Cảm hứng đăng cao trong một số bài thơ tiêu biểu của ba nhà thơ lý bạch đỗ phủ bạch cư dị - Pdf 31

Khoá luận tốt nghiệp
Mục lục
Trang
A: Phần mở đầu ....................................................................................... 2
1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................... 2
2. Lịch sử vấn đề......................................................................................... 5
3. Mục đích nghiên cứu .............................................................................. 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 9
5. Phương pháp nghiên cứu. ........................................................................ 9
B: PHầN NộI DUNG ................................................................................. 10
Chương 1: Cơ sở tâm lý của việc hình thành cảm hứng
"Đăng cao" trong thơ Lý Bạch - Đỗ Phủ - Bạch Cư Dị.......... 10
1. 1. Cơ sở tâm lý chung của việc hình thành cảm hứng "Đăng cao"trong
thơ trung đại ............................................................................................. 10
1. 1. 1. Một số đặc điểm chung về cảm thụ không gian
trong thơ trung đại ................................................................................ 10
1. 1. 2. Cơ sở tâm lý của việc hình thành cảm hứng "Đăng cao"
trong văn học trung đại. ........................................................................ 11
1. 2. Cơ sở tâm lí của việc hình thành cảm hứng Đăng cao
trong thơ Lý Bạch - Đỗ Phủ - Bạch Cư Dị. ................................................ 16
1. 2. 1. Cơ sở tâm lí của việc hình thành cảm hứng Đăng cao
trong thơ Lý Bạch. ................................................................................ 16
1. 2. 2 Cơ sở tâm lí của việc hình thành cảm hứng Đăng cao
trong thơ Đỗ Phủ. ................................................................................. 20
1. 2. 3. Cơ sở tâm lí của việc hình thành cảm hứng Đăng cao
trong thơ Bạch Cư Dị ............................................................................ 22
1. 2. 4. Tiểu kết ..................................................................................... 22
Chương 2: Cảm hứng "Đăng cao" trong một số bài thơ
tiêu biểu của ba nhà thơ Lý Bạch- Đỗ Phủ-Bạch Cư Dị....... 24
2.1. Thống kê, phân loại những bài thơ được viết bởi
cảm hứng "Đăng cao". .............................................................................. 24

đại, thơ ca Trung Quốc có lịch sử 2500 năm, ở mỗi thời kì đều có những thành
tựu nhất định, trong đó Thơ Đường được xem là một đỉnh cao chói lọi của văn
học Trung Quốc nói riêng cũng như của văn học nhân loại nói chung.
Trung Quốc đời Đường (618-907) là một quốc gia tiên tiến và văn minh
trên thế giới đương thời. Với gần 300 năm phong kiến nhà Đường, đất nước
Trung Hoa đã sáng tạo nên một nền thơ ca vĩ đại hiếm có với số lượng đồ sộ:
gần 48 000 bài thơ của hơn 2300 nhà thơ. Nhưng cái làm nên giá trị và sức
sống của Đường thi chính là nội dung ý nghĩa và vẻ đẹp tự thân của nó. Thơ
Đường phản ánh một cách toàn diện xã hội đời Đường, thể hiện quan niệm,
nhận thức, tâm tưcủa con người đời Đường một cách sâu sắc. Nội dung
phong phú ấy được thể hiện bằng hình thức hoàn mĩ, thành tựu trên các
phương diện của thơ Đường đều đạt đến đỉnh cao.
Hơn 10 thế kỉ đã trôi qua, thơ Đường vẫn tồn tại đường bệ và uy nghi như
một tòa lâu đài mĩ lệ và đầy bí ẩn, luôn thách thức sự tìm kiếm và khám phá
của người đọc. Có lẽ, đến muôn đời Đường thi vẫn luôn là mới mẻ đối với độc

