Sinh viên thực hiện: ĐINH THị TƯƠI
PHầN 1: Mở ĐầU
1. Lý do chọn đề tài
Xuyên suốt toàn bộ chương trình giáo dục từ lớp 1 đến lớp 12, Văn là bộ
môn chiếm vị trí quan trọng và được coi là một môn học cơ bản. Đây là môn
học hàm chứa nhiều nội dung phong phú, những giá trị nhân văn cao đẹp tràn
đầy tính giáo dục nhân cách con người. Gs Phan Trọng Luận đã từng khẳng
định: "Khoa học kỹ thuật càng phát triển thì nhu cầu về đời sống tinh thần
càng mạnh mẽ, phong phú đa dạng, còn cuộc sống tinh thần của con người,
nhu cầu thẩm mĩ, tình cảm thì văn học nghệ thuật sẽ mãi mãi bất tử." [1;38].
Bản chất của hoạt động dạy, học văn là giúp học sinh biết cảm nhận cái đẹp
của thiên nhiên, của con người, của cuộc đời gắn liền với ý thức trách nhiệm
của mỗi công dân đối với xã hội, đất nước và nhân loại. Qua đó hình thành
khát vọng vươn tới cái đẹp, cái cao thượng, biết bảo vệ và sáng tạo cái đẹp.
Bởi thế, học văn không đơn thuần là thông báo kiến thức mà còn giúp các em
có được những phương pháp đúng đắn, cách giải quyết " bài toán cuộc đời"
một cách có hiệu quả.
Trước tình hình xã hội phát triển như hiện nay, yêu cầu cấp bách đặt ra
là nền giáo dục phải không ngừng đổi mới nội dung cũng như phương pháp
dạy học. Trong quá trình đổi mới đó, với tầm quan trọng to lớn của mình, môn
Văn không thể là trường hợp ngoại lệ. Khi tiến hành xây dựng lại nội dung
chương trình môn Văn thì phần Làm Văn cũng được điều chỉnh cho phù hợp.
Một trong những nội dung mới được triển khai trong phần Làm Văn trong
sách giáo khoa Ngữ Văn là hệ thống các thao tác lập luận dùng trong văn nghị
luận như thao tác lập luận phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận.... Trong đó,
nội dung thao tác lập luận so sánh là một thao tác lập luận còn khá mới mẻ.
1
2
Sinh viên thực hiện: ĐINH THị TƯƠI
Bàn về so sánh, các tác giả Trần Đình Sử ( Chủ biên), Phan Trọng Luận,
Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn Làm văn 12 ( NXB Giáo dục, 2004) coi so
sánh như một cách luận chứng bên cạnh những cách khác như diễn dịch, quy
nạp, tổng - phân - hợp, nêu phản đề, phân tích nhân - quả.... và đã chia so sánh
thành hai dạng: So sánh tương đồng và so sánh tương phản. Để chứng minh
quan điểm trên các tác giả đưa ra vấn đề lý thuyết, sau đó lấy ví dụ minh họa
giúp người đọc dễ hình dung ra từng kiểu so sánh. Theo các tác giả, so sánh
tương đồng là từ một chân lý đã biết suy ra một chân lý tương tự có chung một
logic bên trong. Còn so sánh tương phản là đối chiếu các mặt trái ngược nhau
để làm nổi bật vấn đề mà mình muốn làm sáng tỏ.
Tác giả Bảo Quyến trong cuốn: " Rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận
(NXB Giáo dục, 2004) đã quan niệm so sánh như một thao tác tổ chức nên bài
văn nghị luận bên cạnh những thao tác khác như phân tích và tổng hợp, giải
thích, chứng minh, bình luận... Tác giả quan niệm so sánh là thao tác đối
chiếu nhằm tìm ra cái chung và cái khác biệt giữa các đối tượng, các vấn
đề...So sánh còn giúp ta nhấn mạnh nét đặc sắc, độc đáo trong ý kiến của
mình.
