Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Ngân - K29A Ngữ Văn
A - Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỉ XXI - thế kỉ của khoa học công nghệ và thông tin phát triển mạnh
mẽ. Chính điều đó đã tác động tới đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Cơ sở hạ tầng thay đổi kéo theo sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng và giáo dục
cũng cũng là một trong những bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng đó.
Cho nên nền giáo dục không thể giữ nguyên như cũ mà phải có sự thay đổi, đổi
mới trong cách thức, phương pháp tiến hành dạy học trước xu thế phát triển của
thời đại. Vấn đề này đã được đề cập trong rất nhiều các bài báo, các chuyên luận.
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng trong bài viết: Bí quyết quan trọng nhất là
phương pháp học tập, là phong cách học tập (Dạy và học tháng 11/2002) đã
nhấn mạnh.
Phải nghiên cứu để không ngừng hoàn thiện, không ngừng đổi mới,
không ngừng nâng cao, không ngừng phát triển giáo dục về mọi mặt nhằm làm
nên lực lượng chủ yếu của sự phát triển của dân tộc, của đất nước, của con người
đi lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt phải chú ý đến sự không ngừng hiện đại hoá
phương pháp giáo dục, làm cho giáo dục ở trong tầm tay của mọi người, bằng
các phương tiện hiện đại: nghe, nhìn
Như vậy, cần phải có phương pháp dạy học mới để đáp ứng được nhu cầu
phát triển của khoa học công nghệ. Việc thiết kế bài giảng theo hướng CNHĐ có
khả năng làm được điều này. Vì thế hiện nay, có rất nhiều sự tìm tòi, ứng dụng
công nghệ thông tin trong dạy học tức là: Dạy học theo hướng công nghệ đặc
biệt là việc thiết kế giáo án điện tử (tên gọi trước đây) sau này có tên gọi là bài
giảng điện tử.
1
2
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Ngân - K29A Ngữ Văn
Để tay nghề không ngừng nâng cao, góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất
lượng, hiệu quả trong dạy học.
Thiết kế bài giảng điện tử có thể áp dụng cho các kiểu, loại bài, trong đó
có thể loại trữ tình - thơ. Do khuôn khổ của khoá luận chúng tôi đi sâu vào hai
bài thơ tiêu biểu cho hai giai đoạn văn học. Đó là Thu vịnh của Nguyễn
Khuyến và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.
Chính vì những lí do trên mà tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Thiết kế
bài giảng: Thu vịnh của Nguyễn Khuyến và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc
Tử theo công nghệ dạy học hiện đại.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Dạy học theo hướng công nghệ đã được nghiên cứu, được trình bày ở
nhiều tài liệu:
1. Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường - Phan Trọng Ngọ;
NXB ĐHSP 11/2005.
2. Những vấn đề về chương trình và quá trình dạy học - Nguyễn Hữu
Châu NXB GD 2005.
3. Công nghệ giáo dục - Hồ Ngọc Đại tập 1, 2, NXBGD 1994.
4. Công nghệ giáo dục bậc Tiểu học - TTCNGD, NN 1995.
5. Phương pháp luận dạy và học - 2IA Rez (chủ biên), NXBGD 1983.
6. Tâm lí dạy học - Hồ Ngọc Đại, NXBGD 1983.
7. Vấn đề giảng dạy các tác phẩm văn học theo thể loại - Trần Thanh
Đạm (chủ biên) NXBGD - HN, 1991.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Xây dựng cách thực hiện một bài giảng có sử dụng công nghệ thông
tin (bài giảng điện tử), bài giảng điện tử vừa thể hiện những hình thức dạy học
truyền thống và hiện đại để hiệu quả dạy văn được cao hơn, đáp ứng yêu cầu
chương trình sách giáo khoa Ngữ văn mới.
Dạy học bằng công nghệ thể hiện từ những bài giảng văn (phân tích tác
phẩm-văn bản nghệ thuật) cụ thể là văn bản thơ.
