1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
BÙI THỊ HẢI YẾN
PHÁT HUY VAI TRÒ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 THPT
TRONG VIỆC GIÁO DỤC, PHÒNG CHỐNG, BÀI TRỪ TỆ NẠN MÊ TÍN
DỊ ĐOAN CHO HỌC SINH DÂN TỘC THÁI Ở TRƯỜNG THPT – DTNT
HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Giáo dục Chính trị
Mã số:
60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thái Sơn
Nghệ An - 2013
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm của nhiều đơn
vị, thầy cô và đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám Hiệu trường Đại học Vinh, Phòng Sau Đại học, Ban Chủ nhiệm
khoa Giáo dục Chính trị trường Đại học Vinh cùng quý Thầy, Cô tham gia giảng
dạy lớp Cao học ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục Chính
trị khóa 19.
Ban Giám Hiệu và Thầy, Cô giáo Trường THPT – DTNT Quỳ Châu đã giúp
dị đoan trong đời sống văn hóa, xã hội
1.2. Vai trò của môn GDCD ở trường THPT trong việc giáo dục, phòng chống,
34
bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan
Chương 2: Thực trạng việc phát huy vai trò môn Giáo dục công dân lớp 10
48
trong giáo dục, phòng chống, bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan cho học sinh dân
tộc Thái ở trường THPT – DTNT huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An hiện nay
2.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của
48
huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An
2.2. Thực trạng giáo dục, phòng chống, bài trừ mê tín dị đoan cho học sinh dân
57
tộc Thái ở trường THPT – DTNT Quỳ Châu, Nghệ An
2.3. Thực trạng của việc phát huy vai trò môn GDCD lớp 10 trong giáo dục,
phòng chống, bài trừ mê tín dị đoan cho học sinh dân tộc Thái ở trường THPT
75
– DTNT Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp phát huy vai trò môn GDCD lớp 10 trong việc
110
cao chất lượng dạy học môn GDCD 10 theo hướng giáo dục, phòng chống, bài
trừ mê tín dị đoan cho học sinh dân tộc Thái
3.6. Phát huy vai trò của gia đình và xã hội trong việc giáo dục, phòng chống,
113
bài trừ mê tín dị đoan cho học sinh dân tộc Thái
C. KẾT LUẬN
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1. GDCD: Giáo dục công dân
2. GD & ĐT: Giáo dục và Đào tạo
116
119
5
3. THPT: Trung học phổ thông
4. DTNT: Dân tộc nội trú
5. SGK: Sách giáo khoa
6. SGV: Sách giáo viên
7. XHCN: Xã hội chủ nghĩa
8. NXB: Nhà xuất bản
9. HS: Học sinh
10. GV: Giáo viên
sinh đồng bào dân Thái ở Quỳ Châu nói riêng?
Môn Giáo dục công dân (GDCD) có vai trò trang bị thế giới quan, phương
pháp luận khoa học, trực tiếp trong việc giáo dục học sinh ý thức và hành vi người
7
công dân, phát triển tâm lực và nhân cách con người toàn diện. Vì vậy, môn GDCD
ở THPT cần phải đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học để
đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, nhằm góp phần tích cực vào việc
đào tạo nguồn nhân lực và những người công dân mới có tính năng động, sáng tạo,
có phẩm chất và năng lực thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta hiện nay, đồng
thời phù hợp với xu thế chung của thời đại.
Chương trình môn GDCD hiện hành nhằm trang bị cho học sinh có hiểu biết
về giá trị đạo đức, các quy định pháp luật căn bản, lối sống của người Việt Nam,
hiểu trách nhiệm của công dân trong việc thực hiện các chính sách, pháp luật của
Đảng, Nhà nước. Nội dung môn học này giúp học sinh biết vận dụng kiến thức đã
học để đánh giá các hiện tượng, sự kiện, các vấn đề xảy ra trong thực tiễn phù hợp
với lứa tuổi, lựa chọn hành vi ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội, biết bảo vệ cái
đúng, phê phán sự sai trái, hiện tượng tiêu cực trong đời sống, phòng chống mê tín
dị đoan. Những kiến thức môn GDCD hun đúc cho học sinh lòng yêu quê hương,
đất nước, trân trọng và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc, có hoài bão và
mục đích sống cao đẹp.