Các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Đỗ Ngọc Thống, Lưu Đức
Hạnh trong cuốn: " Muốn viết được bài văn hay" (NXb Giáo dục, 2006) cũng
đã trình bày sự khác nhau giữa so sánh như một biện pháp tu từ để tạo ra hình
ảnh với so sánh như một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài
văn nghị luận. Theo tác giả, trong quá trình làm văn, nếu gặp những vấn đề
ghi rõ yêu cầu so sánh thì không nói làm gì, điều đáng lưu ý là cả những vấn
đề không yêu cầu so sánh, người viết cũng có thể vận dụng so sánh như một
biện pháp " lợi hại" có tác dụng rất lớn trong việc diễn đạt nhằm làm sáng tỏ
- Vận dụng những tri thức đó vào việc thực hiện dạy học " thao tác lập
luận so sánh" trong chương trình Ngữ Văn 11.
- Đánh giá hiệu quả của việc vận dụng các tri thức đó vào dạy học.
4
Sinh viên thực hiện: ĐINH THị TƯƠI
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Xuất phát từ nội dung của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu thao tác
lập luận so sánh được sử dụng khi tạo lập văn bản nghị luận.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu những kiến thức chung về thao tác lập luận so sánh và việc vận
dụng kết hợp thao tác lập luận này với thao tác lập luận khác như thao tác lập
luận phân tích trong SGK Ngữ Văn 11.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng hợp lý luận và thực tiễn.
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
6. Đóng góp của khóa luận.
* Về mặt lý luận:
Khóa luận tập trung trình bày cơ sở lý luận về thao tác lập luận so sánh
ở các phương diện khái niệm, đặc điểm, vai trò, cách thức thực hiện thao tác
lập luận so sánh trong văn bản nghị luận.
* Về mặt thực tiễn:
Khóa luận này góp một phần vào việc tìm ra những hướng dạy học nội
về thế giới khách quan. Cũng vì thế nghị luận là kiểu văn bản có vai trò quan
trọng trong đời sống con người và nó phục vụ cho đời sống con người. Xuất
phát từ tầm quan trọng của kiểu văn bản này đối với đời sống con người, các
nhà nghiên cứu đã dành phần lớn thời gian cho việc tìm hiểu kiểu văn bản này.
Về bản chất, nghị luận là kiểu văn bản trong đó người viết (người nói)
trình bày những ý kiến của mình bằng cách dùng lý luận bao gồm cả lý lẽ và
dẫn chứng để làm rõ một vấn đề thuộc về chân lý, nhằm làm cho người đọc
(người nghe) hiểu, tin, đồng tình với những ý kiến của mình và hành động theo
những điều mà mình đề xuất.
Nếu văn miêu tả là kiểu văn bản được dùng để mô tả, khắc họa lại một
hình ảnh, kể chuyện được dùng nhằm tái hiện con người và cuộc sống bằng
ngôn ngữ chủ yếu là khêu gợi, tác động vào cảm xúc, tưởng tượng của người
đọc (người nghe), thì nghị luận lại thiên về việc trình bày các ý kiến, các lý
lẽ, dẫn chứng để bàn định, nhận xét nhằm làm sáng tỏ một vấn đề nào đó và
qua đó tác động vào trí tuệ, lý trí của người đọc. Vì thế, nghị luận là kết quả
của hoạt động tư duy logic. Nói khác đi nghị luận là tên gọi chung cho một
thể loại văn bản vận dụng các hình thức tư duy logic như khái niệm, phán
đoán suy lý để xác định bản chất sự việc, trình bày lý lẽ, phân biệt đúng sai và
tiến hành làm sáng tỏ một cách khoa học đối với hiện thực khách quan và quy
luật bản chất của sự vật đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ trương, ý kiến, quan
7
Sinh viên thực hiện: ĐINH THị TƯƠI
điểm của người nói (người viết) đối với vấn đề được nghị luận. Để chứng minh
cho điều này chúng ta xét ngữ liệu sau:
"Văn Nguyên Hồng bao giờ cũng lấp lánh sự sống. Những dòng chữ đầy
chi tiết cứ cựa quậy, phập phồng. Một thứ văn bám riết lấy cuộc đời, quấn
phải tùy thuộc vào khả năng của người viết. Không cảm động sao được khi
chúng ta đọc những dòng sau đây viết về cuộc sống thanh bạch, giản dị của
Bác Hồ:
" Bữa cơm chỉ có vài ba món rất giản đơn, lúc ăn Bác không để rơi vãi
một hạt cơm, ăn xong bao giơ cái bát cũng sạch và thức ăn còn lại được sắp
xếp tươm tất... Cái nhà sàn của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng".
