trường đại học sư phạm hà nội 2
khoa : ngữ văn
**********************
dương thị kim liên
nét tương đồng về tư tưởng của
thạch lam và nam cao trong truyện
ngắn trước cách mạng
khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
hà nội - 2009
1
trường đại học sư phạm hà nội 2
khoa : ngữ văn
********************
dương thị kim liên
nét tương đồng về tư tưởng của thạch
lam và nam cao trong truyện ngắn
trước cách mạng
khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
2009
Sinh viên
Dương Thị Kim Liên
4
Mục lục
Trang
Mở đầu
1
1. Lí do chọn đề tài
1
2. Lịch sử vấn đề
2
3. Mục đích nghiên cứu
7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
8
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm tư tưởng
11
1.1.2 Cách hiểu và sử dụng khái niệm tư tưởng
1.2. Vai trò ý nghĩa của việc tìm hiểu tư tưởng của nhà văn trong quá
11
trình nghiên cứu văn học
13
1.3. Những yếu tố tác động tới tư tưởng của Thạch Lam Nam Cao
13
1.3.1 Hoàn cảnh xã hội
15
1.3.2. Hoàn cảnh riêng
5
Chương 2 : Những điểm tương đồng trong quan niệm nghệ thuật
20
32
2.3. Tương đồng trong quan niệm về người nghệ sĩ
32
2.3.1. Người nghệ sĩ phải có trách nhiệm trong nghề nghiệp
34
2.3.2. Người nghệ sĩ phải có phẩm chất trung thực
Chương 3 : Những điểm tương đồng trong thái độ, tình cảm của
37
Thạch Lam và Nam Cao
37
3.1. Tương đồng trong thái độ căm ghét, tố cáo xã hội vô nhân đạo
3.1.1. Tố cáo xã hội vô nhân đạo đẩy con người vào tình cảnh bế tắc,
37
tuyệt vọng
42
3.1.2. Tố cáo xã hội vô nhân đạo đẩy con người vào tình trạng tha
mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Thạch Lam và Nam Cao là những đại biểu xuất sắc của dòng văn học
1930 - 1945 và còn là hai trong những tác gia tiêu biểu nhất của văn học Việt
Nam thế kỉ XX. Những sáng tác của Thạch Lam và Nam Cao đã vượt qua thử
thách khắc nghiệt của thời gian và càng thử thách giá trị càng bền vững, sáng
ngời.
Thạch Lam và Nam Cao khép lại đời văn khi còn rất trẻ. Hai ông để lại
trong kho tàng văn chương dân tộc số lượng tác phẩm không mấy đồ sộ nhưng
lại luôn ẩn chứa sức sống, sức bền lâu của một giá trị văn chương đích thực.
Với những tác phẩm đó, Thạch Lam - Nam Cao đã tạo cho mình một phong
cách riêng, một dấu ấn độc đáo và có những đóng góp quan trọng vào tiến
trình hiện đại hoá nền văn học dân tộc. Làm nên giá trị to lớn của các tác
phẩm không chỉ là tài năng, tâm huyết của người nghệ sĩ mà còn đặc biệt nói
tới tư tưởng nghệ thuật của một nhà văn. Bên cạnh tài năng, tâm huyết, tư
tưởng nghệ thuật là tiêu chí có ý nghĩa quyết định để khẳng định tầm cỡ của
nhà văn đó.
7
Tìm hiểu nét tương đồng về tư tưởng của Thạch Lam và Nam Cao để
thấy rõ tài năng, vị trí của hai nhà văn trong nền văn học dân tộc, sự gặp gỡ
tuyệt vời của hai cây bút thuộc hai trào lưu khác nhau và thêm một lần nữa
khẳng định giá trị sâu sắc, độc đáo trong các tác phẩm của hai ông.
