Nghiên cứu dạy học bài tập chương dòng điện không đổi lớp 11 THPT theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐỒNG THỊ KIM THUỶ

NGHIÊN CỨU DẠY HỌC BÀI TẬP
CHƯƠNG “ DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI”LỚP 11 THPT
THEO LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN BÀI TẬP VẬT LÝ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý

Mã số: 60.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Phạm Thị Phú
NGHỆ AN, NĂM 2013


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới :
PGS.TS Phạm Thị Phú, người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi
trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học, quý thầy cô giáo khoa Vật lý Trường
Đại học Vinh.
Ban Giám hiệu, thầy cô giáo tổ Vật Lí, trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai
– TP.Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian tiến hành thực
nghiệm sư phạm.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, quý bạn hữu
và đồng nghiệp đã hết lòng giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này.

2
2
2
3
3
3
3
5

BÀI TẬP VẬT LÝ NHẰM PHÁT HUY HIỆU QUẢ CÁC CHỨC
NĂNG LÝ LUẬN DẠY HỌC CỦA BÀI TẬP………………………..
Chức năng lý luận dạy học của BTVL ……………………..………….
Khái niệm BTVL ………………………………………….……………
Chức năng của BTVL ………………………………….…………........
Phân loại BTVL ……………………………………….……………….
Các cách hướng dẫn HS giải BTVL ……………………………………
Các hình thức dạy học BTVL……………………………….………….
Lý thuyết phát triển BTVL……………………………………………..
Khái niệm phát triển BTVL ……………………………………………
Nội dung của lý thuyết phát triển BTVL……………………………….
Tại sao trong dạy học BTVL cần vận dụng lý thuyết phát triển BTVL?.
Quy trình dạy học một bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL..
Quy trình thiết kế bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL…….
Cấu trúc bài học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL……………….
Các hình thức dạy học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL…..…….
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1…………………………………………….....
Chương 2. DẠY HỌC BÀI TẬP CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN KHÔNG

5
5

Các đơn vị kiến thức cơ bản của chương “Dòng điện không đổi”……..
Cấu trúc lôgic chương “Dòng điện không đổi” chương trình chuẩn……
Thực trạng dạy học BTVL chương “Dòng điện không đổi” ở các

25
25
26
26
28
28
29
30

2.5.

trường THPT hiện nay ………………………………………………….
Xây dựng hệ thống BTVL chương “Dòng điện không đổi” theo lý 33

1.1.
1.1.1.
1.1.2.
1.1.3.
1.1.4.
1.1.5.
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
1.2.3.
1.2.4.
1.2.5.

Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……………………………….
Mục đích thực nghiệm sư phạm ………………………………………..
Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm ……………………………………….
Đối tượng thực nghiệm sư phạm ……………………………………….
Phương pháp thực nghiệm sư phạm ……………………………………
Nội dung thực nghiệm sư phạm ……………………………………….
Lựa chọn lớp đối chứng và lớp thực nghiệm …………………………..
Tiến hành thực nghiệm …………………………………………………
Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm ………………………………..
Về phương pháp dạy và học ……………………………………………
Về kết quả kiểm tra đánh giá hai bài sau thực nghiệm sư phạm ……….
Phân tích kết quả thực nghiệm …………………………………………
KẾT LUẬN …………………………………………………………….
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………...
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BTCB:
BTTH:
BT:
HS:
GV:
DHVL:
PA:
BTVL:
LLDH:
SGK:
SGV:
THPT:
TN:
ĐC:


74



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong dạy học vật lí, bài tập là một phương tiện, phương pháp có hiệu quả
thực hiện các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục, phát triển tư duy và nhiệm vụ giáo
dục kỹ thuật tổng hợp. Chính vì vậy trong thực tế, nhiều lúc, nhiều nơi đã tuyệt đối
hóa bài tập vật lí, coi DHVL có nhiệm vụ chính là dạy HS giải BTVL (đặc biệt là
các lớp luyện thi tốt nghiệp, tuyển sinh Đại học, bồi dưỡng học sinh giỏi…); Trong
hiệu sách, ngoài bộ sách giáo khoa (2 quyển) thì đa số là sách bài tập các loại, có
khi cùng một nội dung vật lí có đến hàng chục cuốn sách bài tập của nhiều tác giả;
phụ huynh và HS hoang mang trước thực trạng quá nhiều các bài tập, làm thế nào
để có thể học hết được các bài tập trong khi thời gian thì rất hạn hẹp. Thực tế này
đặt ra cho GV vật lí một câu hỏi: Dạy bài tập như thế nào để phát huy được các
chức năng LLDH, chức năng nhận thức luận của BTVL? Nếu như bài học xây
dựng kiến thức mới các mục tiêu, nội dung đã được nêu tường minh trong SGV, thì
bài học bài tập vật lí hoàn toàn do GV xác định từ mục tiêu, nội dung đến phương
pháp, phương tiện.

1


Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên rất lúng túng không biết nên dạy BTVL như
thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất. Cho nên trong các đợt thao giảng, dự giờ,
tiết dạy bài tập ít được giáo viên lựa chọn. Trong tiết dạy bài tập, thông thường giáo
viên chỉ bám sát phân phối chương trình và bài tập sách giáo khoa để ra bài tập cho
học sinh, hướng dẫn học sinh giải bài tập đó sao cho ra kết quả rồi chuyển sang bài
tập khác. Chính vì vậy mà học sinh học một cách thụ động, không phát huy được

Xây dựng hệ thống bài tập chương “Dòng điện không đổi” lớp 11 THPT và
đề xuất các phương án dạy học bài tập vật lí theo lý thuyết phát triển bài tập nhằm
phát huy các chức năng lý luận dạy học của bài tập vật lý.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Bài tập vật lí, lý thuyết phát triển bài tập vật lí.
- Quá trình dạy học vật lí.
Phạm vi nghiên cứu
Chương “ Dòng điện không đổi” lớp 11 THPT.
4. Giả thuyết khoa học
Có thể xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chương “Dòng điện không đổi”
theo lý thuyết phát triển BTVL trong dạy học nhằm phát huy hiệu quả các chức
năng LLDH của bài tập, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu LLDH bài tập vật lí ở trường phổ thông.
- Nghiên cứu, tìm hiểu lý thuyết phát triển bài tập vật lí.
- Tìm hiểu thực trạng dạy học bài tập vật lí ở một số trường THPT thuộc
quận 3 thành phố Hồ Chí Minh.
- Tìm hiểu mục tiêu dạy học chương “Dòng điện không đổi” lớp 11 THPT,
nội dung dạy học chương - cơ sở Vật lí cho việc xây dựng hệ thống bài tập vật lí
theo lý thuyết phát triển bài tập chương “Dòng điện không đổi”.
- Xây dựng hệ thống bài tập chương “Dòng điện không đổi” theo lý thuyết
phát triển BTVL.
- Đề xuất các phương án dạy học sử dụng hệ thống BTVL theo lý thuyết phát
triển bài tập đã xây dựng, nhằm phát huy hiệu quả các chức năng LLDH của BTVL.
- Thực nghiệm sư phạm các phương án dạy học đã thiết kế.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.