4
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Ngân - K29A Ngữ Văn
4. Mục đích nghiên cứu
Góp phần làm cho giờ dạy văn được hiệu quả trên cơ sở hiện đại hóa
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trong thời kì hiện đại này, làm cho học
sinh tiếp nhận Văn một cách hào hứng.
Xác định nội dung, cách làm của bài giảng điện tử đẻ làm rõ hướng tích
hợp của dạy học văn theo chương trình mới.
Vận dụng vào việc thiết kế bài giảng theo hướng công nghệ hiện đại
ở văn bản thơ.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp tổng hợp lí luận.
- Phương pháp hệ thống- lịch sử.
- Phương pháp thống kê, khảo sát.
-Phương pháp giả thiết, thực nghiệm.
6. Đóng góp của luận văn
B - Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc dạy học văn
theo hướng công nghệ
1. Quan niệm về dạy và học nói chung
1.1. Quan niệm thế nào là học?
Học là quá trình tương tác giữa cá thểvới môi trường, kết quả là dẫn đến
sự bền vữngvề nhận thức, thái độ hay hành vi của cá thể đó.
Học không phải là để tiếp nhận kiến thức, thông tin, không chỉ chuyển tri
thức nhân loại vào trong mỗi cá thể. Mà ngày nay, do sự phát triển của công nghệ
thông tin chúng ta có thể học mọi nơi, mọi lúc, học ở nhà, ở trên lớp. Vậy vấn đề
đặt ra là chúng ta phải học như thế nào ? Học là học cách thức, phương pháp
học.
1.2. Quan niệm thế nào là dạy?
Dạy là sự truyền lại của thế hệ trước cho thế hệ sau những kinh nghiệm
mà xã hội đã sáng tạo và tích luỹ được qua các thế hệ.
Dạy học không phải là cung cấp thông tin và mà dạy là nhằm hướng dẫn
cho người học cách thức để hệ thống hoá kiến thức (phương pháp), cách để xử lí,
phát triển kiến thức. Dạy học ngày nay phải được thao tác, thực hiện trên máy.
1.3. Quá trình dạy học
Dạy học là quá trình hoạt động thống nhất giữa giáo viên và học sinh,
trong đó hoạt động của giáo viên giữ lại vai trò chủ đạo (tổ chức, điều khiển), học
sinh tự giác, tích cực, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhằm thực hiện các
nhiệm vụ của dạy học.
7
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Ngân - K29A Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Ngân - K29A Ngữ Văn
+ Học để tự khẳng định mình.
Ngoài mục tiêu chung còn có mục tiêu trung gian, mục tiêu cụ thể, mục
tiêu cá nhân,
Như vậy, mục đích của dạy học vừa hướng vào đối tượng người học, vừa
phải thể hiện được mục đích chung nhưng phải phù hợp với từng cá nhân cụ thể.
1.3.2. Nội dung dạy học
1.3.2.1. Khái niệm
Nội dung dạy học là môi trường bên trong, là bản thể của quá trình dạy
học, toàn bộ hoạt động học và hoạt động học diễn ra trên nền tảng của nội dung
dạy học.
Nội dung dạy học được cấu thành bởi nội dung dạy và nội dung học. Dạy
cái gì? Học cái gì?
1.3.2.2. Nội dung dạy
Dạy cái gì? Nó phải được chuyển thành câu hỏi: Giáo viên phải làm gì
trong quá trình dạy học. Nói cách khác: nội dung dạy học phải được qui về hệ
thống việc làm của người dạy trong quá trình dạy học.
Như vậy: Nội dung dạy học là sự cụ thể hoá mục đích dạy học, nó quy
định: người học học gì? Và người dạy dạy cái gì?.
1.3.3. Phương pháp dạy học
1.3.3.1. Quan niệm về phương pháp dạy học (PPDH)
PPDH là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất
và dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt đến
mục đích dạy học.
PPDH là hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên, là hành
động nhận thức và thực hành có tổ chức của học sinh nhằm đảm bảo cho trò lĩnh
* PPDH mới: Do cơ chế đổi mới nên PPDH cũng có sự đổi mới: lấy HS
làm trung tâm, thầy hướng dẫn - trò thực hiện, thầy thiết kế - trò thi công. PPDH
mới này bao gồm: PP đọc sáng tạo, đọc diễn cảm; PP tái tạo; PP so sánh; PP
giảng bình; PP nêu vấn đề; PP thảo luận; đặc biệt là PPDH có sự hỗ trợ của
CNTT.
