Dạy học nội dung thao tác lập luận bác bỏ trong SGK ngữ văn 11 - Pdf 31

Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài

3

2.

Lịch sử vấn đề

4

3.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

8

4.

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

9

5.

13

1.2.1. Thao tác chứng minh

13

1.2.2. Thao tác giải thích

14

1.2.3. Thao tác phân tích

15

1.2.4. Thao tác tổng hợp

17

1.2.5. Thao tác lập luận so sánh

18

1.2.6. Thao tác lập luận bình luận

19

1.3.

Thao tác lập luận bác bỏ trong văn bản nghị luận


28

2.2. Việc dạy- học nội dung “Thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK 29
Ngữ văn 11
2.2.1. Việc dạy nội dung "Thao tác lập luận bác bỏ" của giáo viên

30

2.2.2. Việc học nội dung "Thao tác lập luận bác bỏ" của học sinh

30

2.3. Nội dung cơ bản của “ Thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn

31

2.3.1. Nội dung bài lí thuyết

32

2.3.2. Nội dung bài thực hành

34

2.4. Qui trình dạy học bài “ Thao tác lập luận bác bỏ”

35

2.5. Qui trình dạy học bài “ Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ”


40

3.4.2. Giáo án 2

64

3.5. Kết quả thực nghiệm

73

KẾT LUẬN

NguyÔn ThÞ §Ëu

83

2

K32D - Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

Tài liệu tham khảo

84

Phụ lục

thực sự quan tâm và đưa bác bỏ vào nội dung chương trình Làm văn, với bài học
cụ thể là: “ Thao tác lập luận bác bỏ’’ SGK Ngữ văn 11, tập 2.
Do đây là vấn đề mới, kiến thức khó nên việc dạy học bài “ Thao tác lập luận
bác bỏ” của giáo viên và học sinh còn gặp nhiều khó khăn. Giáo viên còn cảm
thấy lúng túng khi dạy. Học sinh còn e ngại sợ sệt khi học vì đây là vấn đề mới.
Điều này dẫn đến tình trạng luẩn quẩn khi áp dụng vào bài làm. Thậm chí còn có

NguyÔn ThÞ §Ëu

4

K32D - Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

học sinh không biết cách bác bỏ, không biết cách lập luận hoặc lập luận không
chính xác. Do vậy bài làm không có sức thuyết phục.
Vậy, làm thế nào để việc dạy việc học đạt hiệu quả? Đó chính là lý do vì sao
chúng tôi chọn đề tài “ Dạy học bài “ Thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK
Ngữ văn 11, tập 2.”
2. Lịch sử vấn đề
Trong các công trình Làm văn hiện nay, có thể khẳng định một điều rằng: bác
bỏ là một thao tác lập luận còn khá mới mẻ chưa được nhỉều tác giả quan tâm
nghiên cứu. Tuy vậy có thể kể đến một số công trình như:
* Trong cuốn Làm văn 12 ( Tài liệu giáo khoa thí điểm: Ban khoa học Tự
nhiên, Ban khoa học Tự nhiên- Kĩ thuật) các tác giả Trần Đình Sử (Chủ biên),
Trần Đăng Suyền, NXB Giáo dục, 1995 [15, 3] có đề cập đến vấn đề “ Phản bác