(Đức tính giản dị của Bác Hồ - Trường Chinh).
Chỉ bằng những từ ngữ mộc mạc, giản dị, tác giả Trường Chinh đã giúp
chúng ta cảm nhận đầy đủ cuộc sống thanh đạm, liêm khiết của một vị Chủ
tịch nước. Và cũng qua đó chúng ta càng cảm thấy khâm phục hơn, kính trọng
hơn đối với Bác Hồ.
Như vậy, trong văn nghị luận, nếu không có tình, bài viết thuần lý sẽ trở
nên khô khan, cứng nhắc, tất nhiên là ít thuyết phục người đọc. Nhưng nếu bài
viết thiên quá về tình, mà lại nhẹ về lý, thì sẽ không đủ sức lôi cuốn và thuyết
óc sáng suốt nhưng cũng rất cần có trái tim nồng nhiệt. Cũng bởi thế, học làm
văn nghị luận là một công việc, một yêu cầu rất quan trọng của việc học văn
trong nhà trường. Văn nghị luận đặt ra những vấn đề tư tưởng và học thuật đòi
hỏi học sinh phải giải quyết, từ đó giúp cho các em vận dụng tổng hợp các tri
thức đã học từ tự nhiên, xã hội, rèn luyện khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ,
khả năng tư duy logic khoa học nghĩa là có phương pháp tư duy đúng để có
thái độ đúng trước các vấn đề xảy ra trong cuộc sống, từ đó góp phần tích cực
vào việc xây dựng và hoàn thiện nhân cách học sinh. Bởi thế, văn nghị luận
ngày càng chiếm một vị trí, giữ một vai trò quan trọng trong chương trình Ngữ
văn và trong đời sống con người.
1.2. Các thao tác lập luận trong văn bản nghị luận
Khi tạo lập văn bản nghị luận, một trong những đặc trưng quan trọng
nhất là tổ chức lập luận. Lập luận là yếu tố quan trong tạo nên giá trị cho bài
9
10
Sinh viên thực hiện: ĐINH THị TƯƠI
- Dùng ngôn ngữ để lập luận, có thể trình bày bằng cách kết hợp với các
ví dụ minh họa
- Cuối cùng chốt lại vấn đề cần phân tích.
Tuy nhiên, trong văn nghị luận, việc phân tích vấn đề phải được tiến
hành theo những nguyên tắc nhất định. Đó là:
+ Phải đảm bảo sự phân chia phản ánh đúng nhất tổ chức của đối tượng.
Để làm được điều này, chúng ta phải phân xuất được từng khía cạnh, từng bộ
phận của vấn đề và sắp xếp chúng theo một trình tự cụ thể.
+ Phải đáp ứng tốt nhất cho mục đích thực hiện. Khi phân tích vấn đề,
chúng ta cần phải căn cứ vào mục đích phân tích vấn đề, phải xác định cụ thể
phân tích vấn đề như vậy để làm gì. Từ việc xác định mục đích phân tích như
thế, chúng ta lựa chọn cách thức phân chia vấn đề sao cho tương ứng với mục
đích thực hiện thao tác này.
+ Khi phân tích vấn đề, chúng ta phải phân chia theo cùng một cơ sở.
