MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Chiến tranh nhân dân Bảo vệ Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa trong
tương lai (nếu xảy ra) sẽ ác liệt hơn gấp nhiều lần cuộc chiến tranh giải phóng
trước kia. Trong thế kỷ XXI có thể dự báo lợi ích và mâu thuẫn giữa các nước
lớn có trình độ phát triển cao sẽ làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa các quốc
gia và các giai cấp xã hội khác nhau tạo tiền đề để châm ngòi chiến tranh. Đó
là cuộc chiến tranh hiện đại, trong đó địch sử dụng vũ khí công nghệ cao mức
độ tàn phá hết sức khốc liệt. Do đó để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do
sự đánh phá bằng đường không của địch chúng ta cần nhận thức rõ về âm
mưu, thủ đoạn của kẻ thù, tính chất phức tạp, ác liệt của chiến tranh hiện đại.
Để thực hiện tốt công tác phòng không nhân dân trong điều kiện chiến tranh
hiện đại, yêu cầu trước hết là phải tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong nhân
dân, đặc biệt là trong học sinh, sinh viên và thế hệ trẻ về vị trí, vai trò của
công tác phòng không nhân dân. Tại khoản 1 Điều 13 chương II của Nghị
định số 65/2002/NĐ - CP ngày 01 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ về công
tác phòng không nhân dân đã quy định Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối
hợp với Bộ Quốc phòng tổ chức đưa nội dung kiến thức phổ thông về công
tác Phòng không nhân dân vào trong chương trình giáo dục quốc phòng của
các cấp học, bậc học.
Để đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn
minh. GDQP - AN có vai trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa và GDQP-AN cho học sinh, sinh viên. Môn học GDQP
- AN được các văn bản của Đảng, Chính phủ quyết định là môn học chính
khóa trong hệ thống các nhà trường. Thông qua môn học góp phần giáo dục
1
nhân cách, trang bị kiến thức GDQP - AN, sẵn sàng đáp ứng và thực hiện
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn nội dung bài “Công tác phòng không
nhân dân” trong chương trình lớp 12, THPT, từ đó đề xuất những biện pháp
nâng cao chất lượng dạy học bài “Công tác phòng không nhân dân” đối với
học sinh lớp 12, THPT.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
* Đối tượng nghiên cứu:Những biện nâng cao chất lượng dạy học bài
“Công tác phòng không nhân dân” trong chương trình lớp 12, THPT.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Trường THPT Xuân Hòa - Phúc Yên,
- Trường THPT Giao Thủy - Nam Định.
- Những biện nâng cao chất lượng dạy học bài “Công tác phòng không
nhân dân” trong chương trình lớp 12, THPT.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về hình thức tổ chức dạy học bài
“Công tác phòng không nhân dân” trong chương trình lớp 12, THPT. Thực
nghiệm khảo sát thực trạng việc dạy, học bài “Công tác phòng không nhân
dân” ở một số trường phổ thông hiện nay, đề xuất các biện pháp nhằm nâng
cao chất lượng dạy học bài “Công tác phòng không nhân dân” lớp 12, THPT.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu tài liệu giáo trình
sách giáo khoa, nghiên cứu phương pháp dạy học bài “Công tác phòng không
nhân dân” lớp 12, THPT từ đó xác định được cơ sở lý luận để tổ chức quá
trình dạy học nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh.
Nghiên cứu vị trí tính chất nội dung của công tác phòng không nhân
dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
* Phương pháp điều tra: Điều tra thực trạng dạy học môn học GDQP AN ở các trường THPT hiện nay, việc sử dụng các phương tiện trực quan đặc
biệt là ứng dụng CNTT vào dạy học.
3
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu.
1.1.1. Những quan điểm, văn bản, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước về
môn học GDQP – AN.
- Ngày 28/4/1981 Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số
107/CT/TW về tăng cường công tác giáo dục quốc phòng toàn dân, chuẩn bị
cho thế hệ trẻ sẵn sàng làm nhiệm vụ Bảo vệ Tổ quốc.