10
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Ngân - K29A Ngữ Văn
Nhận xét: Nếu PPDH truyền thống là áp đặt, kinh viện, thì PPDH mới
này do lấy HS làm trung tâm nên đã khai thác được khả năng tiềm tàng trong mỗi
học sinh và giáo viên, giúp học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của mình trong học tập, khoảng cách giữa học sinh và giáo viên, học sinh với
tài liệu học tậpcàng gần gũi, gây được hứng thú học tập cho học sinh. Cho nên
những PP này ngày càng trở nên cần thiết và sử dụng phổ biến trong quá trình
dạy học, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả trong giờ học.
* PPDH rất đa dạng cho nên chúng ta phải lựa chọn và vận dụng phối hợp
các PP là điều cần thiết vì: trong dạy học: không có phương pháp nào là vạn
năng, PP nào cũng có ưu điểm và hạn chế của nó nên chúng ta phải phối hợp các
PP, tìm ra một PPDH tối ưu (chỉ có ưu điểm mà không có nhược điểm). Tuy
nhiên, nhiệm vụ của chúng ta là vận dụng chứ không phải là tìm ra phương pháp
mới mà việc tìm ra phương pháp mới là nhiệm vụ của các nhà khoa học, chúng ta
cũng không chứng minh phương pháp nào là tốt, phương pháp nào là chưa tốt,
chưa phù hợp, chúng ta chỉ việc phối hợp các PP để tìm ra PPDH tối ưu nhằm
làm cho chất lượng giáo dục được nâng lên.
PPDH thể hiện một trình độ, Mác nói: Vấn đề không phải anh sản xuất
Do sự phát triển của kinh tế xã hội, sự tiến bộ của KHKT, ý thức vai trò
của cá nhân ngày càng nâng cao. Trong hoạt động giáo dục, người ta luôn chú ý
làm thế nào để con người phát triển nhân cách, để tiếp nhận tri thức của loài
người, chiếm lĩnh kĩ năng tri thức từ mức độ thấp đến mức độ cao, từ đơn giản
đến phức tạp, từ chưa biết đến biết và biết một cách đầy đủ sâu sắc.
Vì những lẽ trên mà dạy học theo hướng công nghệ ra đời, nó có thể tạo
ra một kiểu dạy học mới, phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS.
2.1.2. Cơ sở lí luận
Vào đầu thế kỉ XX lí thuyết hành vi xuất hiện ở Mĩ do Oát xơn (1872 1958) phát ngôn năm 1913, lí thuyết phản xạ với các thí nghiệm của Paplốp
(theo dõi con chó tiết nước bọt) , thí nghiệm 1, 2 của Skinnơ (chim chọn hạt,
chim đi theo hình số 8). Từ các thí nghiệm trên, các nhà hành vi cho rằng: trong
dạy học có thể chia nhỏ quá trình thành các bước và giao cho người học làm từng
việc một trong thời gian quy định. Quá trình dạy học này thực chất: người học
làm lại các việc mà các nhà khoa học đã trải qua. Vì thế người học mang tư cách
13
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Ngân - K29A Ngữ Văn
của các nhà khoa học, nhưng người học chỉ phát hiện lại, làm lại tri thức cho
chính mình chứ không phải tri thức cho xã hội.
Đây là bước ngoặt cho giáo dục nhưng nó vướng phải một sai lầm cho
rằng:bản thân người học chỉ như là một thứ nguyên liệu trong chương trình có
trước . Bản thân người học không hề có vai trò gì, không còn tính năng động,
không có sự chủ động, giáo dục đã biến con người trở thành rô bốt.
Đến những năm 30 của thế kỉ này có: Lý thuyết hoạt động của
Vưgôtxki (1886-1933). Điểm tựa của Vưgôtxki là triết học Mac - Lênin. Mac
thành tựu xác định cho con người.