Thông thường, chúng ta chọn mục đích phân tích để làm cơ sở phân chia.
+ Phải phân chia theo nguyên tắc cấp bậc. Khi phân chia vấn đề chúng
ta cần phải phân chia thành các bộ phận lớn, và sau đó lại tiếp tục chia thành
các bộ phận nhỏ, không được phân chia một cách nhảy vọt, thiếu tính hệ
thống.
Tóm lại, phân tích là thao tác được thực hiện nhằm tìm hiểu một mặt nội
dung bao hàm trong một ý kiến, một nhận định, một luận điểm nào đó, đồng
thời chỉ ra mức độ chính xác và giá trị đạt được của chúng. Trong bài văn nghị
luận, phân tích là thao tác cơ bản, được thực hiện nhằm giúp cho người tiếp
nhận văn bản có thể hiểu rõ từng khía cạnh của vấn đề bàn luận.
1.2.2. Thao tác tổng hợp
chỉ được thực hiện khi chúng ta xác định nội dung của từng bộ phận.
+ Chỉ tổng hợp theo từng cấp bậc. Nguyên tắc này giúp cho chúng ta có
thể tổng hợp vấn đề một cách khoa học, đảm bảo phù hợp với nội dung và đặc
điểm của vấn đề được bàn luận.
Trong bài văn nghị luận, thao tác tổng hợp thường được thể hiện trọng
một hoặc một vài câu văn. Thông thường đó là cách để người viết chốt lại vấn
12
Sinh viên thực hiện: ĐINH THị TƯƠI
đề hoặc là kết luận cho một nội dung nào đấy. Như vậy, tổng hợp là thao tác
của tư duy logic. Nhờ có tổng hợp mà chúng ta mới có thể đi sâu vào bản chất
của sự vật, đối tượng, vấn đề; và qua đó rút ra những hiểu biết sâu sắc và toàn
diện hơn về toàn bộ đối tượng, sự vật, vấn đề đó như một chỉnh thể thống nhất.
Trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận, phân tích và tổng hợp là hai
thao tác có mối quan hệ mật thiết với nhau. Phân tích là thao tác giúp cho con
người nhận thức vấn đề trong từng biểu hiện, từng khía cạnh của chúng còn
tổng hợp là thao tác giúp cho con người có thể bao quát lại toàn bộ vấn đề.
1.2.3. Thao tác giải thích
Trong đời sống hàng ngày nhiều khi muốn cho ai đó hiểu rõ vấn đề
hoặc hiểu đúng về một vấn đề nào đó, con người phải tìm mọi cách để làm rõ
vấn đề đó, nội dung đó. Việc làm rõ vấn đề như vậy gọi là giải thích. Giải
thích là thao tác làm cho người khác hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu đầy đủ một vấn
đề bằng lý lẽ ( có dẫn chứng hỗ trợ). Trong làm văn nghị luận, giải thích là
một thao tác được thực hiện nhằm lý giải hoặc làm rõ vấn đề và qua đó người
viết có thể bàn luận một cách cụ thể, sâu sắc nội dung của vấn đề đó. Giải
thích thường là một quá trình diễn dịch: Đi từ một khái niệm, một nhận thức
khái quát đến những cái cụ thể, sống động, dễ hiểu hơn. Theo quá trình, khi
thực hiện thao tác giải thích, chúng ta cần tiến hành theo các bước sau:
- Chứng minh vấn đề bằng cách:
+ Tách vấn đề thành từng nội dung, từng phương diện, từng luận điểm
nhỏ.
+ Đưa ra hệ thống dẫn chứng để làm rõ các biểu hiện, các đặc điểm của
luận đề.
+ Phân tích dẫn chứng.
+ Bàn luận về nội dung đã được làm rõ.
+ Chốt lại nội dung của luận điểm và mở rộng sang nội dung của luận
điểm khác và tiến hành theo trình tự trên.