Ở nước ta thời gian qua đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về phương
pháp dạy học GDCD và đổi mới phương pháp dạy học ở các phần khác nhau của
chương trình GDCD trung học phổ thông (THPT) nhưng vấn đề vận dụng môn
GDCD trong việc góp phần phòng chống, bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan ở địa
phương thì hầu như chưa có đề tài nào đề cập đến.
Là những giáo viên (GV) giảng dạy GDCD, chúng tôi thấy mình cần phải có
trách nhiệm giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ, hành vi của học sinh để góp phần
hay đưa những kiến thức của môn học vận dụng vào trong thực tiễn cuộc sống cũng
9
là một trong những việc góp phần đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường
hiện nay. Chính điều này đã làm cho môn GDCD ngày càng hứng thú hơn đối với
học sinh.
Đã có nhiều tài liệu viết về việc vận dụng các phương pháp dạy học trong
quá trình giảng dạy GDCD nhằm đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy học như:
Góp phần dạy tốt, học tốt môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông
do tác giả Nguyễn Đăng Bằng làm chủ biên (NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001) hay
Dạy và học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông, những vấn đề lý
luận và thực tiễn của tác giả Nguyễn Văn Cư – Nguyễn Duy Nhiên (NXB Đại học
sư phạm, năm 2008), luận văn thạc sĩ của Trần Thị Minh (2006) đã đi vào nghiên
cứu “Kết hợp PPDH truyền thống và PPDH tích cực để nâng cao hiệu quả dạy học
môn GDCD lớp 10”, cũng đi theo hướng đó năm 2010 luận văn thạc sĩ của Nguyễn
Văn Vinh là Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần
“Công dân với đạo đức” chương trình GDCD lớp 10 nhằm nâng cao nhận thức
của học sinh THPT về các các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc,...
Các công trình nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học đã đề cập đến rất
nhiều khía cạnh trong việc đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD, những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy bộ môn GDCD nói chung... Nhưng các
công trình nêu trên là nguồn tư liệu quí giá để tác giả nghiên cứu, làm phong phú
thêm luận văn của mình. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay chưa có một công
trình nghiên cứu khoa học nào đi sâu nghiên cứu về việc vận dụng môn GDCD
trong việc giáo dục, phòng chống, bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan cho học sinh các
dân tộc thiểu số trên cả nước nói chung và ở huyện Quỳ Châu (Nghệ An) nói riêng.
Chính vì vậy chúng tôi quyết định chọn đề tài “Phát huy vai trò môn GDCD lớp
10 THPT trong giáo dục, phòng chống, bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan cho học
11
các giải pháp thích hợp sẽ phát huy được vai trò môn GDCD trong việc phòng
chống, bài trừ tệ nạn này.
6. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Cơ sở lí luận
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, quan điểm lập trường cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, giáo dục và đào tạo.
Đề tài dựa trên nội dung chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên, sách
hướng dẫn bồi dưỡng giáo viên giảng dạy môn GDCD...
Đề tài dựa trên quan điểm chỉ đạo trong các văn kiện, văn bản, chỉ thị của
Đảng và Nhà nước và Bộ Giáo dục – Đào tạo cũng như kế thừa kết quả của những
công trình nghiên cứu các nhà khoa học có liên quan đến nội dung đề tài của luận
văn.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, để hoàn thành những yêu cầu đề tài đặt ra, tác giả
đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác nhau như:
Phương pháp lôgic và lịch sử
Phương pháp tổng hợp, thống kê
Phương pháp so sánh, đối chiếu các nguồn tư liệu khác nhau đế xác minh tính
xác thực của số liệu
Phương pháp thu thập thông tin, tư liệu
Phương pháp mô tả, giải thích những phong tục, những kinh nghiệm của các
nghệ nhân, người già, những người có kinh nghiệm trong các bản, làng người Thái.