- Nghị định số 02 - NĐ/TW ngày 30/7/1987 của Bộ Chính trị đã quyết
định đưa nội dung đường lối quân sự của Đảng và nhiệm vụ quốc phòng vào
chương trình học tập chính thức trong các trường đào tạo, bổ túc cán bộ của
Đảng và Nhà nước các trường trung phổ thông học đến đại học.
- Chỉ thị số 12 - CT/TW ngày 03/5/2007 của Bộ Chính trị về “Tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng” đối với công tác giáo dục quốc phòng, an ninh
trong tình hình mới, đã chỉ rõ: Giáo dục quốc phòng - an ninh là một bộ phận
của nền giáo dục quốc dân, việc phổ cập và tăng cường giáo dục quốc phòng an ninh là nhiệm vụ chung của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, phải được tổ
chức thực hiện chặt chẽ thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Bằng các
hình thức phù hợp với từng đối tượng, chú trọng giáo dục lòng yêu nước, yêu
chế độ xã hội chủ nghĩa, lịch sử truyền thống của Đảng và dân tộc, lòng tự tôn
dân tộc, ý thức sống và làm việc theo pháp luật.
- Nghị định số 116/2007/NĐ - CP ngày 10/7/2007 của Chính phủ về
giáo dục quốc phòng - an ninh quy định rõ GDQP - AN là một bộ phận của
nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng
toàn dân, an ninh nhân dân, là môn học chính khóa trong chương trình giáo
dục đào tạo THPT đến đại học và các trường chính trị hành chính, đoàn thể.
5
Giáo dục quốc phòng - an ninh cho học sinh, sinh viên có ý nghĩa hết sức
quan trọng nó góp phần phát triển con người toàn diện có đạo đức, sức khỏe,
kiến thức quốc phòng, an ninh để tham gia vào sự nghiệp xây dựng và củng
* Nội dung:
Chương trình GDQP - AN lớp 12, THPT gốm 35 tiết với thời lượng 01
tiết/tuần, bao gồm cả những nội dung về quốc phòng - an ninh.
Hệ thống kiến thức trong chương trình môn học được cấu trúc theo hệ
thống hình bậc thang từ thấp lên cao, lớp 12 là lớp cuối cùng trong chương
trình THPT. Trong nội dung kiến thức và thực hành đều có tính độc lập
nhưng chúng gắn kết chặt chẽ với nhau. Khi học sinh kết thúc năm học thì họ
sẽ được trang bị kiến thức tương đối cơ bản về quốc phòng - an ninh.
Nội dung chương trình được cấu trúc như sau:
+ Bài 1. Đội ngũ đơn vị (2 tiết thực hành).
+ Bài 2. Một số hiểu biết về nền quốc phòng.
+ Bài 3. Tổ chức Quân đội và Công an nhân dân Việt Nam (3 tiết lý
thuyết).
+ Bài 4. Nhà trường Quân đội, Công an và tuyển sinh đào tạo (2 tiết lý
thuyết).
+ Bài 5. Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và Luật Công an
nhân dân (4 tiết lý thuyết).
+ Bài 6. Các tư thế, động tác cơ bản vận động trên chiến trường (6 tiết
thực hành).
+ Bài 7. Lợi dụng địa hình, địa vật (2 tiết: 1 tiết lí thuyết 1 tiết thực
hành).
+ Bài 8. Công tác phòng không nhân dân (4 tiết lí thuyết).
+ Bài 9. Trách nhiệm của học sinh với nhiệm vụ bảo vệ an ninh Tổ
quốc (3 tiết lí thuyết).
+ Kiểm tra (4 tiết: 2 tiết lí thuyết, 2 tiết thực hành).
7
1.1.3. Phân tích đặc điểm nội dung bài: “Công tác phòng không
cao chất lượng dạy học trên cơ sở đổi mới phương pháp dạy học ứng dụng
công nghệ thông tin là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Đổi mới phương pháp dạy học môn học GDQP - AN là đổi mới cách thức
dạy phù hợp với quá trình nhận thức của học sinh, phù hợp với điều kiện thực tế
cho phép của các cơ sở đào tạo. Việc đổi mới phương pháp dạy học GDQP - AN
không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn PPDH cũ bằng phương pháp cách dạy
hoàn toàn mới mà là sự vận dụng linh hoạt những PPDH truyền thống trong đó
có sự hỗ trợ của phương tiện dạy học hiện đại nhằm đạt được mục đích đề ra với
kết quả cao nhất.