róc.
Trong những trường hợp như vậy, sự phản bác đều có tác dụng vạch ra
khuyết điểm để khắc phục, nâng cao trình độ hiểu biết và đánh giá sự vật.
“ Phản bác là bàn bạc để tìm ra chân lý, vạch ra những chỗ “vô lí”, “ thiếu lí”.
Do vậy “phản bác” phải đảm bảo những yêu cầu sau:
+ Phải có tính chân thực, khoa học, khách quan.
+ Người phản bác phải đọc kĩ ý kiến định phản bác, cần hiểu ý kiến đó trong
tính toàn vẹn, trong ý định khoa học, trong luận đề, trong lịch sử vấn đề, trong
luận cứ và luận chứng. Phản bác phải lựa chọn những vấn đề đích đáng, không
phải là việc vạch lá tìm sâu, chấp vặt. Có như vậy thì ý kiến phản bác mới có ý
nghĩa và có sức thuyết phục. Thái độ phản bác đúng đắn, lập trường phản bác
chính nghĩa sẽ có tác dụng nâng cao nhân cách người phản bác. Trong trường
hợp ngược lại thì phản bác có thể làm hại tư cách người phản bác.
+ Ngoài yêu cầu về thái độ, phương pháp còn có yêu cầu về kĩ thuật, luận
chứng và hành văn. Bài phản bác phải trình bày rõ ràng, khúc chiết, có sai lầm
của ý kiến sai và trình bày rõ ràng ý kiến đúng của mình, tránh nước đôi nhập
nhằng hiểu thế nào cũng được.
Phương pháp phản bác thì có:
+ Phản bác luận điểm.
+ Phản bác luận cứ.

NguyÔn ThÞ §Ëu

6

K32D - Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2


7

K32D - Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

* Song song với bộ SGK do tác giả Phan Trọng Luận (chủ biên), tác giả Trần
Đình Sử ( Tổng chủ biên) cũng đưa bài học về “Lập luận bác bỏ” vào trong
chương trình SGK thí điểm, Ban Khoa học Xã hội và Nhân văn, bộ 1, tập 2, Ngữ
văn 11, NXB Giáo dục, 2004 với các bài cụ thể như sau:
1. Lập luận bác bỏ trong văn nghị luận (2 tiết)
2. Viết đoạn văn lập luận bác bỏ (1 tiết)
3. Luyện nói bác bỏ trong thảo luận, tranh luận (1 tiết)
Sau đó tác giả cũng đưa ra khái niệm lập luận bác bỏ, yêu cầu về bác bỏ, thao
tác lập luận bác bỏ và luyện tập về viết đoạn văn bác bỏ, luyện nói bác bỏ trong
tranh luận, thảo luận.
Về khái niệm lập luận bác bỏ: tức là chứng minh sự việc, ý kiến nào đó là sai.
Sai tức là không đúng sự thật, trái lôgic, quy kết quá đáng nên chưa đúng bản
chất.
Muốn bác bỏ có sức thuyết phục thì phải tuyệt đối tôn trọng sự thật, tôn trọng
ý kiến của đối phương, không xuyên tạc, không bịa đặt, tìm bằng chứng đáng tin
cậy thì mới có sức thuyết phục
Thao tác lập luận bác bỏ cũng có ba cách là:
+ Bác bỏ luận điểm: Muốn bác bỏ luận điểm thì trước hết hãy trích dẫn đầy
đủ luận điểm đó một cách khách quan, trung thực để làm đích bác bỏ.
Có nhiều cách bác bỏ luận điểm:
 Dùng thực tế để bác bỏ.

xác trong việc sử dụng thao tác lập luận này để trình bày một vấn đề hợp lí và
thuyết phục.
Trong khi đó việc dạy học thao tác lập luận bác bỏ trong SGK Ngữ văn 11
cần phải dựa trên một cơ sở lí thuyết thống nhất, hợp lí để học sinh thực sự hiểu
và biết vận dụng những tri thức đó vào bài viết hoặc vấn đề gặp phải trong cuộc
sống hàng ngày.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ việc xác định ra những tri thức cơ bản của thao tác lập luận bác bỏ,
chúng tôi hướng tới mục đích là: Tổ chức dạy học nội dung này cho học sinh,

NguyÔn ThÞ §Ëu

9

K32D - Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

qua đó góp phần giúp cho học sinh có đủ kiến thức và tự tin khi sử dụng thao tác
lập luận bác bỏ, cũng như vận dụng kết hợp thao tác lập luận này với các thao tác
lập luận khác như phân tích, chứng minh, so sánh....để làm bài văn nghị luận đạt
hiệu quả cao.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích của đề tài, khóa luận phải hướng tới những nhiệm
vụ cơ bản sau:
 Trình bày hệ thống những kiến thức cơ bản về thao tác lập luận bác