Phương pháp điều tra, tổng hợp
7. Ý nghĩa của đề tài
12
Các giải pháp mà luận văn đưa ra nếu được nhận thức và vận dụng vào thực
sẽ dẫn đến các sự kiện hay hành động khác mà không có bất kỳ quá trình vật lí nào
liên kết hai sự kiện, như chiêm tinh học, điềm báo, phù phép,...”[37; 19]. Mê tín dị
đoan mâu thuẫn với khoa học tự nhiên hay phản khoa học.
Mê tín là tin tưởng một cách mù quáng, không có cơ sở. Dị Đoan: Dị là lạ Đoan là mới. Mê tín dị đoan là tin tưởng một cách quáng mù vào những việc lạ,
thiếu cơ sở, thiếu khoa học. Phần nhiều là những việc về tinh thần, nhưng cũng ảnh
hưởng về vật chất, mê lầm tưởng đó là sự thật. Từ sự tin sai lầm, đưa tới nói năng
sai lầm. Như tin bà đồng bà cốt, thầy bùa chú,…những loại tin này không có một
chút căn bản, không thể chứng minh.
“Mê tín” là tin một cách mù quáng vào cõi thần bí, vào những chuyện thần
thánh ma quỷ. Tin vào những việc không thấy, không biết rõ [36; 271]. Và “dị
đoan” là điều quái lạ, chuyện chuyện vô căn cứ, chuyện huyễn hoặc [36; 114].
Mê tín dị đoan thực chất là niềm tin mê muội vào những điều coi là nhảm
nhí. Mê tín dị đoan là những hành vi không những đã lỗi thời trái với đa số, mà còn
có tính phản văn hóa, dẫn đến những tiêu cực trong đời sống cộng đồng, ngăn cản
hoặc phá hoại sản xuất, thậm chí dẫn đến sự chết chóc.
14
Không ít người cho rằng, mê tín dị đoan là một dạng tín ngưỡng tiêu cực
nhất: là tín ngưỡng sai lầm nhảm nhí tin vào sự tồn tại của sức mạnh siêu nhiên, hư
ảo như thần thánh, ma quỷ, số phận, ảo mộng, phù thủy, tướng số, vào phép lạ.
Mê tín dị đoan là tin vào điều không có căn cứ, không có cơ sở khoa học (tin
một cách mù quáng) cho rằng có những việc nhất định sẽ đem lại hạnh phúc hoặc
tai họa như: giữa người sống và người chết có thể nói chuyện với nhau được thông
qua việc lên đồng; nghe thấy tiếng chim lợn kêu thì có người sắp chết; tin vào bói
toán.
Mê tín dị đoan là tin vào những điều mơ hồ, nhảm nhí; không phù hợp với lẽ
tự nhiên (chữa bệnh bằng phù phép…) dẫn tới hậu quả xấu cho cá nhân, gia đình,
cộng đồng về sức khỏe, thời gian, tài sản, tính mạng [28; 53].
Mọi sinh hoạt của đời sống hàng ngày, ít hay nhiều, có liên quan đến vấn đề
niệm hoang đường về sức mạnh siêu nhiên. Vì trình độ nhận thức đơn sơ và ấu trĩ,
người nguyên thủy không thể hiểu và giải thích được nguồn gốc của những lực
lượng tự nhiên có sức mạnh ghê gớm như núi lửa, động đất, bão tố, lũ lụt, sấm
sét…Họ đã gán cho những hiện tượng đó một sứ mệnh thiêng liêng. Quan niệm
thần linh được hình thành từ đó.
Cứ thế, vị trí tưởng tượng, người nguyên thủy đã tạo ra vô vàn các thần linh
ma quỷ: thần cây đa, ma cây gạo, thần đất, thần bếp…tức là trong mọi mối liên hệ
của con người với thế giới xung quanh đều có mặt các vị thần.