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng GDQP
- AN là yêu cầu cấp thiết, là xu hướng phát triển tất yếu của môn học trong hệ
thống giáo dục quốc dân hiện nay. Đổi mới PPDH phải trên cơ sở bồi dưỡng
nghiệp vụ sư phạm và kĩ năng sử dụng các phương tiện giảng dạy hiện đại,
ứng dụng phần mềm tin học.
1.2. Cơ sở lý luận.
1.2.1. Một số khái niệm.
* Phương pháp dạy học:
Để hiểu rõ về phương pháp dạy học, trước hết chúng ta cần quan niệm
thế nào là phương pháp. Theo Hêghen, phương pháp là cách thức làm việc
của chủ thể, cách thức này phụ thuộc vào nội dung phương pháp và sự vận
động bên ngoài của nội dung .
Thuật ngữ Phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “methodos” có
nghĩa là con đường, công cụ nhận thức. Trong lý luận dạy học, phương pháp
dạy học có thể được hiểu là con đường chính yếu, cách thức làm việc phối
hợp, thống nhất của người dạy và người học trong quá trình truyền đạt và tiếp
thu tri thức, và thông qua đó, sự học tập của người học cuối cùng đạt tới mục
đích dạy học.
9
với các nội dung và các thành tố của quá trình dạy học như hình thức tổ chức
dạy học, phương tiện dạy học….
Vì vậy, biện pháp dạy học là cách tổ chức các hoạt động học tập cho
học sinh của giáo viên nhằm đạt được mục đích dạy học.
* Chất lượng giáo dục:
Chất lượng là toàn bộ sản phẩm đạt được nhằm đáp ứng nhu cầu đề ra.
Chất lượng giáo dục là sản phẩm của người dạy và người học, nó đánh
giá thông qua kết quả học tập mà người học đạt được.
1.2.2. Vai trò đổi mới phương pháp dạy học.
Đất nước ta đang bước vào sự hội nhập toàn cầu bối cảnh trong nước
và quốc tế có nhiều thay đổi. Những thay đổi đó tạo ra nhiều cơ hội song cũng
đặt ra nhiều thách thức và nguy cơ. Vì vậy bên cạnh việc học tập và kế thừa
những thành quả khoa học của nhân loại chúng ta cần đi tắt đón đầu, đổi mới
tư duy phương pháp làm việc học tập.
Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc
sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học và cũng đã đạt được hiệu
quả cao. Mặt khác sự bùng nổ của công nghệ thông tin làm cho nội dung sách
giáo khoa phải đổi mới, trình bày theo một hệ thống logic hơn, khoa học hơn.
Đổi mới nội dung tất yếu phải đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp.
Đặc biệt trong đó có môn học GDQP - AN.
Đổi mới phương pháp dạy học môn học GDQP - AN có vai trò vô cùng
quan trọng:
Một là: Nhằm nâng cao khả năng nhận thức, khả năng tư duy về quốc
phòng cho học sinh.
Hai là: Chuyển từ quan điểm phương pháp dạy học “lấy giáo viên làm
trung tâm” sang quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm”.
Ba là: Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy cao độ tính
tích cực chủ động của người học trong quá trình lĩnh hội tri thức, phát huy
dục chẳng những ở nước ta mà còn trên cả thế giới. Đổi mới phương pháp dạy
12
học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh “dạy học lấy
người học làm trung tâm” đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo xem là giải pháp
cơ bản để nâng cao chất lượng giáo dục khơi dậy khả năng tự học hình thành
cho học sinh tư duy tích cực độc lập sáng tạo đem lại hứng thú học tập.
Ở các trường THPT hiện nay thì hầu hết đã thực hiện đổi mới PPDH và
ứng dụng phần mềm tin học vào trong giảng dạy. Môn học GDQP - AN đã
được đưa vào chương trình học chính khóa tuy nhiên nó vẫn coi là môn học
phụ, chưa ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình giảng dạy. Vì
vậy cần có những nhận thức mới về môn học GDQP - AN và không được coi
nhẹ môn học này.