Hà Hoàng Hà

K29H - Ngữ văn
2


Khóa luận tốt nghiệp
giả. Bước vào thế giới Đường thi, chúng ta bước vào một vườn hoa sắc sỡ, đầy
màu sắc với tên tuổi nổi bật của ba tác giả tiêu biểu: Lý Bạch - Đỗ Phủ - Bạch
Cư Dị. Một thi tiênLý Bạch cuồng phóng, bay bổng và lãng man; một thi
thánh Đỗ Phủ hiện thực đến xót xa, u uất mà ôm nặng mối ân tình với cuộc
đời; và một Bạch Cư Dị sắc sảo, tinh tế trong phát hiện nhưng cũng rất đa cảm
và tài hoa trong cách thể hiện. Bên cạnh đó, ở mỗi thời kì châu tuần quanh
mỗi nhà thơ lớn là những nhà thơ khác, mỗi người một giọng điệu, một dáng

xuất phát từ nhu cầu về mặt nhận thức và giãi bày tư tưởng, tình cảm của con
người thời Đường. Hơn nữa, trong sự giao thoa, tiếp xúc của văn hóa ViệtTrung, thơ Việt Nam đã sản sinh ra một nguồn thơ Đăng cao cũng rất phong
phú và sâu sắc, rất Đường. Trong thơ Thiền, Không Lộ thiền sư từng mơ
ước:
Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng
Một tiếng kêu vang lạnh cả trời
(Ngôn hoài)
Và sau này, Hồ Chí Minh trong Thượng sơn lại mở ra một vẻ đẹp
khác của thơ Đăng cao:
Hai mươi tư tháng sáu
Lên ngọn núi này chơi
Ngẩng đầu mặt trời mọc
Bên suối một nhành mai
Vì tất cả những lí do trên, thiết nghĩ việc tìm hiểu về cảm hứng đăng
cao mang một ý nghĩa to lớn và cũng có tính chất thời sự. Trong khóa luận
này, do giới hạn bởi trình độ và phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chỉ tìm hiểu về
cảm hứng đăng cao trong một số bài thơ của ba nhà thơ lớn Lý Bạch - Đỗ
Phủ - Bạch Cư Dị.
Thơ Đường là tinh hoa văn hóa nhân loại. Với việc đi tìm hiểu, phân
tích một số bài thơ của Lý Bạch - Đỗ Phủ - Bạch Cư Dị hy vọng có thể nhìn
thấy vẻ đẹp của cả đại dương qua sự lấp lánh của một giọt nước. Với phương
châm tìm hiểu tinh hoa văn hóa, văn học nước ngoài để phục vụ cho cách đánh
giá văn học dân tộc chúng tôi mong muốn đáp ứng một phần nhu cầu thưởng
thức thẩm mĩ của người đọc, góp phần tìm ra những kiến giải mới mẻ cho
việc giảng dạy thơ Đường ở nhà trường phổ thông. Và, đặc biệt giúp chúng ta
hiểu rõ hơn về nền văn học dân tộc trong mối tương quan với một nền văn học
lớn quen thuộc:Văn học Trung Quốc.

Hà Hoàng Hà


vào tầm mắt muôn trùng nước non, biển rộng trời cao. Cứ thế, nếu tiếp tục, nó
sẽ mở rộng tầm mắt ra vô tận. Với bài thơ này, Vương Chi Hoán đã trải ra
chiều rộng (sơn hải), thể hiện được cái khí thế vươn lên của con người thời
Thịnh Đường, một thời đại mà con người ước mơ và có thể thực hiện ước mơ