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
6. Đóng góp của khóa luận
Với khóa luận này, chúng tôi mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào
việc tìm ra những hướng dạy học Làm văn để hoạt động dạy học đạt hiệu quả
cao nhất. Đồng thời thông qua nội dung về lập luận bác bỏ chúng tôi mong muốn
việc vận dụng thao tác này của học sinh trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận
để văn bản của các em thực sự có giá trị.
7. Bố cục của khóa luận
Khóa luận bao gồm 3 phần:
- Phần : Mở đầu
- Phần : Nội dung
- Phần : Kết luận
Riêng phần Nội dung có 3 chương:
 Chương 1: Thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận.
 Chương 2: Dạy học nội dung “Thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK
Ngữ văn 11.
 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

NguyÔn ThÞ §Ëu

11

K32D - Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

NỘI DUNG


K32D - Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy nước trong hồ luôn sạch và mang
lại sự sống cho cây cối, muông thú, con người.
Một định lý trong cuộc sống mà ai cũng đồng tình: Một ánh lửa sẻ chia là
một ánh lửa lan toả, một đồng tiền kinh doanh là một đồng tiền sinh lợi. Đôi
môi có hé mở mới thu nhận được nụ cười. Bàn tay có mở rộng trao ban, tâm
hồn mới tràn ngập vui sướng.
Thật bất hạnh cho ai cả cuộc đời chỉ biết giữ cho riêng mình “ Sự sống”
trong họ rồi cũng sẽ chết dần chết mòn như nước trong lòng biển Chết....”
( Theo “ Quà tặng cuộc sống”)
Bài văn trên gồm 4 đoạn. Đoạn đầu và đoạn thứ hai kể chuyện về hai biển hồ (
biển Chết và biển Galilê ) ở Palextin. Hai đoạn văn này có giọng văn tự sự. Đến
đoạn thứ ba cách hành văn thay đổi hẳn, người viết từ thực tế về hai biển hồ đưa
ra những suy ngẫm, những triết lí về cuộc sống, về cách sống ở trên đời. Và vấn
đề cần bàn bạc ở đây chính là hai cách sống trái ngược nhau: sống chia sẻ, chan
hoà, cởi mở với mọi người thì sẽ có hạnh phúc. Còn ngược lại sống khép kín chỉ
biết giữ cho riêng mình thì thật bất hạnh. Để làm sáng tỏ luận điểm, tác giả đã
khéo léo sử dụng thao tác chứng minh, giải thích, phân tích, bình luận xung
quanh câu chuyện rất sinh động về hai biển hồ. Hai biển hồ cùng tiếp nhận nguồn
nước từ sông Gioócđăng. Nhưng kì lạ là cùng có khởi nguồn, khi chảy vào biển
Chết, biển Chết đón nhận và giữ riêng cho mình nên nước trở nên mặn chát,
không có một sinh vật nào sống trong biển Chết, không có loại cá nào sống nổi
và ai ai cũng đều không muốn sống gần đó. Ngược lại, biển hồ Galilê thì sự vật

chứng nhằm làm sáng tỏ vấn đề để người đọc hiểu, tin, đồng tình với điều mà
người viết đặt ra và giải quyết. Chính vì vậy mà chương trình SGK Ngữ văn
trung học phổ thông đã trình bày một chuỗi những bài học về các thao tác lập
luận như phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận....Trước khi đi tìm hiểu khái quát
từng thao tác trên đặc biệt là thao tác lập luận bác bỏ, chúng ta phải tìm hiểu “
thao tác” là gì?
Thao tác được hiểu một cách đơn giản là việc thực hiện những động tác theo
trình tự và yêu cầu kĩ thuật nhất định.
Để tạo lập một văn bản nghị luận, trong quá trình triển khai nội dung văn bản
nhiều khi người viết phải sử dụng đến các thao tác. Những thao tác đó gọi là thao
tác nghị luận. Thao tác nghị luận chính là những động tác được thực hiện theo
trình tự và yêu cầu kĩ thuật được quy định trong hoạt động nghị luận nhằm đạt

