sự tăng trưởng kinh tế
Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này thông qua cân đối NSNN hằng năm.
v ề nguyên tắc, sau khi lấy tống thu trừ đi tống chi trong năm sẽ xác định được số thặng
dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong năm. Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách chủng ta
thường xác định số bội chi trước (thông thường tương đương với mức Quốc hội cho
phép) và nguồn còn lại được Quốc hội cho phép chuyến nguồn sang năm sau. Đây là
chính sách ngân sách thận trọng khi áp dụng lý thuyết bội chi một cách chủ động và
điều đó không gây xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cân nhắc và
kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho các dự án
Nguyên Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05
phát. Tuy nhiên, việc vay nợ nước ngoài thường xuyên và quy mô ngày càng tăng có
thế dẫn tới rủi ro tỷ giá. Khi gánh nặng nợ nước ngoài tăng lên sẽ gây ra áp lực cực lớn
lên đồng nội tệ khiến nó có khả năng mất giá mạnh. Đồng nội tệ mất giá sẽ lại tiếp tục
làm gia tăng giá trị các khoản nợ nước ngoài và tạo ra nguy cơ mất khả năng thanh
toánẽ Khi đó dòng vốn đầu tư sẽ chảy khỏi quốc gia do sợ rủi ro về tỷ giá và làm cán
cân thanh toán mất cân bằng hơn. Khi cán cân thanh toán trở nên mất cân bằng nghiêm
trọng thị đồng nội tệ lại chịu áp lực giảm giá. Điến hình, ở các nước Mỹ Latinh những
năm 1980-1990 đã gặp phải những rủi ro rất cao trong vấn đề này.
Nguyên Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05
4.4 Tăng thuế
Với việc tăng thuế, các doanh nghiệp sẽ phải chịu gánh nặng chi phí nhiều hơn,
làm giảm động lực sản xuất và khả năng cạnh tranh. Neu tăng thuế thu nhập thì mức
tiêu dùng cũng giảm, làm giảm một phần tổng cầu. Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt
Nam cần cải thiện môi trường kinh doanh và cạnh tranh với các nước trong khu vực để
tạo môi trường kinh doanh hấp dẫn thì khả năng tăng thuế thu nhập doanh nghiệp là
không nhiều. Thêm vào đó, việc cam kết các điều khoản của WTO và tham gia vào các
hiệp định thương mại song phương cùng các khu vực tự do kinh tế cũng dẫn tới cắt
giảm thuế quan chứ không phải ngược lại. Do đó, cơ hội tăng thuế đối với Chính phủ
chủ yếu đến từ việc tăng thuế thu nhập cá nhân. Đây là đối tượng còn dư địa cho chính
sách thuế, nhưng cũng chưa cải thiện được về quy mô trong ngắn và trung hạn vì đối
tượng thu thuế và số thu thuế hiện không đáng kể (chỉ khoảng 8.000 - 10.000 tỷ
đồng/năm). Do đó, việc tăng thuế đế cải thiện nguồn thu có tính khả thi thấp trong điều
kiện hiện nay.
4.5 Cắt giảm đầu tư công
Cắt giảm đầu tư công, một trong những giải pháp thắt chặt chính sách tài khóa,
nhằm hướng tới mục tiêu giảm lạm phát và ổn định tăng trưởng vĩ mô được nêu ra
trong nghị quyết số 11/NQ-CP (24/02/2011). Có 3 lý do phải cắt giảm chi tiêu công, đó
là:
như Mỹ, Nhật, Trung Q uốc,... cũng đang gặp phải. Nếu giải quyết tốt việc thâm hụt
NSNN sẽ đem lại sự ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế và tăng an sinh xã hội.
Page 14
Nguyên Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. , “Hai kịch bản cho nền kinh tế Việt Nam 2010”, Anh
Minh.
2. , “Tông quan kinh tê Việt Nam
năm 2010 và triển vọng năm 2011”, TS. Nguyễn Hồng Nga và Nhật Trung;
“Tông quan kinh tế Việt Nam năm 2010 và khuyến nghị năm 2011 ”, TS. Lê
Quốc Hội.
3. , “Thực trạng vê thâm hụt ngân sách nhà nước Việt
N a m ”, Trần Mạnh Kiên.
4. , “Giảm thâm hụt ngân sách đê khôi phục sự ôn định vĩ mô ”,
Vũ Thành Tự Anh - Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (Theo Doanh
nhân Sài Gòn Cuối tuần).
5Ẻ ,^“Thâm thủng ngân sách nhìn từ con tàu Vinashin”,
Nguyễn Tuấn.
6. , “Chỉ tiêu ngân sách còn ìãm* phỉ..., đâu tư dàn
trải thiêu tập trung”, Vũ Nguyên.
7. , “Nhũng giải pháp kích cầu năm 2009”, Nhựt
Thanh.
8. , “17 tỷ đồng kích cầu cho mọi thành phần kỉnh tế ”,
Ngọc Lêẻ
9ể , “Năm 2009: miễn, giảm, giãn thuế thuế khoảng 20.000 tỷ
đồng”.
10. , “Quản ỉỷ nợ công — nôi lo chăng của riêng Ú7ễ”, Tô Văn