Mặt khác, Thạch Lam Nam Cao là hai tác giả được giảng dạy trong
chương trình từ trung học cơ sở, trung học phổ thông đến cao đẳng, đại học. ở
lớp 11, Thạch Lam được giảng dạy với tư cách là một tác giả thông qua đọchiểu tác phẩm Hai đứa trẻ. Đặc biệt, Nam Cao được đưa vào chương trình với
tư cách một tác gia văn học và được giới thiệu đọc hiểu hai truyện ngắn Chí
Ngay khi Gió đầu mùa - tập truyện ngắn đầu tay của Thạch Lam xuất
bản năm 1937, Khái Hưng đã khẳng định một cách dứt khoát: Thạch Lam là
nhà văn của những cảm xúc, cảm giác. Trong Một quan niệm về văn chương
(Tựa Gío đầu mùa) in trong Ngày nay, số 89, 12-12-1937, Khái Hưng viết :
Nếu ta có thể chia hai hạng nhà văn: nhà văn thiên về tư tưởng và nhà văn
thiên về cảm giác, thì tôi quả quyết đặt Thạch Lam vào hạng dưới. ở chỗ mà
người khác dùng tư tưởng, dùng lời có khi rất rậm để tả cảnh, tả tình, ông chỉ
nói, nói một cách rất giản dị cái cảm giác của ông.
Nguyễn Hoành Khung trong Lời giới thiệu văn xuôi lãng mạn Việt Nam
1930 1945, tập 1, NXB Khoa học xã hội, H.,1989 khẳng định : Ngòi bút
Thạch Lam có xu hướng hướng nội, đi vào thế giới bên trong với những cảm
xúc, cảm giác; ông đặc biệt tinh tế khi diễn tả, phân tích những rung động bên
trong, những cảm giác mong manh, thoáng qua, những biến thái tinh vi của
tâm hồn trước ngoại cảnh. Thạch Lam đã tạo cho mình một lối truyện ngắn
riêng: loại truyện tâm tình. Cốt truyện của Thạch Lam thường ít hành động và
kịch tính mà giàu những chi tiết, những sự kiện của tâm trạng, của lòng người.
Ngòi bút Thạch Lam có khả năng phân tích một cách nhẹ nhàng, tỷ mỷ, sâu
sắc và gợi cảm những tình cảm, cảm xúc, cảm giác mơ hồ, mong manh.
Vương Trí Nhàn trong bài viết Tìm vào nội tâm, tìm vào cảm giác,
Tạp chí Văn học, số 6, 1992 nhấn mạnh thêm một lần nữa xu hướng hướng
9
nội của ngòi bút Thạch Lam: Zatônxki, một nhà nghiên cứu Liên Xô trước
đây, trong một công trình nghiên cứu mang tên Nghệ thuật tiểu thuyết và thế
kỷ XX, đặc biệt đề cao một xu hướng phát triển trong tiểu thuyết, mà ông tạm
đặt tên là tiểu thuyết hướng nội. Thạch Lam của chúng ta như cũng bắt vào cái
mạch ấy. Hướng đi vào tâm lý của Thạch Lam là một hướng rất hiện đại. Với
ông, tâm lý trở thành cái bí mật lớn nhất cần được tìm hiểu. Thạch Lam đi
bên trong, đời sống tâm hồn đó là tình thương, lòng trắc ẩn, sự vị tha, giữa
người và người, giữa người với loài vật. Sáng tác của Thạch Lam thường có
những phát hiện mới, tế nhị và lắng đọng về tình người. Vì thế, mọi cử chỉ,
suy nghĩ, hành động của con người, dù thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau
nhưng hướng về cái đẹp, đều được Thạch Lam trân trọng, nâng đỡ. ( Người
chắt chiu cái Đẹp, Thạch Lam văn chương và cái đẹp, NXB Hội Nhà văn,
H.,1994).
Bàn về Nam Cao, Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết Nhớ Nam Cao,
nghĩ về mấy bài học sáng tác của anh ( Nhà văn, tư tưởng và phong cách,
NXB Văn học, 1983) đã viết: Nam Cao là người hay băn khoăn về vấn đề
nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con người. Anh thường dễ bất bình
trước tình trạng con người bị lăng nhục chỉ vì bị đày đọa vào cảnh đói nghèo
cùng đường. Nhiều tác phẩm xuất sắc của anh đã trực diện đặt ra vấn đề này
và anh quyết đứng ra minh oan chiêu tuyết cho những con người bị miệt thị
một cách bất công. Nam Cao là nhà văn của những người khốn khổ, bất
hạnh. Viết về những người khốn khổ, tủi nhục nhất trong xã hội thực dân
phong kiến, chủ nghĩa nhân đạo của Nam Cao không chỉ thể hiện thái độ cảm
thông, thương xót, mà còn lên tiếng bảo vệ, bênh vực, minh oan và chiêu tuyết
cho những con người thấp cổ bé họng bị cuộc đời xua đuổi, hắt hủi, khinh bỉ
một cách bất công.