Đặc biệt, xung quanh cái chết của con người đã xuất hiện nhiều yếu tố mê tín
dị đoan. Từ chỗ không giải thích nổi nguyên nhân cái chết của đồng loài, từ tình
cảm thương tiếc người thân qua đời, từ những giấc mơ, trong tư duy người nguyên
16
thủy đã xuất hiện các ý niệm: người chết vẫn sống, thế giới bên kia…Họ đã đặt ra
các nghi thức cống tế người chết…
Con người sống trên cõi đời này, vốn đã có rất nhiều mong cầu, mong cầu có
thể đạt được, nhưng có những mong cầu không thể thực hiện, vượt quá tầm tay;
nhưng con người luôn tìm cách này, nghĩ cách khác cố làm sao để đạt được. Dù đạt
được hay không cũng cố tìm cách, do đó dễ đi vào mê tín.
Con người khi mong cầu một điều gì mà quá khả năng mình thì dễ sinh mê
tín. Ví như có một người muốn vay một số vốn lớn làm ăn, không biết việc làm ăn
này sẽ kết quả tốt hay xấu. Tự nhiên lòng họ thấy băn khoăn lo lắng không biết hỏi
ai, tin ai. Nghe nói có ông đồng bà cốt nào đó linh ứng, nói quá khứ vị lai rất trúng,
họ liền muốn tìm tới hỏi han. Chỉ tốn tiền quẻ có năm bảy trăm, mà biết việc làm
của mình thành công hay thất bại thì an ổn biết mấy. Hoặc trên đường công danh có
những học sinh, sinh viên đến kỳ thi cử, lo âu thân phận mình không biết thi đậu
hay rớt. Nghe đồn Lăng này, Miếu kia linh hiển xin xăm bói quẻ sẽ báo đúng
những điều sắp đến, các cô, các cậu không tin vào khả năng học hành của mình,
nhất định đi đến xin xăm để hỏi thăm thần thánh xem thế nào.
lột, đã làm cho con người mê muội, xa lánh đấu tranh. Do vậy trong xã hội có áp
bức bóc lột, các giai cấp thống trị luôn nuôi dưỡng và tìm mọi cách lợi dụng mê tín
dị đoan nhồi nhét thứ thuốc tinh thần, biến tệ nạn này thành một tập quán xã hội để
củng cố địa vị.
Tuy nhiên dù là có nguồn gốc từ đâu thì mê tín dị đoan vẫn rất nguy hiểm, nó
không mang tính chất cục bộ, quốc gia mà nó mang tính chất toàn cầu hóa và phủ
rộng trên phạm vi toàn thế giới. Nó không chỉ có ở Việt Nam hay Mỹ mà nó tồn tại
ở hầu khắp các quốc gia. Với nhiều hình thái khác nhau, hàng ngày nó ràng buộc
chi phối ý nghĩ và hành động của công dân trên hầu khắp thế giới là nguyên nhân
18
dẫn đến sự lãng phí, phiền toái, tốn kém, đi ngược lại với tiến trình phát triển của
xã hội. Trước sau là những điều cần phải lên án, bài trừ.
1.1.1.3. Tệ nạn mê tín dị đoan ở nước ta hiện nay
Mê tín dị đoan là tệ nạn tồn tại từ xã hội cũ nhưng đến nay vẫn dai dẳng “ăn
sâu, bám rễ” trong suy nghĩ của nhiều người ở nước ta. Hiện tượng mê tín xuất hiện
ở nhiều đối tượng, nhiều thành phần, lứa tuổi khác nhau. Chẳng hạn, việc xem giờ,
ngày tốt xấu rất phổ biến, không chỉ với những việc lớn như làm nhà, cưới hỏi mà
tất thảy mọi việc lớn nhỏ, nhiều người vẫn có thói quen chọn “ngày lành, tháng
tốt”. Cá biệt, có người kiêng khem đến mức cắt tóc, cạo râu cũng tránh ngày đầu
tháng.