Tuy nhiên khi thực hiện thao tác này cần lưu ý:
14
Sinh viên thực hiện: ĐINH THị TƯƠI
- Hệ thống dẫn chứng phải sát thực và phù hợp với vấn đề, sắp xếp một
cách trình tự hợp lý, tránh hình thức liệt kê. Dẫn chứng phải được dẫn dắt,
phân tích, bình luận.
- Lý lẽ phải được giải thích, phân tích, bình luận hoặc tổng hợp một
cách rõ ràng, dễ hiểu, lập luận phải chặt chẽ, đồng thời cũng phải biết kết hợp
cả lý lẽ và dẫn chứng tạo sức thuyết phục cho người đọc.
1.2.5. Thao tác lập luận bác bỏ
Đây là một trong những thao tác lập luận trong văn nghị luận. Trong đời
sống cũng như trong sách báo, ta có thể bắt gặp những ý kiến sai lầm, những
lời nói, bài viết lệnh lạc, thiếu chính xác ( trái ngược với thực tế, với đạo lý
không phù hợp với chân lý... hoặc sử dụng cách lập luận không logic, phản
khoa học...). Trước những tình huống ấy, ta thường trao đổi lại, tranh luận để
phủ định những ý kiến sai trái đó. Xuất phát thực tế ấy, thao tác lập luận bác
bỏ ra đời. Vậy, bác bỏ là thao tác lập luận dùng lý lẽ và chứng cứ để gạt bỏ,
Cần chú ý, trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận, chúng ta cần phải
biết sử dụng kết hợp các thao tác lập luận một cách linh hoạt, mềm dẻo, tránh
khô cứng qua đó làm nổi bật vấn đề nghị luận.
1.3. Thao tác lập luận so sánh trong văn bản nghị luận
1.3.1. Khái niệm thao tác lập luận so sánh.
So sánh là một thao tác lập luận được sử dụng bên cạnh những thao tác
lập luận khác như thao tác lập luận phân tích, bác bỏ, bình luận... So sánh là
một thao tác lập luận được dùng để tìm ra điểm giống và khác nhau giữa các
đối tượng và qua sự so sánh ấy mà giúp con người nhận thấy rõ đặc điểm, vai
trò, giá trị của vấn đề được bàn luận. Như vậy, so sánh đòi hỏi chúng ta phải
vận dụng tối đa năng lực tư duy, người viết cần phải có phông kiến thức lớn để
tìm ra đối tượng so sánh từ đó mới làm nổi bật được vấn đề mà mình nghị
luận. Khi tiến hành so sánh người viết phải có cánh so sánh linh hoạt, mềm
dẻo, nếu không cẩn thận sẽ rơi vào tình trạng so sánh các yếu tố không tương
đồng, dẫn tới sai lệnh, lầm lạc. Ta có thể tìm hiểu thao tác lập luận so sánh
thông qua ngữ liệu sau:
16
Sinh viên thực hiện: ĐINH THị TƯƠI
Trong bài " Một phương diện của thiên tài Nguyễn Du: Từ Hải ", tác giả
Hoài Thanh đã viết:
"Thanh Tâm Tài Nhân nói đến Từ Hải trên bốn mươi trang giấy,
Nguyễn Du chỉ nói trong mấy trang, mười phần bỏ đi tám. Tuy thế, trong
Nguyễn Du có những điều kiện trong Thanh Tâm Tài Nhân không có. Những
điều có thể gợi hình ảnh một vị anh hùng. Từ Hải cùng ở với Kiều năm tháng
rồi từ biệt Kiều mà đi, Thanh Tâm Tài Nhân chỉ nói có vậy, nhưng Nguyễn Du
thì nói kỹ hơn:
Tuy nhiên có những đoạn Nguyễn Du không thêm, không bớt, chỉ lấy lại
ý của Thanh Tâm Tài Nhân. Nhưng Nguyễn Du nói với một giọng tha thiết,
hăng hái, lời văn thì vô cùng hân hoan nên đã thay đổi cả ý nghĩa của câu
văn:
Quân trung gươm lớn giáo dài
Vệ trong thị lập có ngoài song phi
Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi
Bác đồng chật đất tinh kỳ rợp sân
Thanh Tâm Tài Nhân đại khái cũng nói thế nhưng Thanh Tâm Tài
Nhân không có cái giọng đậm đà và tựa hồ như sung sướng đó.