Nguyễn Văn Hạnh một lần nữa khẳng định giá trị nhân đạo trong các
sáng tác của Nam Cao. Trong bài viết Nam Cao và khát vọng về một cuộc
sống lương thiện, xứng đáng, trong Nghĩ tiếp về Nam Cao, NXB Hội Nhà
văn, H., 1992, Nguyễn Văn Hạnh viết: Thái độ cảm thông trân trọng đối với
11
con người đã giúp tác giả (...) phân biệt rõ bản chất tốt đẹp và cái bề ngoài
nhiều khi rất dị dạng, ghê tởm của con người. Chủ nghĩa nhân đạo của Nam
trong con người, miêu tả và phân tích mọi chiều sâu, mọi chuyển biến trong
tâm hồn nhân vật. Sức hấp dẫn của Nam Cao thể hiện ở những trang phân
tích tâm lý sắc sảo của ông. Đối với Nam Cao, phương pháp hiện thực có
chiều sâu cần đi vào phân tích tâm lý. Bởi vậy, trong sáng tác của Nam Cao
việc miêu tả ngoại hình, những cảnh vật thiên nhiên là yếu tố nhằm thể hiện
và làm nổi rõ bộ mặt tinh thần của nhân vật. ( Nam Cao nhà văn hiện thực
xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, Tạp chí văn học, số 9, 1998)
Nguyễn Đăng Mạnh trong Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của
nhà văn(NXB GD, Hà Nội, 2002) đã viết : Đi vào thế giới nghệ thuật của
Nam Cao, ta lại nhận thấy hình ảnh ám ảnh day dứt là con người dù là người
trí thức nghèo hay người nông dân nghèo đều bị đặt vào tình huống áo cơm
ghì sát đất hoặc bị lăng nhục vì cái đói và miếng ăn. Bên cạnh đó là một hình
tượng người kể chuyện luôn suy tư trăn trở, luôn triết lý một cách chua chát về
cuộc đời. Từ những hình tượng phổ biến và đầy tâm huyết ấy, có thể nhận ra
tư tưởng nghệ thuật cơ bản của Nam Cao là nỗi đau đớn trước tình trạng con
người chẳng những tâm hồn mòn mỏi không sao cất cánh lên được mà thậm
chí không giữ nổi nhân tính nhân phẩm vì miếng cơm manh áo trong một xã
hội hết sức bất công vô lí. Hệ thống hình tượng ấy cũng thể hiện ở Nam Cao
một quan niệm nhân sinh đầy tinh thần nhân văn chủ nghĩa. Con người thật sự
xứng đáng với danh hiệu ấy, chẳng những phải được giải phóng khỏi những
trói buộc của cuộc sống áo cơm mà còn phải được phát triển tài năng đến tận
độ, phải có một tâm hồn giàu tình nhân loại, khát khao những lý tưởng cao cả
và một tư thế văn hoá đủ để suy tư về chân lý và có thể thưởng thức được vẻ
đẹp của thiên nhiên, của con người, của văn chương nghệ thuật.
Thông qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng:
những bài viết đó mới chỉ nghiên cứu Thạch Lam Nam Cao với tư cách là
hai tác gia văn học độc lập, nét tương đồng về tư tưởng của Thạch Lam và
Nam Cao còn là một mảng đề tài mới lạ và hấp dẫn luôn chờ độc giả tìm hiểu
13
14
- Phương pháp tổng hợp.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
7. Đóng góp của khoá luận
7.1. Về mặt lí luận:
Khóa luận chỉ ra những nét tương đồng về tư tưởng của Thạch Lam
Nam Cao trong truyện ngắn trước Cách mạng để thấy rõ tài năng, vị trí của hai
nhà văn trong lịch sử văn học dân tộc. Từ đó thấy được quy luật kế thừa và
sáng tạo trong tiến trình phát triển văn học nghệ thuật.