Ở địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, đời sống của người dân còn nghèo,
trình độ dân trí hạn chế, cho nên trở thành mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển của
tệ nạn mê tín dị đoan. Khá nhiều thủ tục lạc hậu, man rợ vẫn còn tồn tại ở một số
bản, làng có nhiều bà con đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Không ít nơi, việc tổ
chức ma chay, cưới hỏi vẫn tiến hành theo thủ tục rườm rà, rắc rối, thậm chí mê
muội. Có nơi, đến nay vẫn còn duy trì hủ tục chôn cất người chết ngay trong nhà;
người ốm, người mắc bệnh không đến trạm y tế, bệnh viện mà phó mặc số phận
cho thầy mo, thầy cúng, thầy tướng số. Đội ngũ thầy lang bốc thuốc, trị bệnh xuất
thần linh thông qua các tín đồ Saman giáo (ông đồng, bà đồng). Người ta tin rằng
các vị thần linh, có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán
truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử. Khi
thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn là mình nữa
mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ.
Ở Việt Nam, lên đồng là nghi thức không thể thiếu trong các thờ Mẫu Tam
phủ, Tứ phủ, tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, (được gọi là Thanh Đồng)...
20
Ngày nay, lên đồng vẫn còn là nhu cầu tâm linh, là hình thức sinh hoạt tín
ngưỡng dân gian của một bộ phận người Việt. Các nghi lễ này thường được tổ chức
nhiều lần trong một năm vào các dịp lễ Tết, thường là tại các lễ hội đền thánh, phủ
mẫu... Ngoài việc lên đồng để giao tiếp với thần linh, truyền thống tín ngưỡng Việt
Nam còn tin tưởng rằng sau khi chết, linh hồn người chết vẫn còn và theo dõi cuộc
sống của người thân đang sống. Do đó, khi lên đồng, linh hồn của người chết có thể
nhập vào đồng cô, đồng cậu (người gọi đồng) để trò chuyện với thân nhân đang
sống. Thông qua cuộc trò chuyện âm - dương này, người sống sẽ biết được những
yêu cầu của người thân quá cố về mồ mả để điều chỉnh và cúng xin cho phù hợp.
Đồng thời, thông qua cuộc đối thoại này, người sống cũng biết được vận mạng
tương lai của mình.
Tại Việt Nam hiện nay, hoạt động lên đồng bị chính quyền xem là hoạt động
mê tín dị đoan do nhiều trường hợp việc lên đồng đã bị nhiều người lợi dụng vào
mục đích xấu.
Gần đây, chuyện lên đồng thường ở tầng lớp giàu có, hay đô thị nhiều “ông
đồng bà đồng” hơn nông thôn. Đúng là trong xu hướng xã hội đang lao đi tìm kiếm
những lợi ích vật chất thì cũng có nhiều người lợi dụng lên đồng để kiếm tiền.
Chính nhóm những “ông đồng bà đồng” không có căn này có chuyện biến chất, lợi
dụng niềm tin của con người để thu lợi cho họ.
Có rất nhiều đối tượng với những thủ đoạn tinh vi đang âm thầm hoạt
Tính tình và vận số khám phá được không bao giờ được suy diễn từ thần linh hay
từ những ý niệm trừu tượng. Đó là quan niệm hoàn toàn nhân bản. Theo quan niệm
Á Đông, con người là một sinh vật luôn luôn biến đổi. Do đó, các nét tướng cũng
biến chuyển theo tâm hồn. Quan niệm này thực tiễn và phù hợp với dịch lý
22
(proceus dialectique) của vạn vật. Đây cũng là một ý niệm căn bản của nhân tướng
học Á Đông. Khoa này, thoạt kỳ thủy đã xuất phát từ Kinh Dịch tức là sách khảo
cứu về các quy luật biến hóa của vạn vật và của con người. Nói về phương pháp,
nhân tướng học áp dụng lối quan sát trực tiếp con người tức là dựa vào những dữ
kiện thực tại và cụ thể chứ không căn cứ vào những hệ luận huyền bí và trừu tượng.
Những kết luận về tướng cách cá nhân được rút tỉa từ hình dáng của khuôn mặt, từ
đặc điểm của cơ thể, từ màu sắc của nước da, từ đặc tính của mục quang, phong
thái đi đứng, nằm, ngồi, cười, nói, ăn ngủ cho đến âm thanh, âm lượng... Những kết
luận đó được suy diễn theo lối quy nạp. Có người lạm dụng, bất cứ việc gì cũng
đánh giá người khác qua bề ngoài, dẫn đến sai lầm trong các mối quan hệ xã hội.