LÝ LUẬN DẠY HỌC CỦA BÀI TẬP
1.1. Chức năng lý luận dạy học của BTVL
1.1.1. Khái niệm bài tập vật lí
“Bài tập vật lí được hiểu là vấn đề được đặt ra đòi hỏi phải giải quyết những
suy luận lôgic, những phép toán và những thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật
các phương pháp vật lí. Hiểu theo nghĩa rộng thì mọi vấn đề xuất hiện do nghiên
cứu tài liệu giáo khoa cũng chính là một bài tập đối với học sinh. Sự định hướng tư
duy một cách tích cực là việc giải BTVL”. [9 ; 43]
1.1.2. Chức năng của BTVL
BTVL là một trong những phương tiện dạy học vật lí rất quan trọng. Thời
gian dành cho việc sử dụng loại phương tiện này chiếm một tỷ trọng lớn so với toàn
bộ chương trình. Nhiều tài liệu lí luận dạy học vật lí coi BTVL là một trong những
phương tiện thực hành. Có tài liệu coi BTVL như là một phương pháp dạy học vật
lí. Đề tài này đề cập đến BTVL với sự kết hợp cả hai cách hiểu trên.
- Xét theo lí luận dạy học thì BTVL có những chức năng sau:[4]
+ Củng cố trình độ tri thức và kĩ năng xuất phát cho HS:
Để thực hiện chức năng này thì BTVL là một phương tiện rất có hiệu quả.
Bằng cách giao cho HS giải những bài tập có nội dung và phương pháp gắn với nội
dung và phương pháp của vấn đề sắp được nghiên cứu, GV có thể giúp HS nhớ lại,
củng cố kiến thức đã học một cách vững chắc. Do đó họ sẽ vững vàng hơn khi bước
vào tiếp thu bài mới. Hơn nữa, khi thấy được sự liên quan lôgic giữa tri thức và kỹ
năng cũ với vấn đề mới, HS càng hứng thú hơn với việc tham gia xây dựng bài mới.
Bởi vì một mặt họ thấy tính hữu ích của tri thức đã học, mặt khác họ vững tin hơn
vào khả năng của mình.
+ Đặt vấn đề nhận thức:

5


Nhiều loại bài tập thực hiện chức năng này rất tốt như bài tập nghịch lý, bài


6


Các bài học có nhiệm vụ củng cố tri thức lý thuyết đơn thuần, nhưng BTVL
vẫn có thể được sử dụng rất có hiệu quả trong nhiều trường hợp: Thứ nhất, GV ra
bài tập theo một chuỗi liên kết với nhau. Để giải được loại bài tập đó, HS sẽ phải
lần lượt sử dụng đến tất cả các tri thức đã học của chương hoặc phần tri thức lý
thuyết định tổng kết và hệ thống hóa. Thứ hai, qua từng phần nhỏ tri thức đã tổng
kết, GV đưa ra những bài tập điển hình mà phải nhờ vào những tri thức ấy mới giải
quyết được. Làm như vậy vừa đỡ nhàm chán vừa giúp các em ghi nhớ được lâu
hơn, hiểu rõ bản chất vật lí hơn là việc bắt HS nhắc đi nhắc lại lý thuyết.
+ Kiểm tra, đánh giá chất lượng tri thức, kỹ năng của HS:
BTVL giúp GV kiểm tra được trình độ lĩnh hội tri thức của HS, kỹ năng thực
hành, kỹ năng tính toán, kỹ năng vận dụng lý thuyết để giải quyết những tình huống
cụ thể của thực tiễn. Ngoài ra khi dùng BTVL dưới dạng tự luận nó còn giúp GV
kiểm tra và đánh giá được năng lực tư duy và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ của HS.
- Xét theo chức năng thực hiện nhiệm vụ bộ môn:
+ Giáo dưỡng: BTVL là một phương tiện không thể thiếu. Bởi vì BTVL giúp
HS khắc sâu nội dung kiến thức, giúp họ đào sâu và xây dựng các mối liên hệ giữa
các bộ phận kiến thức với nhau. Nhờ đó mà kiến thức trở nên sống động, có ý nghĩa
trong việc giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra.
+ Phát triển: BTVL là phương tiện giúp HS phát triển năng lực nhận thức.
Thông qua việc giải BTVL, HS có được khả năng hình thành và phát triển các thao
tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp và khái quát hóa, biết lập kế hoạch giải
quyết một vấn đề, kể cả những vấn đề có tính kỹ thuật, sáng tạo. Điều này được
thực hiện khi HS quen với bài tập thí nghiệm, các bài tập gắn với giải quyết các vấn
đề thực tiễn sản xuất và đời sống. Nhờ đó mà BTVL góp phần đào tạo HS thành
những người biết nhận thức thực tiễn và cải tạo thực tiễn.
+ Giáo dục tư tưởng, đạo đức và nhân cách cho HS:

lí và những quy luật của chúng, dạy cho HS biết áp dụng kiến thức vào thực tiễn.
Việc giải các bài tập định tính này rèn luyện cho HS chú ý đến việc phân tích nội
dung vật lí của các bài tập tính toán.
- Do tác dụng về nhiều mặt như trên nên bài tập định tính được ưu tiên hàng
đầu sau khi học xong lý thuyết và trong khi luyện tập, ôn tập về vật lí.
- Bài tập định tính có thể là bài tập đơn giản, trong đó chỉ áp dụng một định
luật, một quy tắc, một phép suy luận lôgic.
1.1.3.2. Bài tập tính toán