7.2. Về mặt thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy
Thạch Lam và Nam Cao ở trường phổ thông sau này.
8. Bố cục của khoá luận
A. Phần mở đầu ( 9 trang)
B. Phần nội dung
Chương 1: Những vấn đề chung ( 10 trang)
Chương 2: Những điểm tương đồng trong quan niệm nghệ thuật
của Thạch Lam và Nam Cao (17 trang)
Chương 3: Những điểm tương đồng trong thái độ, tình cảm của
Thạch Lam và Nam Cao (18 trang)
C. Phần kết luận (2 trang)
D. Thư mục tham khảo (2 trang).
15
Nội dung
và mang dấu ấn riêng của từng nghệ sĩ.
1.1.2.Cách hiểu và sử dụng khái niệm tư tưởng
Người ta thường hiểu tư tưởng là phán đoán khái quát về hiện thực.
Trong phán đoán đó bao giờ cũng chứa đựng một quan hệ có tính quy luật
giữa các hiện tượng, sự vật của đời sống. Chẳng hạn nếu nói con người thì
tuy khái niệm đó cũng khái quát nhưng chưa bao hàm tư tưởng. Nhưng nếu
nói người với người là bạn, người ta là hoa đất... thì trước mắt ta đó là
những tư tưởng. Lênin nói: Tư tưởng - đó là nhận thức và khát vọng (mong
muốn) (của con người). Tư tưởng thể hiện sự nhận thức và phán đoán về cuộc
sống của nhà văn thông qua thế giới quan, sự lĩnh hội và tái hiện cuộc sống
trong tác phẩm của mình. Tư tưởng bao hàm cả thái độ, cả nhiệt tình khẳng
định, phủ định và ý thức chủ thể của con người trước thực tại. Nguyễn Đăng
Mạnh trong cuốn Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn đã viết :
Tư tưởng nghệ thuật của nhà văn là một hình thái nhận thức đặc thù của
người nghệ sĩ : nhận thức bằng toàn bộ con người tinh thần với tất cả nội
dung phong phú và tính tổng thể toàn vẹn của nó. Tư tưởng là thế giới tinh
thần do tác giả tạo nên, tức là bao hàm cả những quan niệm, những suy nghĩ
17
và thái độ, tình cảm của tác giả được thể hiện thông qua tác phẩm - đứa con
tinh thần mà người nghệ sĩ sáng tạo nên.
Trong khóa luận này, chúng tôi sử dụng khái niệm tư tưởng của Nguyễn
Đăng Mạnh làm cơ sở để tìm hiểu nét tương đồng về tư tưởng của Thạch Lam
và Nam Cao trong truyện ngắn trước Cách mạng.
1.2.Vai trò ý nghĩa của việc tìm hiểu tư tưởng của nhà văn trong quá
trình nghiên cứu văn học
Tư tưởng có vai trò quan trọng đối với toàn bộ tác phẩm. Nói như
người lao động nghèo khổ bị đẩy vào cảnh bần cùng hoá, lưu manh hoá. Nhà
văn lách sâu ngòi bút vào thế giới tâm hồn của họ để phát hiện, khơi gợi và
khẳng định những vẻ đẹp, bản chất tốt đẹp ẩn giấu trong một hình thức khiêm
nhường, gàn dở, méo mó, dị biệt.
Đi sâu vào tìm hiểu tư tưởng của nhà văn sẽ đem đến cách đánh giá đúng,
cái nhìn đúng về tác giả và toàn bộ sự nghiệp sáng tác của họ với tư cách là
đứa con tinh thần do tác giả sáng tạo ra. Từ sự hiểu đúng và sâu sắc tư tưởng
của nhà văn thể hiện qua hình tượng nhân vật góp phần khẳng định vị thế của
nhà văn đó trong lịch sử văn học, lịch sử xã hội.