NguyÔn ThÞ §Ëu

14

K32D - Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

đến một mục đích nhất định. Trong văn nghị luận chúng ta thường gặp các thao
tác như chứng minh, giải thích, bình luận, so sánh, bác bỏ....Cụ thể như sau:
1.2.1. Thao tác chứng minh
Chứng minh là một thao tác lập luận. Đặc điểm cơ bản của thao tác này là
người viết dùng lí lẽ và dẫn chứng để minh chứng xác nhận, khẳng định, bênh
vực một cách chắc chắn sự đúng đắn của một ý kiến, một nhận định, một vấn đề


Giải thích là thao tác làm cho người khác hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu đầy đủ một
vấn đề bằng lí lẽ (có dẫn chứng hỗ trợ). Trong làm văn nghị luận giải thích là một
thao tác được thực hiện nhằm lí giải hoặc làm rõ vấn đề và qua đó người viết có
thể bàn luận một cách cụ thể, sâu sắc nội dung của vấn đề đó. Giải thích thường
là một quá trình diễn dịch: đi từ một khái niệm, một nhận thức khái quát đến
những cái cụ thể, sinh động, dễ hiểu hơn.
Khi sử dụng thao tác giải thích cần phải tiến hành theo trình tự các bước sau:
+ Xác định nội dung vấn đề cần bàn luận.
+ Tìm nội dung, các bộ phận, các từ, ngữ trong vấn đề được trình bày một
cách chưa rõ ràng cần được giải thích.
+ Tiến hành giải thích bằng cách nêu định nghĩa, nêu biểu hiện, nêu nguyên
nhân, chỉ ra các mặt lợi, hại của vấn đề cần giải thích. Sau đó người viết có thể
phân tích hoặc tổng hợp hoặc chứng minh, bình luận nội dung của vấn đề vừa
giải thích.
+ Chốt lại vấn đề.
Như vậy có thể nói rằng trong bài văn nghị luận, thao tác giải thích là một
thao tác lập luận quan trọng. Nó giúp cho người đọc (người nghe) hiểu được
vấn đề một cách cặn kẽ, rõ ràng và người viết tạo được sức hấp dẫn, thuyết
phục trong bài văn nghị luận của mình.
1.2.3. Thao tác lập luận phân tích
Mỗi sự vật, hiện tượng bao giờ cũng được tạo bởi nhiều yếu tố. Các yếu tố
này không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau trong
một chỉnh thể thống nhất. Trong quá trình nhận thức, việc chia nhỏ đối tượng
thành nhiều yếu tố sâu chuỗi xem xét một cách kĩ càng nội dung và mối quan hệ
bên trong cũng như bên ngoài của chúng gọi là phân tích.

NguyÔn ThÞ §Ëu

16

+ Phải đáp ứng tốt nhất cho mục đích thực hiện. Khi phân tích vấn đề chúng
ta cần căn cứ vào mục đích phân tích vấn đề, phải xác định cụ thể phân tích vấn
đề như vậy để làm gì? Từ việc xác định mục đích phân tích như thế, chúng ta

NguyÔn ThÞ §Ëu

17

K32D - Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

lựa chọn cách thức phân chia vấn đề sao cho tương ứng với mục đích thực hiện
thao tác này.
+ Khi phân tích vấn đề, chúng ta phải phân chia theo cùng một cơ sở.
Thông thường, chúng ta chọn mục đích phân tích để làm cơ sở phân chia.
+ Phải tuân theo nguyên tắc cấp bậc khi phân chia. Tức là chia thành các bộ
phận lớn rồi tiếp tục chia thành các bộ phận nhỏ, không được phân chia một
cách nhảy vọt, thiếu tính hệ thống.
Trong văn bản nghị luận, thao tác phân tích nhằm giúp cho người tiếp nhận
văn bản có thể hiểu rõ từng khía cạnh của vấn đề bàn luận.
1.2.4. Thao tác tổng hợp
Khi tạo lập văn bản nghị luận, kết quả của sự phân tích mới chỉ cho phép
hiểu về các bộ phận riêng lẻ mà chưa hiểu biết hoàn chỉnh về đối tượng. Muốn
nhìn nhận đối tượng trong sự thống nhất hữu cơ của nó thì người viết sử dụng
tới thao tác lập luận tổng hợp.
Tổng hợp là thao tác ngược lại với phân tích. Tổng hợp có nghĩa là gom lại