Đổi mới PPDH môn học GDQP - AN có ứng dụng công nghệ thông tin
là một tất yếu khách quan nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả môn học. Đội
ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ giáo viên phải coi đổi mới PPDH ứng dụng
CNTT vào dạy học môn học GDQP - AN là một nhiệm vụ quan trọng, cấp
bách hiện nay, từ đó công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện để đạt kết quả tốt
hơn.
1.3.2. Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học đối với bài
“Công tác phòng không nhân dân” lớp, 12 trung học phổ thông.
Trước sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ cùng với xu
thế hội nhập và cạnh tranh gay gắt của thế giới. Ngày nay, tri thức đóng vai trò
là nguồn lực quyết định đối với sự phát triển và tăng trưởng kinh tế. Từ đó đặt
ra cho ngành Giáo dục và Đào tạo một mục tiêu chiến lược đó là đào tạo ra
những con người phát triển toàn diện. Trong đó GDQP - AN cho học sinh
THPT nói chung và đổi mới phương pháp dạy học bài “Công tác phòng không
nhân dân” nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm đáp ứng tốt
hơn nữa yêu cầu của mục tiêu giáo dục và thực tiễn của ngành giáo dục đề ra.
- Để đánh giá chất lượng dạy học bài “Công tác phòng không nhân
dân” phải dựa vào các tiêu chí sau:
14
+ Mục tiêu bài học rõ ràng đầy đủ, truyền tải đủ nội dung làm nổi bật
trọng tâm của bài.
+ Phân bố thời gian hợp lý, hệ thống câu hỏi phù hợp với từng đối
tượng học sinh.
+ Bài giảng có tính vượt trội hơn so với bài giảng truyền thống, dễ
dàng trở về trang trước các phần đã học khi cần thiết.
+ Kết hợp các phương pháp dạy học truyền thống với ứng dụng công
nghệ thông tin.
- Lấy kết quả hoạt động của học sinh để đánh giá năng lực của giáo
viên.
+ Học sinh có hứng thú với tiết học không? (chăm chỉ tập chung hăng
hái ).
+ Học sinh có lĩnh hội kiến thức cơ bản của bài học không.
+ Học sinh có nêu nhiều câu hỏi thắc mắc không.
+ Học sinh có tham gia trao đổi, hoạt động nhằm đánh giá lẫn nhau
không (thảo luận, tranh luận, bàn bạc).
Như vậy với cơ sở đánh giá chất lượng bài giảng trên đã đáp ứng
PPDH tích cực trong đó lấy kết quả của học sinh để đánh giá khả năng
chuyên môn nghiệp vụ của người giáo viên. Với cơ sở đánh giá chất lượng
bài giảng trên người giáo viên sẽ tự động chuyển đổi và điều chỉnh PPDH
trong môn học giáo dục quốc phòng - an ninh lấy hoạt động của học sinh làm
nền tảng của mọi quá trình dạy học biến quá trình học tập thụ động của học
sinh thành quá trình học tập chủ động.
15
2.2. Phƣơng pháp giảng dạy của bài “Công tác phòng không nhân dân”
lớp 12, trung học phổ thông.
Môn học GDQP - AN được đưa vào giảng dạy trong những năm gần
đây, nhưng giáo viên được đào tạo chuyên môn vẫn còn thiếu chủ yếu là giáo
viên không chuyên hoặc qua lớp đào tạo ngắn hạn nên vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu tính chất của môn học.
Trong những năm qua việc giảng dạy môn học GDQP - AN trong
trường THPT đặc biệt là các bài lý thuyết vẫn giảng dạy theo phương pháp
truyền thống, phương pháp thuyết trình.Thuyết trình là phương pháp dùng lời
nói, đây là phương pháp cổ điển, truyền thống đã được sử dụng hàng nghìn
năm nay ở nước ta và trên thế giới.
Giáo viên dạy học bài “Công tác phòng không nhân dân” chủ yếu sử
dụng phương pháp thuyết trình độc thoại truyền thụ một chiều dựa vào giáo
án có sẵn.Trong bài giảng giáo viên hoàn thành đúng nội dung môn học theo
đúng chương mục và theo từng tiết giảng. Số giờ giảng của thầy giáo chiếm
đa số không có thời gian dành cho học sinh tự học, học nhóm hay thảo luận.