Hà Hoàng Hà

K29H - Ngữ văn
5


Khóa luận tốt nghiệp
lên cao - lên cao để mở rộng chân trời tri thức, chân trời cảm xúc. Lên cao để
hòa hợp với đất trời. "
Theo Nguyễn Thị Bích Hải, quan niệm về con người vũ trụ có ý nghĩa
tiên quyết trong việc lí giải cảm hứng"Đăng cao"của con người thời Đường.
Hình tượng con người vũ trụ thể hiện khát vọng được sống trong một thế giới
thái bình, thịnh trị, được mở rộng tầm mắt ra đến vô cùng, mở rộng nhận thức
ra vô tận, được tồn tại trong mối quan hệ thống nhất, tương giao với cuộc đời,
con người, thiên nhiên, vũ trụ. Vì thế họ không ngừng"Đăng cao", và đó là
những khoảnh khắc trở nên bất tử, vĩnh hẳng cùng với những kiệt tác :"Đăng
U Châu đài ca"(Trần Tử Ngang)'"Đăng Quán Tước lâu"(Vương Chi Hoán),
"Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài"(Lý Bạch), "Đăng lâu", "Đăng cao"(Đỗ
Phủ). . . . Đặc biệt, khi phân tích"Đăng U Châu đài ca", tác giả đã có những
phát hiện mới mẻ, đã dựng lên thế giới tinh thần không tĩnh lặng của thi nhân
trong khoảnh khắc ấy.
Như vậy, Nguyễn Thị Bích Hải đã đi vào lý giải thơ "Đăng cao" từ góc
độ con người vũ trụ, thiết nghĩ điều đó đúng nhưng chưa đủ. ở một số bài thơ
tác giả đã có cái nhìn sâu sắc và mới mẻ, cách lý giải phù hợp với những quy
luật nội tại của tâm lí người trung đại, tuy nhiên trên tổng thể chuyên luận

Quốc để nhìn nhận "Đăng cao". "Đọc văn thơ Trung Quốc, nhất là thơ Đường,
ta có thể thấy con người muốn hòa vào không gian. Các động tác "phủ"(cúi),
"ngưỡng"(ngẩng), "tứ cố", "cố vọng"(nhìn quanh), "đăng cao"(lên cao). . . làm
cho con người giữ được mối liên hệ hữu cơ bền chặt. Mọi cảm thức về nhân
sinh đều gắn với không gian"("Về thi pháp thơ Đường"-trang 21). Đăng cao là
một động tác mang tính quan niệm - một môtíp nghệ thuật quen thuộc trong
thơ Đường, nó thể hiện khát vọng giao hòa giữa con người và thiên nhiên. Lên
cao, con người đứng trên đỉnh cao đất trời để có thể nhìn về tứ phía, nhìn đến
tận khả năng của mình mà không bị một trở ngại nào, có thể "thu vào tầm mắt
muôn trùng nước non". Qua khát vọng chiếm lĩnh không gian, thi nhân đời
Đường đã hòa mình vào với vũ trụ, với thiên nhiên. Phân tích bài"Vọng
nhạc"("Trông núi Thái" - Đỗ Phủ) tác giả cho thấy người xưa mới chỉ trông
lên núi Thái Sơn cao ngất mà đã hàm ý muốn leo lên chót đỉnh để có thể ngạo
nghễ như núi Thái, nhìn đám núi dưới thành nhỏ bé. Như vậy lên cao để vượt
lên mọi thứ tầm thường.
Không gian là môi trường để con người tồn tại. "Không gian nghệ thuật
trong thơ Đường không chỉ gắn liền với ý thức về không gian tồn tại của con
người mà còn gắn với cách chiêm nghiệm, cách thưởng thức và cách ứng xử

Hà Hoàng Hà

K29H - Ngữ văn
7


Khóa luận tốt nghiệp
của con người trong mô hình không gian"("Về thi pháp thơ Đường" - trang
20). "Đăng cao" với tư cách là một tín hiệu nghệ thuật tiêu biểu đã kết tinh
trong đó cách chiêm nghiệm, cách ứng xử của con người. Khát vọng "đăng
cao"để mở rộng tầm nhìn, mở rộng nhận thức, đem lại vẻ đẹp hùng tráng của