Quá chú trọng vẻ bên ngoài, thường trau chuốt, xa hoa không phù hợp thực tế. Lại
có người cố tình thay đổi ngoại hình của mình để được may mắn, như xâm mày
(mày làm tướng), chấm nốt rùi (ở vị trí sinh tài lộc),…Những hành động đó đều là
sai lầm, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nhân tướng học. Cản trở sự tiến bộ
của xã hội.
Bên cạnh đó, trong xã hội lại có một bộ phận không hiểu biết nhiều về thuật
bói toán, lại tự tổ chức “hành nghề” với mục đích thu lợi cho bản thân. Lợi dụng
lòng tin của người dân, chúng thực hiện nhiều thủ đoạn bịp bợm, bất chấp hậu quả.
Nghề “làm thầy” ngày một nhiều người tham gia hơn.
Mặc dù, đã có sự can thiệp của chính quyền, nhưng những tổ chức này vẫn
hoạt động, ngày một nhiều hơn, và có ở khắp mọi nơi; dưới nhiều hình thức khác
nhau. Hoạt động này gây thiệt hại về kinh tế cho người dân, ảnh hưởng đến sinh
hoạt đời thường của họ,…Gây nên tư tưởng sống hưởng thụ, lười lao động, hoặc bi
đây, truyền thống văn hóa ấy đã bị các thanh niên một số bản, làng biến tướng
thành nạn...cướp vợ. Những nam thanh niên này không cần tìm hiểu, thậm chí
24
không hề quen biết nhau nhưng vẫn bắt về làm vợ. Bất kỳ cô con gái xinh đẹp nào
cũng có thể trở thành nạn nhân của chúng. Tại nhiều trường THPT – DTNT ở Nghệ
An, nữ sinh đã rơi vào cảnh trớ trêu, tiến thoái lưỡng nan vì tình trạng này. Nhiều
nữ sinh đang ở độ tuổi 13 – 15 đã phải bỏ dở sự học để trở thành những người vợ
bất đắc dĩ. Đã có những tiếng kêu cứu, nhiều cô gái đã lựa chọn cái chết để chống
đối tập tục này.
* Tục cúng vía (Hăng vắn)
Tục Hăng vắn (hay còn gọi là làm vía, buộc chỉ tay) là một trong những nét
văn hóa riêng, độc đáo của người Thái nói chung và đồng bào Thái ở Quỳ Châu nói
riêng, vẫn còn được duy trì đến ngày nay.
Tục cúng vía thường được tiến hành khi trong nhà có người ốm, người thân
chết hoặc mừng chẵn tháng đối với trẻ sơ sinh, mừng đón dâu, mừng khách quý lâu
ngày đến thăm gia đình...Ngày nay, tục làm vía vẫn được duy trì trong cộng đồng
người Thái nói chung và người Thái ở Quỳ Châu nói riêng. Thế nhưng, có một số
hình thức làm vía nó không còn phù hợp với sự phát triển của xã hội như làm vía
cho người ốm đau, bệnh tật mà cần phải loại bỏ vì nó mang tính chất mê tín dị
đoan. Cứ mỗi lần trong nhà mà có người ốm đau thì gia đình lại chuẩn bị lễ vật và
mời thầy cúng về làm vía, trường hợp ốm nặng thì phải chuẩn bị nhiều lễ vật và
thầy cúng nhiều ngày hơn. Chính vì vậy nó gây tốn kém lãng phí về tiền bạc thời
gian, tiền mất tật mang...
* Phong tục tang ma
Tục ngữ Thái có câu: “Dặc đí chón bon mạ, dặc kha chón bòn lườn” (Tốt
đẹp nhờ mồ nhờ mả, khấm khá nhờ nơi dựng nhà) [21; 362]. Do đó, việc tang ma
của người Thái thường được tổ chức rất chu đáo. Trong tâm thức của người Thái
nói chung và người Thái ở Quỳ Châu nói riêng, thì một người chết đi là bắt đầu tiếp