Một ví dụ nữa: Ca tụng uy võ của Từ Hải, Thanh Tâm Tài Nhân viết: "
Không quá ba ngày, Từ Hải phá một thôi được năm huyện: " Phá được năm
huyện thì còn ra gì!" Nguyễn Du chỉ bỏ vài chữ và đổi cách đặt câu:
Đòi cơn gió quét mưa sa,
Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi Nam.
vẫn chừng ấy ý mà lời văn mạnh mẽ và khoái trá biết chừng nào! Cả đoạn văn
liền đó trong " Đoạn trường Tân Thanh " đều mạnh mẽ vô cùng:
Thừa cơ trúc trẻ ngói tan
Bình uy từ ấy sấm ran trong ngoài
Triều đình riêng một góc trời,
Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà.
18
Sinh viên thực hiện: ĐINH THị TƯƠI
Khi Hồ Tôn Hiến sai người đến thuyết hàng, Từ Hải lưỡng lự không
muốn hàng, nỗi phân vân của Từ Hải, Thanh Tâm Tài Nhân tả trong bốn
trang giấy. Nguyễn Du lấy ý của Thanh Tâm Tài Nhân thu lại trong mấy câu
mà thực sự là rắn rỏi, thực là ngang tàng:
Kiều với hình tượng Từ Hải của Thanh Tâm Tài Nhân trong Kim Vân Kiều
Truyện với mục đích làm rõ: Nguyễn Du đã thực hiện được một cách toàn
vẹn cái mộng mà Thanh Tâm Tài Nhân không thực hiện được hoàn toàn - cái
mộng biến Từ Hải thành một bậc anh hùng xuất chúng.
Hoài Thanh đã lập luận bằng việc chọn cách so sánh để làm nổi bật
thiên tài nghệ thuật của Nguyễn Du, so sánh thông qua các luận cứ:
" Cái mộng biến Từ Hải thành một bậc anh hùng xuất chúng ", phải đến
Nguyễn Du mới "Thực hiện được một cách hoàn hảo ". Thế mà Nguyễn Du
không những không cần tăng số lượng mà còn bỏ đi tám phần mười những gì
mà Thanh Tâm Tài Nhân đã nói. Người đọc dễ dàng thấy được phải là một
bậc thiên tài mới có thể làm được điều đó.
So với Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du cũng không sửa chữa quá
nhiều nội dung mà chỉ thêm một hai chi tiết, hoặc giữ nguyên ý, chỉ đổi lời
văn cho thiết tha, hăng hái thêm lên, hoặc bỏ bớt những đoạn rườm rà vô ích.
Vậy mà hình tượng Từ Hải luôn sống mãi trong lòng bạn đọc. Đấy là việc chỉ
bậc thiên tài mới có thể làm được.
Như vậy, thao tác lập luận so sánh được sử dụng hợp lý tạo nên tính chặt
chẽ, rõ ràng cho bài viết. Hơn nữa, cũng nhờ có so sánh ta mới cảm nhận sâu
sắc vẻ đẹp của người anh hùng Từ Hải của Nguyễn Du trong Truyện Kiều,
trong cái nhìn đối sánh với Từ Hải của Thanh Tâm Tài Nhân trong Kim Vân
Kiều truyện. Từ đó, thấy được tài năng nghệ thuật bậc thầy trong việc miêu
tả nhân vật của thiên tài Nguyễn Du.