1.3. Những yếu tố tác động tới tư tưởng của Thạch Lam và Nam Cao
Mỗi người sống trong một hoàn cảnh, một môi trường xã hội nhất định và
không thể không chịu sự tác động của môi trường hoàn cảnh ấy. Người ta
bao giờ cũng chịu rất sâu sa ảnh hưởng của hoàn cảnh và người ta trước hết
là được tạo nên để sống với hoàn cảnh (Thạch Lam). Vì vậy để hiểu về tư
tưởng của Thạch Lam và Nam Cao trước hết chúng ta phải biết được hoàn
cảnh xã hội.
1.3.1.Hoàn cảnh xã hội
Xã hội Việt Nam trước Cách mạng là một xã hội thực dân nửa phong
kiến, kinh tế lạc hậu sản xuất trì trệ, xã hội rối ren, điên đảo, đời sống của mọi
tầng lớp nhân dân vô cùng cực khổ. Các cuộc khởi nghĩa diễn ra mạnh mẽ, dai
dẳng và quyết liệt, đặc biệt giai đoạn 1930- 1945. Thực dân Pháp đã sử dụng
19
mọi thủ đoạn dã man để đối phó với tình hình. Chúng thi hành chính sách đàn
áp về quân sự, chuyên chế về chính trị, bóc lột về kinh tế, đầu độc về văn hoá.
Về quân sự và chính trị, chúng thực hiện các cuộc khủng bố trắng, thực
thi các cuộc bắt bớ đàn áp, những vụ thảm sát đẫm máu để dìm những cuộc
khởi nghĩa của ta trong bể máu.
thống trị phát xít chỉ còn tồn tại những tiểu thuyết lãng mạn cuối mùa đưa ra
những chàng, nàng trưởng giả chen lẫn với những người hùng trắng trợn,
côn đồ, ca tụng quan lại, ước ao trật tự đạo lí xã hội phong kiến trở lại. Chịu
ảnh hưởng của tư tưởng phát xít, một số nhà văn quay ra tuyền truyền cho lí
thuyết sức mạnh và con người siêu nhân của Nietzsche, ca ngợi tinh thần võ sĩ
đạo Nhật Bản, lí tưởng hoá những anh hùng cạo trọc đầu, đi bốt, buôn chợ
đen! (Thanh Đức của Khái Hưng, Tôi thầu khoán, Trường đời của Lê Văn
Trương).
Cuối thế kỉ XIX, chế độ phong kiến ngày càng trở nên thối nát, không
những không đánh đuổi Pháp mà còn dâng nước ta cho Pháp, cấu kết với Pháp
để đàn áp, bóc lột dân ta hết sức dã man, thậm tệ. Xã hội Tây Tàu lẫn lộn,
đồng tiền có sức mạnh vạn năng khuấy đảo xã hội, đảo lộn mọi luân thường
đạo lý. Chính cái xã hội tàn nhẫn, vô nhân đạo ấy đã chà đạp lên quyền sống
của con người, làm cho mọi con người lương thiện phải chịu cuộc sống cơ
cực, bế tắc không lối thoát.
Cuộc sống ấy đã tác động sâu sắc tới lớp văn nghệ sĩ. Họ vừa mang tư
tưởng bi quan định mệnh chủ nghĩa và tâm trạng phẫn uất mãnh liệt của nhà
văn nghèo suốt đời bị điêu đứng bởi đồng tiền như Vũ Trọng Phụng. Đồng
thời tác phẩm của họ còn thể hiện một cách chân thực, cụ thể hiện thực đời
sống lúc bấy giờ.
Thạch Lam Nam Cao bước vào nghề khi xã hội thực dân phong kiến
thối nát ngột ngạt, đen tối cho nên hai ông cũng không tránh khỏi vòng xoáy
của cuộc đời. Xã hội đã có tác động lớn đến tư tưởng của nhà văn.