luận.
Trong bài văn nghị luận, thao tác tổng hợp thường được thể hiện trong một
vài câu văn. Thông thường đó là cách để người viết chốt lại vấn đề hoặc kết
luận cho một nội dung nào đấy.
Trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận, phân tích và tổng hợp là hai
thao tác có mối quan hệ mật thiết với nhau. Phân tích là thao tác giúp cho con
người nhận thức vấn đề trong từng biểu hiện, từng khía cạnh của chúng, còn
tổng hợp là thao tác giúp cho con người có thể bao quát toàn bộ vấn đề.
1.2.5. Thao tác lập luận so sánh
So sánh cũng là một thao tác lập luận được dùng để tìm ra điểm giống nhau
và khác nhau giữa các đối tượng và qua sự so sánh ấy mà giúp cho con người
nhận thấy rõ đặc điểm, vai trò, giá trị của vấn đề được bàn luận.
Khi tiến hành so sánh, người viết phải có cách so sánh linh hoạt mềm dẻo
nếu không cẩn thận sẽ rơi vào tình trạng so sánh các yếu tố khồng tương đồng
dẫn tới sai lệch, lầm lạc.
Yêu cầu khi tiến hành so sánh (cách so sánh) là:

NguyÔn ThÞ §Ëu

19

K32D - Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

+ Đối tượng (sự vật hiện tượng...) đưa ra so sánh phải có mối liên quan với
nhau về một mặt, một phương diện nào đó.


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Khãa luËn tèt nghiÖp

Chú ý trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận, cần phải biết sử dụng kết
hợp các thao tác lập luận một cách linh hoạt mềm dẻo, tránh khô cứng qua đó
làm nổi bật vấn đề nghị luận.
1.3.

Thao tác lập luận bác bỏ trong văn bản nghị luận

1.3.1. Khái niệm lập luận bác bỏ
Trong thực tế đời sống, cũng như trong văn bản nghị luận, có rất nhiều ý
kiến sai lầm cần phải phê phán. Phê phán ý kiến sai, bảo vệ ý kiến đúng sao cho
hiệu quả và thuyết phục là một việc làm không hề đơn giản. Để làm được điều
đó, chúng ta phải sử dụng thao tác lập luận bác bỏ. Vậy khái niệm lập luận bác
bỏ là gì?
Theo Thiều Chiểu, chữ “bác” trong “ bác bỏ” vốn có nghĩa là “ con ngựa
đốm loang lổ sắc màu”, rồi sau đó mới phát triển lên để mang một trong những
nét nghĩa là “ nói bẻ lại”, “ phủ định ý kiến của đối phương”, “ gạt bỏ bằng lí lẽ,
quan điểm, ý kiến của người khác”, “ phản đối lời bàn bạc của người ta và chỉ
trích chỗ sai lầm”. Còn hiểu theo nghĩa chiết tự Hán Việt thì “ bác” là phản bác,
“ bỏ” là gạt đi, bỏ đi. “ Bác bỏ” là phản bác để gạt đi, bỏ đi một ý kiến, một
nhận xét không chính xác.
Trong làm văn nghị luận, bác bỏ là một kiểu lập luận nhằm phủ nhận một ý
kiến, một kết luận về một hiện tượng, một vấn đề bằng cách dùng thao tác bác
bỏ để chỉ ra một cách rõ ràng, tường tận, thấu đáo những sự vô lí, sai lầm của
nó. Qua đó giúp người đọc ( người nghe) nhìn nhận hiện tượng vấn đề một cách
đúng đắn, xác thực hơn. Để hiểu rõ hơn khái niệm này, chúng ta xét ngữ liệu