8


- “Bài tập tính toán là những bài tập mà muốn giải chúng, ta phải thực hiện
một loạt phép tính và kết quả là thu được một đáp số định lượng, tìm giá trị một số
đại lượng vật lí. Có thể chia bài tập tính toán ra làm hai loại: bài tập tập dượt và bài
tập tổng hợp”. [9; 46]

9


- Bài tập tính toán tập dượt là những bài tập cơ bản, đơn giản, trong đó chỉ đề
cập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản.
Những bài tập này có tác dụng củng cố kiến thức cơ bản vừa học, làm cho HS hiểu
rõ ý nghĩa định luật và các công thức biểu diễn chúng, sử dụng các đơn vị vật lí và
thói quen cần thiết để giải những bài tập phức tạp hơn.
- Bài tập tính toán tổng hợp là bài tập mà muốn giải nó thì phải vận dụng
nhiều khái niệm, định luật, dùng nhiều công thức. Những kiến thức cần sử dụng
trong việc giải bài tập tổng hợp có thể là những kiến thức đã học trong nhiều bài
trước. Loại bài tập này có tác dụng đặc biệt giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức,
thấy rõ những mối liên hệ khác nhau giữa các phần của chương trình vật lí, tập cho

1.1.4.1. Hướng dẫn giải theo mẫu (hướng dẫn Algorit) [9 ; 36]
- Sự hướng dẫn hành động theo mẫu thường được gọi là hướng dẫn algorit.
Ở đây hướng dẫn algorit được dùng với ý nghĩa là một quy tắc hành động hay một
chương trình hành động được xác định một cách rõ ràng, chính xác và chặt chẽ, chỉ
cần thực hiện theo trình tự mà quy tắc đã chỉ ra thì chắc chắn sẽ đến kết quả.
- Hướng dẫn Algôrit là hướng dẫn chỉ rõ cho học sinh hành động cụ thể cần
thực hiện và trình tự thực hiện các hành động đó để đạt kết quả mong muốn. Những
hành động này được coi là hành động sơ cấp phải được học sinh hiểu một cách đơn
giản và học sinh là nắm vững.
- Kiểu hướng dẫn algorit không đòi hỏi học sinh tự mình tìm tòi xác định các
hành động cần thực hiện để giải quyết vấn đề đặt ra mà chỉ đòi hỏi học sinh chấp
hành các hành động mà giáo viên chỉ ra, cứ theo đó học sinh sẽ giải được các bài
tập đã cho. Kiểu hướng dẫn này đòi hỏi giáo viên phải phân tích một cách khoa học
việc giải bài toán để xác định một trình tự chính xác, chặt chẽ của các hành động
cần thực hiện để giải các bài toán. Cần đảm bảo cho các hành động đó là hành động
sơ cấp đối với học sinh, nghĩa là kiểu hướng dẫn này đòi hỏi phải xây dựng được
algorit bài toán.
- Kiểu hướng dẫn algorit thường được áp dụng khi cần dạy cho học sinh
phương pháp giải một bài tập điển hình nào đó, nhằm luyện tập cho học sinh kỹ
năng giải một bài toán xác định. Người ta xây dựng các algorit giải cho từng loại
bài toán cơ bản, điển hình và luyện tập cho học sinh kỹ năng giải các bài toán đó
dựa trên việc làm cho học sinh được các algorit giải.