Khi tiến hành so sánh, nội dung so sánh phải được trình bày một cách
khách quan, thái độ đánh giá phải công bằng, tránh tùy tiện. Có như thế việc
so sánh để làm nổi bật luận điểm mà mình nghị luận mới có sức thuyết phục người
đọc.
20
Sinh viên thực hiện: ĐINH THị TƯƠI
Sinh viên thực hiện: ĐINH THị TƯƠI
Trẻ con nhìn lại không chào
Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi
( Hạ Tri Chương, Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê, bản dịch
của Phạm Sĩ Vĩ )
Trở lại An Nhơn tuổi lớn rồi
Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai
Nền nhà nay dựng cơ quan mới
Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người.
( Chế Lan Viên, Trở lại An Nhơn )
Cũng có khi thiết lập mối quan hệ so sánh tương phản giữa các đối
tượng có những đặc điểm đối lập nhau ví dụ như:
"Các cụ ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa những màu xanh nhạt Các
cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ.
Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một việc tội lỗi, ta
cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh. Cái tình ái của các cụ thì
chỉ là hôn nhân nhưng đối với ta là trăm hình, muôn trạng: Cái tình say đắm,
cái tình thoảng qua, cái tình xa xôi Cái tình trong giây phút, cái tình ngàn
thu".
(Lưu Trọng Lư - dẫn theo Trần Đình Sử - làm văn 12)
Trong ngữ liệu trên, Lưu Trọng Lư đã so sánh, đối chiếu sự khác biệt
giữa khuynh hướng thơ cũ và thơ mới để nêu bật những tình cảm mang màu
sắc riêng, mới mẻ của thơ mới nhằm bênh vực cho luận điểm: Sự xuất hiện
của thơ mới là hợp tình, hợp lý, hợp thời.
Khi sử dụng thao tác lập luận so sánh trong việc tạo lập văn bản nghị
luận thì không lấy việc so sánh làm mục đích mà cần phải hiểu rằng so sánh
chỉ là con đường, cách thức để làm rõ vấn đề cần nghị luận.
luận so sánh được sử dụng hợp lý làm cho bài văn nghị luận cụ thể, sinh động
và có sức thuyết phục cao.
24
Sinh viên thực hiện: ĐINH THị TƯƠI
CHƯƠNG 2 : THựC TRạNG DạY Và HọC
THAO TáC LậP LUậN SO SáNH
2.1. Thực trạng dạy của giáo viên
Trong chương trình Ngữ văn hiện hành, lập luận so sánh là nội dung
hoàn toàn mới. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy giáo viên mới chỉ bám sát
SGK và SGV, sách Thiết kế bài học Ngữ văn để vừa cung cấp kiến thức vừa tổ
chức rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh.
Đối với giờ học lí thuyết, giáo viên thực hiện nội dung dạy học theo
những định hướng được nêu trong SGK. Bởi vậy quy trình dạy học thông
thường là giáo viên nêu câu hỏi sau đó dẫn dắt học sinh phân tích ngữ liệu
cuối cùng rút ra kết luận trong SGK. Để rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết
và thực hành thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức lý
thuyết đã học vào việc giải quyết các bài tập trong SGK.
Theo phân phối chương trình, thời gian dành cho nội dung thao tác lập
luận so sánh là 1 tiết lí thuyết, 1 tiết luyện tập và 1 tiết vận dụng kết hợp thao
tác lập luận so sánh với thao tác lập luận phân tích. Một nội dung lý thuyết
mới mà học sinh chỉ được làm quen trong khoảng thời gian 3 tiết thì quả là
một thời gian ngắn. Do hạn chế về thời gian nên giáo viên ít có điều kiện để
mở rộng kiến thức và tổ chức luyện tập sử dụng thao tác lập luận so sánh một
cách cẩn thận. Cũng vì thế khả năng vận dụng của học sinh cũng có nhiều
lúng túng. Vì thế muốn giúp học sinh vận dụng thao tác lập luận này một cách
nhuyễn, giáo viên phải hướng dẫn thêm trong quá trình dạy đọc hiểu văn