8


Khóa luận tốt nghiệp
văn chương lại là môn có tính chất mở, nó không bao giờ có đáp án cuối cùng.
Với đề tài Cảm hứng Đăng cao trong một số bài thơ tiêu biểu của Lý Bạch
- Đỗ Phủ - Bạch Cư Dị chúng tôi mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc lí
giải vẻ đẹp thơ Đăng cao trong diện mạo thơ Đường, từ đó giúp bạn đọc
hiểu được vai trò, vị trí và trách nhiệm của con người trong cuộc đời và với
chính mình. Bởi tư thế Đăng caomang lại cho chúng ta cái nhìn mới mẻ có
tính chất khám phá về ngoại giới và về thế giới bên trong con người
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. 1. Đối tượng nghiên cứu
Cảm hứng Đăng cao trong một số bài thơ Đăng cao tiêu biểu của
ba nhà thơ Lý Bạch - Đỗp Phủ - Bạch Cư Dị.
4. 2. Phạm vi nghiên cứu
Với trình độ có hạn, trong khoá luận này chúng tôi không có điều kiện
để khảo sát toàn bộ thơ Đăng cao của ba nhà thơ Lý Bạch - Đỗ Phủ - Bạch
Cư Dị mà chỉ đi vào phân tích một số bài thơ Đăng cao tiêu biểu.
Chúng tôi cũng chỉ nhìn nhận, lý giải cảm hứng Đăng cao trong thơ
của ba đỉnh cao này từ góc độ tâm lý và giải mã nghệ thuật, đồng thời phân
tích một số bài thơ tiêu biểu qua đó giúp đi sâu hơn vào thế giới nghệ thuật
của ba nhà thơ, làm sáng tỏ những giá trị tư tưởng, thẩm mĩ trong thơ.
Những bài thơ Đường khảo sát trong khoá luận này được rút từ Đường
thi tuyển dịch (2 tập) - Dịch giả Lê Nguyễn Lưu, NXB Thuận Hoá. 1997.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện khóa luận chúng tôi chủ yếu sử dụng những
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp phân tích tổng hợp

người trung đại và nó mang tính chất chủ quan.
Có thể thấy trong văn học trung đại, không gian được nhìn trên hai bình
diện cơ bản là không gian trong văn học bình dân - không gian văn hóa làng
xã và không gian trong văn học bác học - với kiểu không gian vắng vẻ, u trầm,
nhàn dật. . . "Đăng cao"thuộc kiểu không gian này. Sự thể hiện của không
gian trong văn học trung đại rất đa dạng và phong phú, tựu chung lại có thể
xây dựng một vài mô hình không gian trong văn học trung đại như sau:

Hà Hoàng Hà

K29H - Ngữ văn
10


Khóa luận tốt nghiệp
Mô hình không gian được xây dựng theo cách con người cảm thụ là
trung tâm:"phủ"(cúi), "ngưỡng"(ngẩng), "tứ cố"(bốn phía). . .
Mô hình không gian được xây dựng theo hình dung về thứ bậc trên dưới: thượng giới - trần gian - địa phủ.
Một đặc điểm nữa của mô hinh không gian trung đại là không gian
được xây dựng trong ý thức của con ngươì về vị trí của mình trên cõi
đời tương quan với môi trường xung quanh (theo kiểu "ăn xem nồi, ngồi
xem hướng", "quan trên trông xuống, người ta trông vào". . . )
Tất cả hình thành một điểm nhìn siêu cá thể mang tính khách quan,
nhìn thế giới và bản thân trong toàn cảnh của con người trung đại.
1. 1. 2. Cơ sở tâm lý của việc hình thành cảm hứng "Đăng cao" trong
văn học trung đại.
Nhìn từ góc độ văn hóa, "Đăng cao" là một hoạt động mang tính lịch sử
xã hội.
Trước hết, "Đăng cao" bắt nguồn từ nghi thức tế lễ núi sông của tôn
giáo cổ đại. Theo P. Ănghen:"Tôn giáo ra đời từ sự sợ hãi, nghệ thuật ra đời từ