Khi giảng bài “Công tác phòng không nhân dân” giáo viên thường ghi những
đề mục lớn lên bảng giáo viên dựa vào phương pháp thuyết trình độc thoại,
giáo án và học sinh ghi những ý chính. Học sinh chỉ nghe, nghi nhớ thụ động,
ghi chép đầy đủ cẩn thận bài giảng của giáo viên trên lớp và đó cũng là tài
liệu ôn tập, học và kiểm tra. Phương pháp truyền thống này có nhược điểm
lớn là học sinh tham gia học tập thiếu sáng tạo, kém năng động, thụ động
trong quá trình học tập cũng như không nắm bắt được nội dung của bài do
vậy nhận thức của học sinh về bài học còn ở mức độ thấp.
2.3. Cơ sở vật chất bảo đảm.
Môn học GDQP - AN đã được các văn bản của Đảng, Chính phủ quyết
định là môn học chính khóa trong hệ thống các nhà trường và phổ biến cho
17
chất bảo đảm của giáo viên chủ yếu là sách giáo khoa, giáo án, của học sinh
chỉ là sách giáo khoa và vở ghi bài.
Như vậy đối với lớp học đông và điều kiện vật chất bảo đảm như trên
thì học sinh không thể đạt được yêu cầu cũng như tiếp thu nội dung của bài
học được đặt ra.
2.4. Đánh giá chất lƣợng dạy học bài “Công tác phòng không nhân dân”
lớp 12, trung học phổ thông.
Trong những năm qua các sở Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo xây dựng
kế hoạch hướng dẫn các nhà trường chọn nhiều hình thức tích cực để nâng cao
chất lượng học tập môn học môn học GDQP - AN, trong đó có bài “Công tác
phòng không nhân dân”. Tuy nhiên qúa trình giảng dạy môn học GDQP - AN
trong các trường THTP hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập giáo viên vẫn sử
dụng phương pháp dạy học truyền thống, không quan tâm đầu tư cho môn học
nên ở các trường việc dạy học bài “Công tác phòng không nhân dân” vẫn chưa
đạt được kết quả như đã đề ra.
Qua thực tế dạy học môn học GDQP - AN ở các trường THPT đạt kết
quả chưa cao, học sinh có tư tưởng không muốn học và không thích học môn
học này. Đa số các em cảm thấy đây là một môn học khó, môn phụ. Bài “Công
tác phòng không nhân dân” thuộc nội dung lý thuyết nên nhà trường chưa đầu
tư cơ sở vật chất cho môn học, không có hình ảnh minh họa, giáo viên không
được đào tạo chuyên môn nên trong quá trình giảng dạy không liên hệ được
với thực tiễn, không lấy được các ví dụ minh họa liên quan đến bài học, không
gây được hứng thú học tập cho học sinh.
Từ thực trạng trên thì việc đổi mới PPDH môn học GDQP - AN là rất
cần thiết để tạo không khí và hứng thú học tập cho học sinh
19
* Thực trạng dạy học bài “Công tác phòng không nhân dân” ở trường
1
Trƣờng
THPT
Học sinh Tổng
lớp 12
số
12A1
50
THPT
12A2
Khá
Trung
Kém
bình
Xuân Hòa
2
(4,4%) (26,7%) (62,2%) (6.7%)
Bảng kết quả học tập theo phương pháp truyền thống trên cho thấy
giảng dạy bài “Công tác phòng không nhân dân”theo phương pháp truyền
thồng vẫn còn thấp. Tại các trường trên tỉ lệ học sinh giỏi chiếm ít, chủ yếu là
học sinh xếp loại khá và trung bình, còn có một số học sinh xếp loại kém. Từ
thực tế trên cần phải tiến hành đổi mới phương pháp dạy học bài “Công tác
phòng không nhân dân” để đạt được kết quả cao nhất.