2.2.2. Dạy học theo hướng công nghệ
Là kiểu dạy học khách quan hoá từng việc của thầy, từng việc của trò,
đảm bảo hiệu quả dạy học tất yếu như mục đích đề ra.
Dạy học theo hướng công nghệ là kiểu dạy học kiểm soát chặt chẽ quá
trình tạo ra sản phẩm, là kiểu dạy học tích hợp giữa dạy và học, giữa lí thuyết và
thực hành, vừa cung cấp tri thức, vừa phát triển những năng lực trí tuệ cho học
sinh.
Dạy học theo hướng công nghệ là dạy học có kĩ thuật, dạy học theo qui
trình khác xa so với kiểu dạy học kinh nghiệm. Vì thế có thể chuyển giao qui
trình, chuyển giao kĩ thuật đến với mọi giáo viên và mọi giáo viên nếu thực hiện
đầy đủ, nghiêm ngặt mọi thao tác, mọi công đoạn trong qui trình thì giờ dạy học
nhất định sẽ đạt được hiệu quả cao như mục đích đề ra.
2.2.3. Đặc điểm của môn Văn
Tác phẩm văn chương mang tính cá nhân, người viết văn viết bằng cả trái
tim, tình cảm của mình. Do đó, người tiếp nhận cũng phải tiếp nhận bằng cả trái
tim, bằng tình cảm, bằng cả kinh nghiệm của chính mình, để từ đó mỗi cá nhân
có thể hình dung ra chính tư tưởng của mình. Có làm được điều đó thì dạy văn và
học văn mới mang đặc thù của dạy học văn chương, không làm mất đi cái hay,
cái độc đáo, đặc sắc của tác phẩm.
Văn là một loại hình nghệ thuật, mỗi bài văn có cách tiếp cận, có con
đường đi riêng của chính nó, có cách cảm thụ, cách hiểu riêng nhưng mỗi thể loại
15
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Ngân - K29A Ngữ Văn
Phạm Thị Ngân - K29A Ngữ Văn
Theo đà đổi mới của đất nước, để đạt được hiệu quả cao trong dạy học
cũng như trong dạy văn, ngày nay chúng ta phải sử dụng nhiều thành tựu của
khoa học, những tiến bộ kĩ thuật trên thế giới để tiến hành dạy học. Muốn làm
được điều đó thì ta phải vừa quan tâm đến đầu vào, vừa quan tâm đến quá trình
dạy học (cách thức tổ chức) để đi đến hiệu quả một cách chủ động. Để làm được
điều đó thì trong dạy văn chúng ta không chỉ cung cấp thông tin cho học sinh mà
dạy văn phải cho học sinh nói ra cái riêng của mình trước tác phẩm văn học.
Như vậy, dạy văn phải cung cấp cho học sinh những kiến thức, những
hiểu biết về văn, vừa lĩnh hội, vừa phải đi tiếp từ kiến thức ấy và khái quát được
cái gì về cách thức (phương pháp). Trong dạy văn, công việc ở trên lớp của giáo
viên là dạy cho học sinh biết cách vận dụng, xử lí, phát triển tri thức để người học
lớn lên, hoàn thiện về mặt nhân cách vì Liên Hợp Quốc đã quy định học có 4 trụ
cột: học để biết, học để làm, học để chung sống, để tự khẳng định mình. Vì thế,
vấn đề dạy văn ở thời đại CNTT bùng nổ, Internet phát triển, phải chú ý dạy văn
ở hai lĩnh vực:
+ Hướng dẫn người học văn học ở nhà (ở ngoài lớp) giúp người học có
thêm thông tin xung quanh bài văn sẽ được học trên lớp.
+ Tổ chức việc học văn trên lớp: Hướng dẫn người học cách thức, phương
pháp tiếp cận tác phẩm văn học.
ở Việt Nam, dạy học văn theo hướng công nghệ thường gắn liền với
trung tâm công nghệ Giảng Võ (CGD). CGD quan niệm:
+ Nguyên tắc chung của dạy văn là biến tác phẩm của tác giả thành tác
phẩm trong mỗi HS.