ngày hội đoàn tụ. . . . Sầm Tham trong "Tư Trường An cố viên " đã viết :
"Cưỡng dục đăng cao khứ
Vô nhân tống tửu lai
Dao lân cố viên cúc
Ưng bang chiến trường khai"
(Muốn gượng lên chơi núi cao,
Nhưng không ai đem rượu đến
Thương hàng cúc nơi vườn cũ cách xa,
Vẫn nở hoa cạnh bãi chiến trường)
Trong cuộc hành quân, gặp ngày trùng cửu, dù là chiến tranh loạn lạc,
nhưng nhân vật trữ tình vẫn cố gượng lên cao. "Trùng cửu đăng cao" xen vào
giữa cuộc chiến như một nốt lặng. Nhưng chiến tranh vẫn là chiến tranh, lên
cao mà chẳng có ai đưa rượu cho. Nỗi nhớ quê ngập tràn trong tâm hồn nhà
thơ. Vì không có rượu hoa cúc nên nhà thơ chợt nhớ đến cúc vườn cũ ("cố viên
cúc") và hình dung có lẽ giờ này cúc đang nở hoa trong chiến trường, cúc lặng
lẽ nở mà chẳng có ai ngắm hoa và ủ rượu. Tạo hóa sao mà vô tình. Tha hương
đã buồn, lại nghĩ đến quê hương đang chìm trong chiến tranh nên càng buồn
gấp bội .
Có thể thấy "trùng cửu đăng cao" được bắt nguồn từ tình cảm tốt đẹp
của những người thân dành cho nhau và từ khát vọng về một cuộc sống thái
bình. Chính ý nghĩa tốt đẹp này đã làm cho phong tục được lưu truyền mãi về
sau. Lên núi cao, cài cành thù du lên đầu, uống rượu hoa cúc, giữa cảnh vui
vẻ, sum vầy của ngày hội người ta làm thơ mong lưu lại cuộc vui dài lâu. Khi
đi xa, nơi đất khách ngậm ngùi nhớ lại ngày vui thủa trước lại chạnh lòng nhớ
quê, người ta lên cao để ngóng vọng, để gửi tâm hồn về với cố hương. Thơ
đăng cao hoài viễn bắt nguồn từ đó.

Hà Hoàng Hà

K29H - Ngữ văn

trong ta). Các quan niệm trên đều thống nhất ở chỗ coi con người là một tiểu
vũ trụ trong lòng đại vũ trụ, con người có mối liên quan mật thiết với đất trời.

Hà Hoàng Hà

K29H - Ngữ văn
14


Khóa luận tốt nghiệp
Quan niệm con người vũ trụ được hình thành từ thời cổ đại, đến đời
Đường nó được hoàn chỉnh và kết tinh rực rỡ. Con người vũ trụ chiếm vị trí
trung tâm trong quan niệm nghệ thuật về con người đời Đường trong thơ. Coi
con người như một mô hình đồng dạng, thu nhỏ của thiên nhiên, cho nên con
người ấy luôn mang trong mình khát vọng hòa hợp, chiếm lĩnh thiên nhiên
rộng lớn.
Lên cao và đi xa là hai cách thức để con người vũ trụ chiếm lĩnh không
gian. Đi xa để thấy được nhiều, nhưng đi xa con người đi vào nơi đất khách xa
lạ, cô độc. Hơn nữa, với phương thức này con người chỉ chiếm lĩnh được bề
rộng của thiên nhiên mà thôi. Đăng cao" mới chính là phương thức hữu hiệu
nhất để thỏa mãn khát vọng chiếm lĩnh không gian của con người vũ trụ:
"Dục cùng thiên lí mục
Cánh thướng nhất tằng lâu"
("Đăng Quán Tước lâu" - Vương Chi Hoán)
(Muốn phóng xa đến tận cùng tầm mắt
Nên lại bước lên một tầng lầu nữa)
Với "đăng cao", con người chiếm lĩnh không gian trong tính thống nhất,
toàn vẹn của nó: chiều cao - rộng - sâu. Từ vị trí trung tâm của mình, con
người chiếm lĩnh thiên nhiên với ba chiều có thực và mở rộng thêm một chiều
thứ tư: chiều hư - chiều cao tâm linh. ấy là khi con người lên cao để bừng ngộ