21
CHƢƠNG 3: NHỮNG BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG DẠY HỌC BÀI “CÔNG TÁC PHÒNG KHÔNG
NHÂN” CHO HỌC SINH LỚP 12, TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG
3.1. Nghiên cứu đối tƣợng nội dung chƣơng trình môn học.
3.1.1. Nghiên cứu đối tượng.
Đối tượng học tập ở đây là học sinh THPT người giáo viên phải đi
nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm, tâm lí của học sinh THPT nói chung và học
sinh lớp 12 nói riêng. Đây là độ tuổi đang phát triển có trình độ hiểu biết nhất
định, có khả năng phân tích tổng hợp ham hiểu biết và có nhiều hoài bão tuy
nhiên mỗi học sinh lại có những đặc điểm khác nhau, có học sinh ở lớp
chuyên ban, có học sinh ở lớp không chuyên ban, có học sinh có sức khỏe tốt
nhưng cũng lại có những học sinh sức khỏe không tốt……vì vậy mà trình độ
nhận thức và khả năng tiếp thu của các em cũng khác nhau. Chính vì thế khi
tiến hành dạy học giáo viên cần xác định từng đối tượng và hoàn cảnh cụ thể
của học sinh để có công tác tổ chức và phương pháp giảng dạy cho phù hợp.
Đây là yếu tố quan trọng để giúp học sinh dễ tiếp thu và nhận thức nhanh
- Là hình thức giáo viên trình bày trực tiếp một tài liệu học tập, một
vấn đề khoa học, một đề tài nghiên cứu hay một phương pháp khoa học nào
đó theo một hệ thống, một trình tự nhất định cho đông đảo học sinh, sinh
viên. Diễn giảng là một trong những hình thức dạy học cơ bản, có thể được
tiến hành trong một môi trường lớn với số đông người học nên hiệu quả đào
tạo cao, tiết kiệm thời gian và sức lực của giáo viên.
- Những yêu cầu đối với diễn giảng:
+ Về nội dung, diễn giảng phản ánh được những tri thức khoa học cơ
bản, những thành tựu mới nhất, hiện đại nhất của khoa học kĩ thuật ở trong
23
nước và thế giới. Đặc biệt phải đảm bảo tính giáo dục, tính nghề nghiệp và
tính thực tiễn trong quá trình diễn giảng.
+ Về phương pháp, bài diễn giảng phải được trình bày một cách rõ
ràng, trong sáng, bồi dưỡng cho người học phương pháp tư duy lôgic, gây
hứng thú trong học tập, nghiên cứu.
+ Về tổ chức, bài giảng phải đảm bảo sự thống nhất giữa hoạt động dạy
và học, phải tạo điều kiện để người học có thể nghe, ghi chép những nội dung
cơ bản.
Thứ hai: Tự học:
- Là hình thức độc lập của người học nhằm lĩnh hội hoặc củng cố, vận
dụng các kiến thức, kĩ năng.
- Trong GDQP, tự học là hình thức cần thiết và có thể tổ chức theo các
loại hình cơ bản sau đây:
+ Tự nghiên cứu các tài liệu học tập như sách giáo khoa, giáo trình, vở
ghi và các tài liệu tham khảo khác trước và sau khi nghe giảng nhằm giúp cho
người học mở rộng, đào sâu, nắm chắc kiến thức môn học.
+ Tự nghiên cứu rèn luyện các kĩ năng, kĩ sảo chiến đấu hoặc sử dụng
được kết quả cao trong giảng dạy và học tập. Sử dụng tốt phương tiện đồ
dùng dạy học có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện có hiệu quả
tiến trình đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực. Đồ
dùng dạy học để cho học sinh thực hành và khám phá kiến thức mới. Vì vậy
tăng cường sử dụng đồ dùng và phương tiện dạy học là một yêu cầu cấp thiết
đối với người giáo viên.
Phương pháp trực quan được sử dụng rộng rãi trong môn học GDQP AN nhưng tùy theo nội dung bài giảng, tính chất của mỗi bài học và tình hình
cụ thể của đối tượng học tập, kinh nghiệm của giáo viên mà sử dụng các
phương tiện dạy học cho phù hợp.
Đối với môn học GDQP - AN thì việc sử dụng phương dạy học trực
quan càng cần thiết hơn bao giờ hết. Sử dụng phương tiện trực quan vào bài
25