bài viết cũng đã trả lời theo một cách thức thông thường “ học để làm người”.
Vậy không học không làm người được sao?. Câu hỏi lật ngược vấn đề đã tạo ra
một tình huống giả định độc đáo. Trong đó nhân vật phản diện ( giả định) nêu
ra một ý kiến phản bác còn tác giả sẽ là người bảo vệ chứng minh. “Vậy thì
không học không làm người được sao?”. Kìa như ông Hán Cao Tổ không học
mà làm một ông vua anh hùng; ông Hoắc Quang không học mà làm lên công
nghiệp lớn”. Rõ ràng cách lí giải của tác giả cho thấy phải hiểu chữ “ học” theo
nghĩa rộng, không nhất thiết phải đến trường mới là học mà việc học cũng

NguyÔn ThÞ §Ëu

22

K32D - Ng÷ V¨n


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

khụng nhm nm bt tri thc k nng. Hc õy ch yu l hc nhõn cỏch, hc
hon thin mỡnh. Cú th hc trng nhng cng cú th hc gia ỡnh v
xó hi.
Cú th núi rng nh bỏc b m ta cú th hiu rừ vn : Hc lm gỡ? Hc lm ngi. Cõu hi tht d tr li nhng cng tht khú lớ gii cho
thuyt phc. Thao tỏc lp lun bỏc b ó c s dng phỏt huy hiu qu.
Cõu tr li hc lm ngi l chớnh xỏc. Nh vy, nh cú bỏc b, tỏc gi ó
t vn , t mt suy ngh cha chớnh xỏc dn ngi c n vi mt chõn
lớ. Cỏch din t nh vy cng gn ging mt hỡnh thc chng minh- chng
minh cho mt chõn lớ khoa hc ỳng n. Cng vỡ th, khi núi n cỏc thao tỏc
lụ gic t duy, Vng Tt t khng nh: Chng minh l thao tỏc lụ gic dựng

đã nói:
“ Tiền bạc không phải là vạn năng
Nó có thể mua được chiếu giường, nhưng không mua được giấc ngủ.
Nó có thể mua được châu ngọc, nhưng không mua được sắc đẹp.
Nó có thể mua được giấy bút, nhưng không mua được ý thơ.
Nó có thể mua được nhà cửa, nhưng không mua được gia đình.
Nó có thể mua được thức ăn, nhưng không mua được sự ngon miệng.
Nó có thể mua được trò chơi, nhưng không mua được niềm vui.
Nó có thể mua được sự xu nịnh, nhưng không mua được lòng trung thành.
Nó có thể mua được cánh hẩu, nhưng không mua được tình bạn.
Nó có thể mua được sự phục tùng, nhưng không mua được lòng kính trọng.
Nó có thể mua được quyền thế, nhưng không mua được trí tuệ.
Nó có thể mua được thể xác, nhưng không mua được tình yêu.
Nó có thể mua được vũ khí, nhưng không mua được hòa bình.”
Để phản bác lại luận điểm sai lầm “ có tiền là có hạnh phúc”, tác giả đã
khẳng định nó là sai bằng một luận điểm chắc chắn “ tiền bạc đâu phải là vạn
năng”. Và bằng các lí lẽ, dẫn chứng cụ thể, tác giả đã đánh đổ được luận điểm
sai lầm đó. “ Tiền có thể mua được chiếu giường, nhưng không mua được giấc
ngủ. Có thể mua được châu ngọc, nhưng không thể mua được sắc đẹp...”. Tiền
bạc chỉ có thể mua được những tiện nghi vật chất làm phong phú thêm cho đời
sống tinh thần của con người, nhưng tiền bạc không thể mua được hạnh phúc

NguyÔn ThÞ §Ëu

24

K32D - Ng÷ V¨n


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2


K32D - Ng÷ V¨n



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status