+ Phân biệt: Tác phẩm và văn bản. Văn bản là phần ta có thể đọc được, còn
tác phẩm là cái chỉ có trong hình dung của mỗi bạn đọc, tác phẩm là sản phẩm
tinh thần, chỉ có trong tưởng tượng của nhà văn. Do vậy, nhiệm vụ của người dạy
mang tính khoa học; thực hiện nhiệm vụ dạy học: dạy học là chuyển nền văn
minh nhân loại vào trong mỗi cá thể và việc chuyển đó do chính mỗi người học
phải tự làm lấy, việc chuyển nó được kiểm soát theo từng thao tác nhỏ, các thao
18
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Ngân - K29A Ngữ Văn
tác ấy hợp lại thành một qui trình. Qui trình có trong tất cả mọi cách làm, dạy
học truyền thống cũng có qui trình. Nhiệm vụ của công nghệ là phải tìm ra một
qui trình nhưng phải hiện đại. ở CGD làm cho người ta hiểu: muốn thực hiện một
vấn đề mang tính khoa học phải tường minh bằng một qui trình và nêu lên tư
tưởng dạy học phải theo qui trình. Tuy nhiên vấn đề không phải chỉ dừng lại ở
qui trình cũ mà các giai đoạn sau sẽ có qui trình mới, cách làm mới. Thời đại của
chúng ta là thời đại của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật công nghệ (KHKTCN)
nổ ra như vũ bão, thời đại mà xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá đang được đẩy
mạnh. Cho nên, việc xây dựng một qui trình mới phải đáp ứng được yêu cầu của
thời đại.
Như vậy, từ công nghệ dạy văn ở bậc Tiểu học do CGD đề xuất đã gợi mở
để chúng ta xây dựng một qui trình dạy văn mới ở bậc THPT có sử dụng công
nghệ thông tin (CNTT). Đó là việc xây dựng bài giảng điện tử trong môn văn.
19
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Ngân - K29A Ngữ Văn
2. Bài giảng điện tử
Hiện nay, tên gọi giáo án điện tử được thay thế bằng tên gọi: bài giảng
điện tử. Bài giảng điện tử quan tâm đến việc thực hiện giáo án trên lớp và bài
giảng có sử dụng thiết bị hiện đại của công nghệ thông tin, thiết bị trình chiếu
(Power Point)
Bài giảng điện tử đòi hỏi không chỉ trình bày nội dung bài giảng mà còn
là cách thức phương pháp tổ chức trong dạy học bài giảng điện tử (BGĐT) phải
thể hiện được yêu cầu: Các trang trình chiếu không phải chỉ thay thế cho bảng
đen, phấn trắng mà còn thể hiện sự tương tác giữa người dạy - người học, giữa
người học với nhau (mang tính sư phạm). Trong khi đó những trang trình chiếu
của Power Point nghiêng về trình diễn, quảng cáo, dạy văn càng cần phải có sự
tương tác (vì mỗi chi tiết trong bài văn không chỉ có một đáp án mà có rất nhiều
đáp án, nhiều cách hiểu), chính vì thế Tônxtôi nói rằng: Secpiax đã tạo ra một
Hamlet nhưng người đọc đã tạo ra nhiều Hamlet của họ.
Trong dạy văn người ta đã sử dụng các trang trình chiếu, những trang
trình chiếu đã thực hiện được những công việc sau:
+ Hiển thị được văn bản (học sinh có thể quan sát trực quan)
+ Hiển thị được bố cục của bài giảng, những câu hỏi trao cho học sinh
và những câu trả lời đúng
+ Phối hợp vào bài giảng những đoạn quay viđiô, những ảnh minh minh
hoạ, những chi tiết để giờ văn sinh động hấp dẫn.
+ Đưa vào phần trình chiếu những lời đọc, lời ngâm của các nghệ sĩ.,
điều này giúp học sinh được nghe những lời đọc chuẩn, lời đọc diễn cảm.
Để làm được những điều đó thì trong dạy học bao giờ cũng phải làm
những công việc sau:
21
Phần việc cho người học làm việc trên lớp.