bộc lộ qua sáng tác, giá trị và sức sống của sự nghiệp cả đời họ theo đuổi phụ
thuộc vào cái mà họ để lại cho mai hậu là gì?. Trong khóa luận này chúng tôi
xin phân tích cơ sở tâm lí của việc hình thành cảm hứng "Đăng cao" trong thơ
Lý Bạch - Đỗ Phủ - Bạch Cư Dị chủ yếu ở phương diện đặc điểm về con
người cá nhân và đặc điểm thời đại bất như ý.
1. 2. 1. Cơ sở tâm lí của việc hình thành cảm hứng Đăng caotrong
thơ Lý Bạch.
"Thi tiên" Lý Bạch được xem là nhà thơ Đường có tư tưởng phức tạp
nhất . Lý Bạch (701 - 762) trong một gia đình thuộc tầng lớp trên trong xã hội.
Ông mang trong mình cái tự do phóng túng của dòng máu Trung á và cái lãng
mạn bay bổng thừa hưởng từ huyết quản Hán tộc. Khi còn rất trẻ ông đã thích
múa kiếm, khinh tài trọng nghĩa, thích làm hiệp khách và giỏi thơ phú. Ông
đi rất nhiều nơi, thường lên núi đọc sách và múa kiếm, năm hai mươi lăm tuổi,
ông"đeo kiếm rời nước, từ biệt cha mẹ đi xa". Cuộc đời Lý Bạch đã có ba lần
"nhập thế "với ba dấu mốc lớn đó là: năm 742, Lý Bạch về kinh đô Trường An
mang theo khát vọng thi thố tài năng chính trị nhưng thất bại. Ông nhận ra

Hà Hoàng Hà

K29H - Ngữ văn
16


Khóa luận tốt nghiệp
rằng nhà vua chỉ xem tài năng của ông như một thứ đồ trang sức để làm phong
phú thêm đời sống hưởng lạc của mình . Lần thứ hai Lý Bạch "nhập thế" đó là
năm 756 khi ông nhận lời làm quân sư cho Vĩnh Vương Lý Lân. Ông đâu ngờ
Lân có âm mưu phản bội!. Khi việc bại lộ Lý Lân bị giết, những người có liên
quan bị khép tội chết riêng Lý Bạch, vì có người bảo lãnh nên được giảm án.
Năm 761 tiếp tục tham gia đầu quân của Lý Quang Bật truy quét tàn quân của

Khóa luận tốt nghiệp
như để cố gắng tìm nguồn an ủi, lấy nó để làm dịu đi nỗi đau của những thất
bại trên con đường nhập thế. Gắn bó với Đạo gia, nhiều khi ông tỏ thái độ coi
thường Nho gia, ông theo đuổi những gì không có trong thực tế (cố gắng tìm
đến nơi tiên ở, say sưa luyện thuốc trường sinh, ôm ấp ước mơ bất tử. . . ). Mặt
khác, khi phát triển đến mức độ cực đoan thì tư tưởng đó có phần tiêu cực, ông
công khai ca ngợi những thú vui hành lạc. Chẳng hạn ông kể về cái thú vui
của việc dắt kĩ nữ đi chơi trong bài "Huề kĩ":
"Khi lên đời thực sướng sao
Rượu ngon cứ uống, lầu cao cứ chèo
Con hầu cầm quạt đi theo
Tháng năm mà mát như chiều thu sang"
Toát lên từ những câu thơ đó, ta thấy có một cái gì ung dung, nhàn tản,
tự do, tự tại đến mức hể hả mãn nguyện. Nếu như Nho (nhập thế) và Đạo (xuất
thế) giống như hai thái cực luôn dằng xé, day dứt trong tư tưởng Lý Bạch thì
có thể coi tư tưởng du hiệp chính là liều thuốc giúp ông lấy lại cân bằng: Nho
giáo thúc giục ông nhập thế, lăn xả vào cuộc đời tạo lập công danh sự nghiệp,
tạo lập cho mình một dấu ấn để lại cho mai hậu: Đạo giáo thổi vào ông cái
nhìn ngạo nghễ, khinh bạc, vượt lên và coi thường tất cả, lắng lại những đua
chen, toan tính, để lại sau lưng cái ồn ã, xô bồ của cõi nhân gian để tiêu dao
với những thú vui thoát tục; Vậy thì cuối cùng, trong tư tưởng vị "trích
tiên"này cái gì còn đậu lại? Cái gì dẫn dắt, chỉ lối giúp ông đi đúng giữa ranh
giới của hai bờ xuất - nhập? Đó chính là mục đích sống vì nghĩa và tự do của
tư tưởng du hiệp. Các hiệp sĩ sống bằng hai nguyên tắc cơ bản: đặc biệt đề cao
tự do và không chấp nhận sự bất công trong xã hội. Những nguyên tắc cơ bản
này gần như cũng trở thành tôn chỉ sống của Lý Bạch bởi ông là người ưa tự
do và khao khát sự công bằng. Có rất nhiều câu thơ của Lý Bạch thể hiện tư
tưởng này:
"Mong được giúp chúa hiền
Công thành về rừng cũ"