1.3.2. Hoàn cảnh riêng
21
Bên cạnh hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh riêng cũng có ảnh hưởng đến sự
hình thành tài năng sáng tạo, sự hình thành thế giới quan của người nghệ sĩ.
những người thiên về suy nghĩ, cảm xúc nội tâm. Thạch Lam là người thông
minh nhất nhà và cũng lãng mạn nhất nhà. Là một nghệ sĩ có tâm hồn lãng
mạn, Thạch Lam yêu cái đẹp, hướng tới cái đẹp. Thạch Lam là người chắt
chiu cái đẹp và sáng tác của ông chính là sự tìm kiếm cái đẹp đã bị đánh
mất. Cái đẹp trong văn Thạch Lam không rời xa hiện thực mà bắt rễ từ chính
mảnh đất hiện thực. Bởi vậy trong tác phẩm của mình, Thạch Lam đã thể hiện
một quan niệm văn chương hết sức tiến bộ: Văn chương là một thứ khí giới
thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế
giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được trong sạch và phong phú
hơn. Những tác phẩm của Thạch Lam thực sự đồng cảm chia sẻ với cuộc
sống của những người lao động nghèo khổ. Điều đó giải thích vì sao trải qua
bao thử thách khắc nghiệt của thời gian, tác phẩm của Thạch Lam vẫn giữ
nguyên giá trị và vẫn được nhiều thế hệ bạn đọc say mê, trân trọng.
* Hoàn cảnh riêng của Nam Cao:
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1917
trong một gia đình trung nông tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam
Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh
Hà Nam).Cha Nam Cao là Trần Hữu Huệ , con của cụ Trần Hữu Chung xuất
thân từ nhà nho nghèo nối đời làm thuốc và dạy học. Mẹ của Nam Cao là bà
Trần Thị Minh. Bà là người hiền thục, nhân hậu, thường xuyên giúp đỡ người
khó khăn.
Sau khi lấy bà Minh, bố mẹ Nam Cao được bà ngoại giao cho sáu sào đất
và mấy cái khung dệt. Ông Huệ bà Minh sinh được tám người con, năm trai,
ba gái. Nhà văn Nam Cao là con trưởng. Mặc dù cha mẹ tần tảo sớm hôm
nhưng vì nhà đông miệng ăn, các con đau yếu, cảnh nhà cũng sa sút dần.
Trong tám anh em, Nam Cao là người duy nhất được đi học, còn các em
không một ai được bước chân đến trường, phải ở nhà gồng thuê gánh mướn để
23
lạ với cuộc sống của người nông dân đã khiến cho Nam Cao đồng cảm và thấu
hiểu nỗi cơ cực của những người nông dân nghèo trong xã hội cũ.
Bản thân ông cũng phải chật vật để kiếm sống. Từ Sài Gòn về, Nam Cao
tự học lại và thi đậu thành chung, rồi trở thành một giáo khổ trường tư. Cuộc
sống của người giáo khổ giúp ông hiểu sâu sắc thân phận người trí thức nghèo
trong xã hội ngột ngạt, bế tắc. Khi phát xít Nhật xâm lược Đông Dương,
trường bị đóng cửa, Nam Cao sống chật vật bằng nghề viết văn, làm gia sư, có
khi thất nghiệp về quê ăn bám vợ.
Bước chân vào đời, Nam Cao toàn gặp những long đong, lận đận, tìm
kiếm miếng ăn ở cả trong Nam ngoài Bắc mà vẫn không thoát nổi cái nghèo.
Khi có gia đình rồi có con, Nam Cao vẫn rất nghèo. Có thể nói, Nam Cao là
một trong số những người nghèo khổ nhất thuộc thế hệ các nhà văn trước
Cách mạng tháng Tám. Phải chăng chính cái long đong lận đận ấy của bản
thân mà ông đã đưa ra những quan niệm sâu sắc, tiến bộ về văn chương, về
người nghệ sĩ ?
Hoàn cảnh sống có tác động mạnh mẽ đến con người. Cuộc sống nghèo
khổ, gần gũi với người lao động có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của Thạch
Lam và Nam Cao.
Dưới tác động của hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ và có sự gần gũi với
người dân lao động, Thạch Lam Nam Cao hướng ngòi bút đến những kiếp
người nhỏ bé, khốn cùng. Nhà văn luôn khát khao đi tìm và khẳng định ý
nghĩa giá trị cuộc sống của con người. Giữa Thạch Lam Nam Cao có những
điểm tương đồng tuyệt đẹp về tư tưởng.
25