11


- Kiểu hướng dẫn algorit có ưu điểm là bảo đảm cho học sinh giải bài toán
đã cho một cách chắc chắn, nó giúp cho việc rèn luyện kỹ năng giải bài toán của
học sinh có hiệu quả. Tuy nhiên, nếu chỉ hướng dẫn học sinh luôn luôn áp dụng
kiểu algorit để giải bài toán thì học sinh chỉ quen chấp hành những hành động đã

học sinh để thu hẹp phạm vi tìm tòi, giải quyết cho vừa sức với học sinh. Nếu học
sinh vẫn không đủ khả năng tự lực tìm tòi giải quyết thì sự hướng dẫn của giáo viên
trở thành hướng dẫn theo mẫu để đảm bảo cho học sinh hoàn thành được yêu cầu
một bước, sau đó yêu cầu học sinh tự lực tìm tòi giải quyết bước tiếp theo. Nếu cần
giáo viên giúp đỡ thêm cho đến khi giải quyết xong vấn đề đặt ra. Kiểu hướng dẫn
này được áp dụng khi có điều kiện hướng dẫn tiến trình hoạt động giải bài toán của
học sinh, nhằm giúp học sinh tự giải được bài toán đã cho, đồng thời dạy cho học
sinh cách suy nghĩ trong quá trình giải bài toán.
- Kiểu hướng dẫn này có ưu điểm kết hợp được việc thực hiện các yêu cầu:
+ Rèn luyện tư duy của học sinh trong quá trình giải toán.
+ Đảm bảo để học sinh giải được bài toán đã cho.
- Để làm tốt thì yêu cầu giáo viên phải theo sát tiến trình hoạt động giải toán
và có sự điều chỉnh thích hợp với từng đối tượng học sinh.
1.1.5. Các hình thức dạy học bài tập vật lí
1.1.5.1. Dạy học bài tập vật lí trong tiết học tài liệu mới
Vào đầu tiết học, các bài tập được đưa ra cho học sinh nhằm mục đích kiểm tra
kiến thức, hoặc để củng cố tài liệu đã học. Giáo viên thường sử dụng các biện pháp
sau:
- Cho học sinh lên bảng và yêu cầu học sinh giải bài tập do giáo viên đưa ra. Tuỳ
thuộc vào mức độ nội dung của bài tập mà có thể cho học sinh lên bảng lần lượt từng
em hoặc đồng thời vài ba em.
- Cho học sinh giải bài tập mà giáo viên đưa ra vào giấy nháp, sau đó trình bày.

13


- Sử dụng các bài tập nhằm mục đích khái quát hóa kiến thức đã cho, nêu được
vấn đề sắp được nghiên cứu trong tiết học. Khi nghiên cứu tài liệu mới, tuỳ theo nội
dung của tài liệu và phương pháp giảng dạy, các bài tập có thể là một phương tiện
đóng vai trò minh hoạ cho kiến thức mới hoặc là một phương tiện để rút ra kiến thức


- Sử dụng các tài liệu trực quan (tranh ảnh, mô hình, các video clip…) và các thí
nghiệm vật lí.
- Kết hợp làm việc tập thể và cá nhân một cách có hiệu quả.
Trước khi giải một bài tập nào đó phải hướng dẫn cho học sinh dự kiến các cách
giải theo khả năng tư duy của các em và để cho các em suy nghĩ vài phút. Trong quá
trình giải bài tập, giáo viên phải luôn lưu ý tới những học sinh còn yếu, nhắc nhở,
động viên, khích lệ và đặt ra những câu hỏi nhằm giúp các em gỡ bỏ được những
khúc mắc mà do tâm lí e ngại không dám thể hiện ra.
4. Tổng kết ra bài tập về nhà (5 phút)
1.1.5.3. Dạy học bài tập trong tiết ôn tập tổng kết hệ thống hoá kiến thức
Trong tiết ôn tập, loại bài tập thường sử dụng là các bài tập có tính phát triển,
cho phép khái quát hoá nội dung các bài tập tạo điều kiện đi sâu vào giải thích các
hiện tượng vật lí. Đặc biệt là các bài tập có tính chất tổng hợp giúp học sinh liên hệ
rộng tới các đơn vị kiến thức đã học, khắc sâu thêm kiến thức, hệ thống hoá các khái
niệm, các định luật, các công thức cần nắm để vận dụng chúng.
Cấu trúc của tiết học theo qui trình:
1. HS giải bài tập trắc nghiệm khách quan (10 phút).
2. Học sinh giải bài tập cơ bản (10 phút).
3. Giải bài tập tổng hợp (20 phút).
4. Tổng kết ra bài tập về nhà (5 phút).
1.1.5.4. Bài tập trong kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh
Bài tập kiểm tra là một phương tiện để đánh giá mức độ nắm vững kiến thức, khả
năng vận dụng kiến thức của học sinh. Khi giải bài tập, học sinh phải làm việc hoàn
toàn độc lập. Tuỳ theo việc đánh giá mà giáo viên có thể vận dụng một trong hai
hình thức sau đây:

15



Đây là một môi trường học tập hết sức thuận lợi cho cá nhân học sinh, trong các
buổi ngoại khoá học sinh được rèn luyện các kĩ năng giải quyết các bài tập khó,
được cung cấp những thông tin hấp dẫn về bộ môn từ phía giáo viên hoặc từ những
thành viên khác của nhóm như các bản tổng kết, các báo cáo nêu lên ý nghĩa của các
hiện tượng vật lí đã được nghiên cứu, được thực hành về vật lí nhiều hơn… Như
vậy, giải bài tập vật lí theo nhóm có tác dụng tích cực và trực tiếp đến kết quả học
tập của học sinh, phát triển thế giới quan, bồi dưỡng được phương pháp nhận thức
khoa học vật lí, trang bị các kĩ năng cả về tính toán cho các em.
Các cuộc thi học sinh giỏi vật lí của chúng ta hiện tại là một dạng của ngoại
khoá vật lí. Vì đề thi chưa thể hiện được phần thực hành của học sinh, nên tác dụng
giáo dục bộ môn này còn hạn chế.
Vì vậy, để công tác ngoại khoá vật lí đúng nghĩa của nó, giáo viên nên lập
nhóm học sinh yêu thích môn vật lí, tổ chức cho các em làm việc với bài tập hay và
khó tuyển chọn từ nhiều nguồn, trong đó phải lưu ý tới các bài tập hay thì mới có thể
thực hiện được mục đích của công tác ngoại khoá vật lí.
BTVL rất đa dạng và phong phú, mang đầy đủ ý nghĩa giáo dục, phát triển tư
duy, giáo dưỡng và giáo dục kĩ thuật tổng hợp. Giải BTVL đòi hỏi ở học sinh hoạt
động trí tuệ tích cực, tự lập và sáng tạo.
Dạy học bài tập vật lí phát huy được các chức năng lí luận dạy học của bài tập
và khai thác ở các hình thức dạy học khác nhau như đã trình bày ở mục 1.1 đòi hỏi
tự nghiên cứu và trải nghiệm. Có nhiều con đường xây dựng BT dùng cho dạy học
song việc tổng kết thành lí thuyết thì còn chưa được công bố nhiều.

17


Tác giả Phạm Thị Phú sau nhiều năm nghiên cứu, tổng kết, thực nghiệm qua
một số đề tài luận văn cao học đã công bố lý thuyết phát triển BTVL. Lý thuyết này
cho phép vận dụng dạy học BTVL khá thành công trong nhiều chương của giáo trình
vật lí phổ thông. Trong khuôn khổ đề tài luận văn, chúng tôi sẽ vận dụng lý thuyết

+ Xác định mục tiêu: Cần củng cố kiến thức cơ bản nào? Nội dung
của kiến thức đó, phương trình liên hệ các đại lượng, công thức biểu diễn,...
+ Chọn hoặc đặt đề bài tập.
+ Xác định dữ kiện, ẩn số.

18


+ Mô hình hoá đề bài và hướng giải.
- Từ BTCB, có thể phát triển thành những BTTH muôn hình, muôn vẻ. Về
mặt lý luận có thể khái quát thành năm hướng phát triển bài tập như sau:
Phương án 1: Hoán vị giả thiết và kết luận của BTCB để được BTCB khác có độ
khó tương đương.
BTCB cũ:

f (a, b, c, x)
Giả thiết a, b, c

Kết luận x

Cho a, b, x

Tìm c

Cho a, c, x

Tìm b

Cho b, c, x



19


Trích đoạn Mục tiêu theo chuẩn kiến thức, kỹ năng Giáo án tổng kết chương: “Dòng điện khôngđổi”
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status