(Tạm bạn nguyệt tương ảnh
Hành lạc tu cập xuân)
(Nguyệt dạ độc trước - Kỳ nhất)
Lý Bạch một đời ngao du, bạn bè rất nhiều, thế mà cuối cùng "Tạm
cùng trăng cới bóng ", chỉ có "trăng" với "bóng" là hai người bạn thủy chung
nhất có thể hiểu được những suy tư trong sâu thẳm tâm hồn thi sĩ. Thế mới

Hà Hoàng Hà

K29H - Ngữ văn
19


Khóa luận tốt nghiệp
biết ông cô độc đến nhường nào!. ở Lý Bạch nhiều khi còn là sự mâu thuẫn
lớn, đó không chỉ là sự mâu thuẫn giữa lý tưởng và hiện thực, mà còn là sự
mâu thuẫn trong chính tư tưởng của ông. Cùng nói về chữ "chí" nhưng ở
những trường hợp khác nhau lại quá cách xa nhau về ý nghĩa, thậm chí đối lập
nhau:
Ông viết:
"Qua sông thề với nước
Chí muốn yên cõi bờ"
Nhưng rồi:
Coi đời như mộng lớn
Làm chi cho nhọc thân
Suốt ngày say túy lúy
Lăn kềnh ngủ trước sân"
("Ngày xuân say rượu tỉnh dậy nói chí")
Tóm lại, có thể hiểu rằng Lý Bach là nhà thơ có tư tưởng rất phức tạp,
những phức tạp ấy co nguyên nhân từ chính đặc điểm cuộc đời, từ nguồn gốc

và giam giữ trong hai năm. Ông tìm cách vượt vòng vây về ra mắt vua và được
ban chức Tả thập di (Quan can dán). Nhưng ngay sau đó bị cách chức vì can
dán vượt quyền. Sự kiện này khiến ông rất đau lòng, nó đánh dấu sự đổ vỡ
hoàn toàn niềm tin trong ông về ước mong giúp nước cứu đời. Đỗ Phủ lần tìm
gia đình đang lưu lạc ở phía bắc và bắt đầu cuộc đời chạy loạn liên tục. Có
thể nói, trong loạn An-Sử (từ 755 đến 763), số phận của triều đại, nỗi cùng
khổ của nhân dân lao động, đời sống xa hoa trụy lạc của giai cấp thống trị,
những khổ đau, bất hạnh của bản thân và gia đình. . . đã giúp Đỗ Phủ trong
một khoảng thời gian rất ngắn sáng tạo được một số lượng tác phẩm phong
phú mang giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo rất cao.
Vào những năm cuối đời Đỗ Phủ cùng gia đình xuống thuyền trôi dạt
khắp các miền sông hồ. Năm 770, vì đói rét và bệnh tật ông đã chút hơi thở
cuối cùng trên một con thuyền rách nát giữa sông Tương, chấm dứt cuộc đời
đầy bi thảm của một nhà thơ hiện thực vĩ đại. Bàn về cuộc đời thi thánh Đỗ
Phủ, Tiễn Bá Tân - một học giả Trung Quốc nói rằng: "Từ buổi trung niên trở
về sau, một quan phế chuất, muôn dặm chạy hoài, đói rét, rừng hoang, bệnh
già, thuyền lẻ. Cái thảm đạm của đời ông quả là chưa từng thấy xưa nay".
"Đăng cao" chỉ là một phần rất nhỏ trong cảm hứng thơ Đỗ Phủ, nhưng
chiếu rọi nguồn cảm hứng ấy vào những khổ đau, những bi kịch của cuộc đời