22
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Ngân - K29A Ngữ Văn
Tại sao chúng ta phải hướng dẫn học sinh làm những việc trên? Câu hỏi
ấy được trả lời như sau:
+ Trước đây lí thuyết phân tích tác phẩm người ta chỉ quan tâm đến:
tác phẩm - tác giả - hoàn cảnh mà tác phẩm phản ánh, mối quan hệ giữa tác
phẩm và cuộc sống còn vai trò của bạn đọc ít được quan tâm, trong khi đó bạn
đọc có vai trò rất lớn. Nếu không có bạn đọc thì tác phẩm chỉ là những ngôn
từ câm lặng. Chính bạn đọc đã khám phá giá trị của tác phẩm chứa trong
những dòng chữ câm lặng ấy. Đây là quan điểm của lí thuyết tiếp nhận. ở đó
đề cao vai trò việc làm của bạn đọc.
+ Lý do thứ hai là: Trước đây SGK Văn học gọi mỗi bài văn là tác
phẩm, còn bây giờ SGK ngữ văn hợp gọi mỗi bài văn là văn bản. Tác phẩm là
phần tinh thần có trong cuộc sống, bằng tài năng và sự quan sát của nhà văn
họ đã tái hiện trong đầu mình một tác phẩm. Sau đó, nhà văn vật chất hoá
thành văn bản bằng ngôn từ, thông qua ngôn từ ta thấy được tư tưởng, ý đồ
của tác giả gửi gắm qua tác phẩm. Còn văn bản chỉ là cái chứa đựng tác
phẩm, muốn thấy được tác phẩm thì phải có khâu đọc văn bản. Khâu này học
sinh phải làm việc ở nhà tuy nhiên cũng cần phỉ có sự hướng dẫn của thầy
giáo.
Đọc - hiểu văn bản thường được tiến hành qua những bước sau:
- Đọc thông - đọc thuộc
- Đọc kĩ, đọc sâu.
suy nghĩ của nhân vật trữ tình anh - tác giả.
Từ thế giới nghệ thuật ta hiểu được các tầng ý nghĩa: Sốt suya quan niệm
rằng: cái biểu đạt (thế giới nghệ thuật) và cái được biểu đạt (tầng ý nghĩa). Do đó
việc liên tưởng, tưởng tượng của học sinh phải dựa vào những cách hiểu của các
độc giả trước đó để đi đến cách hiểu các tầng ý nghĩa khác nhau trong văn bản.
+ Sau khi hiểu được các tầng ý nghĩa ta xác định chủ đề: đó là những điều
nhà văn muốn gửi đến bạn đọc.
24
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm Thị Ngân - K29A Ngữ Văn
Tất cả các thao tác trên phải hướng dẫn học sinh thực hiện ở nhà, chính vì
lẽ đó ta mới xây dựng một qui trình dạy Ngữ văn: học sinh phải đọc văn bản, giải
thích ngôn từ, những điển tích, điển cố, những cách phân tích, cách hiểu đã có
những lời bình khác nhau mà các độc giả khác để lại để học sinh bước đầu hiểu
được văn bản đó. Nếu làm được những công việc trên khi đến lớp chúng ta chỉ
việc tiếp nối công việc ở nhà: GV kiểm tra HS đọc văn bản ấy như thế nào thông
qua cách hiểu một số từ, một số chi tiết, hình ảnh trong văn bản; kiểm tra HS đọc
rồi cho HS tái tạo lại thế giới nghệ thuật trong tác phẩm bằng cách thuật lại, để
xem HS ý thức được thế giới nghệ thuật trong tác phẩm như thế nào; sau khi
kiểm tra xong cho HS đi sâu vào những câu hỏi tìm hiểu bài để HS hiểu được các
tầng ý nghĩa của thế giới nghệ thuật ấy, GV phải hướng dẫn cho HS cách để hiểu,
để khám phá, lấy một vài cách hiểu của thế hệ trước để thấy được họ đi theo con
đường nào để từ đó học sinh sẽ có cách hiểu của chính nó.
Kết cấu mỗi văn bản của SGK Ngữ văn mới bao gồm:
1. Kết quả cần đạt