Hà Hoàng Hà

K29H - Ngữ văn
21


Khóa luận tốt nghiệp
Đỡ Phủ chúng ta sẽ thấm thía hơn tính nhân văn cao đẹp trong tâm hồn nhà
thơ vĩ đại này
1. 2. 3. Cơ sở tâm lí của việc hình thành cảm hứng Đăng cao trong

22


Khóa luận tốt nghiệp
những hình tượng nghệ thuật lại quay trở về phục vụ đời sống. Nói như thế có
phần mang tính chất lý luận thuần túy khi chưa soi vào một đối tượng cụ thể
nào. Tựu chung lại, ở phần I chúng tôi muốn làm sáng tỏ một cách khái quát
nhất những đặc điểm về cảm hứng "đăng cao" trong thơ Lý Bạch - Đỗ Phủ Bạch Cư Dị, nghĩa là muốn làm sáng tỏ mục đích "đăng cao"của ba nhà thơ.
Người trung đại lên cao để giãi bày tư tưởng, tình cảm, để biểu đạt cái khoáng
đạt, cái dạt dào trong tâm hồn mình, và, đặc biệt họ lên cao còn để tự nhận
thức: nhận thức về những cái đã qua, những gì sẽ tới, và nhận thức về chính
thế giới bên trong con người .

Hà Hoàng Hà

K29H - Ngữ văn
23


Khóa luận tốt nghiệp

Chương 2
Cảm hứng "Đăng cao" trong một số bài thơ
tiêu biểu của ba nhà thơ
Lý Bạch - Đỗ Phủ - Bạch Cư Dị

2.1. Thống kê, phân loại những bài thơ được viết bởi cảm hứng "Đăng
cao".
2. 1. 1. Tiêu chí phân loại
Khi tiến hành khảo sát thơ Lý Bạch- Đỗ Phủ- Bạch Cư Dị chúng tôi

đó về không gian "đăng cao" trong thơ Lý Bạch- Đỗ Phủ- Bạch Cư Dị chúng
tôi xin phân làm hai trạng thái cơ bản: không gian thực và không gian mộng.
Tất nhiên sự phân loại này chỉ là tương đối vì một bài thơ hàm chứa trong nó
rất nhiều tầng nghĩa phong phú và đa dạng. bầu trời và thiên nhiên là cái nền
của thơ Đường, nó được thể hiện trong cái nhìn bao quát nhiều chiều. Trên cái
phông thẩm mĩ đó con người xuất hiện và bộc lộ tâm tư, tình cảm, cảm xúc,
của mình. "Đăng cao" là một động thái đưa con người vận động vào vị trí
trung tâm vũ trụ. Do đó thơ " đăng cao" được thể hiện qua thiên nhiên và vì
thiên nhiên. Vấn đề đặt ra ở đây là: thưởng ngoạn cảnh đẹp có phải là mục
đích cuối cùng mà thơ "đăng cao" nhằm tới không hay thiên nhiên chỉ là cái
cớ để bộc lộ những nội dung khác? Như vậy có nghĩa là bất cứ bài thơ "đăng
cao"cũng đều miêu tả thiên nhiên nhưng không phải mục đích đạt tới là
thưởng ngoạn. mà lên cao ngắm cảnh, từ cảnh đẹp đó gợi mở ra những chân
trời nhận thức mới, mởi ra một lối về kí ức, một nỗi nhớ bâng khuâng về bạn
cũ, về cố hương hay về chính thế giới bên trong tâm hồn mình.
Như vậy thiên nhiên chỉ là cái cớ để tạo ra những suy tư của con người.
Lên cao, khi con người đối diện với chính mình trước thiên nhiên rộng lớn
cũng là lúc mọi suy nghĩ đều xuất phát từ trực cảm về thiên nhiên trước mắt
rồi mở dần ra những trường liên tưởng khác nhau: quá khứ- hiện- tương lai.

Hà Hoàng Hà

K29H - Ngữ văn
25


Trích đoạn "Đăng cao" từ hướng ngoại đến hướng nội (Không gian "Đăng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status