Ứng dụng CNTT trong dạy học các định lý chương quan hệ vuông góc hình học lớp 11 theo phương pháp dạy học tích cực - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD: ThS Nguyễn Văn Hà

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và biết ơn sâu sắc
đến thầy giáo Th.S Nguyễn Văn Hà – người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Toán, đặc biệt
là các thầy cô trong tổ phương pháp đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý
báu cả về lý thuyết lẫn thực tiễn – là nền tảng khoa học để tôi hoàn thành khóa
luận này.

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2013
Sinh viên

Trần Văn Dũng

SVTH: Trần Văn Dũng

K35C - Toán


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD: ThS Nguyễn Văn Hà

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Ứng dụng CNTT trong dạy học các định lí chương


HS: Học sinh

SVTH: Trần Văn Dũng

K35C - Toán


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD: ThS Nguyễn Văn Hà

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
NỘI DUNG ................................................................................................. 4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG ................................................. 4
1.1. Tổng quan về phương pháp dạy học .................................................. 4
1.1.1. Khái niệm về phương pháp dạy học ................................................ 4
1.1.2. Một số đặc điểm của phương pháp dạy học .................................... 4
1.1.3. Hệ thống phân loại các phương pháp dạy học ................................. 5
1.2. Phương pháp dạy học tích cực môn Toán ......................................... 6
1.2.1. Thế nào là tính tích cực học tập ...................................................... 6
1.2.2. Phương pháp dạy học tích cực ........................................................ .7
1.3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán ......................... 14
1.3.1. Vai trò của công nghệ thông tin ..................................................... 14
1.3.2. Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin .................................... 15
1.3.3. Phương pháp sử dụng tư liệu thông tin trong dạy học hình học ở
trường THPT ........................................................................................... 19
1.4. Giới thiệu một số phần mềm thông dụng sử dụng trong dạy học hình
học ở trường THPT .................................................................................. 20

2.2.3. Dạy học định lí điều kiện hai mặt phẳng vuông góc ........................ 55
2.2.4. Dạy học định lí về tính chất hai mặt phẳng vuông góc ..................... 59
KẾT LUẬN………………………………………………………………... 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………... 64

SVTH: Trần Văn Dũng

K35C - Toán


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD: Th.S Nguyễn Văn Hà

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Hiện nay chúng ta đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của công
nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông (ICT). Với sự ra đời của Internet
đã thực sự mở ra một kỷ nguyên ứng dụng CNTT và truyền thông trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, kinh tế… Trong khung cảnh đó đào tạo
và giáo dục được coi là “mảnh đất màu mỡ” để cho các ứng dụng của
ICT phát triển điều đó sẽ tạo ra những thay đổi sâu sắc trong công nghệ
đào tạo và giáo dục. Những công nghệ tiên tiến như đa phương tiện, CDROM, DVD và Internet sẽ mang đến những biến đổi có tính cách mạng
trên quy mô toàn cầu trong mọi lĩnh vực đào tạo giáo dục, do đó sẽ dẫn
đến những thay đổi trong phương pháp dạy học.
Với sự hỗ trợ của máy tính điện tử và các phần mềm dạy học quá trình
dạy học toán sẽ có những nét mới. Qua nghiên cứu chương trình SGK
môn toán (THPT), tôi nhận thấy có nhiều nội dung khi dạy học rất cần sự
hỗ trợ của CNTT để tiết kiệm thời gian trên lớp, đảm bảo nội dung cần
truyền đạt, làm đơn giản hoá các vấn đề mang tính trừu tượng cao, phát

cực” để làm khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu.
 Phát huy được hứng thú và tính tích cực học tập của học sinh đối với
việc học tập hình học trong không gian.
 Bước đầu giúp cho GV và HS tiếp cận với phương pháp và phương tiện
dạy học hiện đại, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc dạy và
học.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
 Những quan điểm lí luận về phương pháp dạy học tích cực môn toán.
 Ứng dụng CNTT trong dạy học toán để đạt hiệu quả cao.
 Thiết kế và xây dựng các “bài giảng điện tử” dạy học định lí của
chương “Quan hệ vuông góc – Hình học 11 nâng cao” theo phương pháp
dạy học tích cực.
4. Đối tượng nghiên cứu.
 Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động của học sinh theo phương
pháp dạy học tích cực.
 Các phần mềm chuyên dụng trong dạy học môn toán ở phổ thông.

SVTH: Trần Văn Dũng

-2-

K35C - Toán


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD: Th.S Nguyễn Văn Hà

5. Phương pháp nghiên cứu.

L.La.Lecnerh: “PPDH là hệ thống những hoạt động có mục đích của giáo
viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức, thực hành của học sinh, đảm bảo
cho các em lĩnh hội được nội dung học vấn”. Theo tác giả Nguyễn Ngọc
Quang trong “Lý luận dạy học đại cương ” (1988): “PPDH là cách thức
làm việc giữa thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất và sự chỉ đạo của
thầy, nhằm làm trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học” .
Lấy tiêu chí mức độ hoạt động độc lập của học sinh làm cơ sở, đồng thời
tính đến việc đổi mới PPDH theo hướng quy trình hóa việc tổ chức quá
trình dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh thì:
“PPDH là tổ hợp các cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong
quá trình dạy học, được tiến hành với vai trò chủ đạo của giáo viên, sự
hoạt động nhận thức tích cực, tự giác của học sinh nhằm thực hiện tốt
những nhiệm vụ dạy học theo hướng mục tiêu”
1.1.2. Một số đặc điểm của PPDH.
- PPDH có tính khái quát: con đường, cách thức để đạt những mục đích
ở đây được hiểu chính là một tập hợp các hoạt động, các thao tác cần

SVTH: Trần Văn Dũng

-4-

K35C - Toán


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD: Th.S Nguyễn Văn Hà

thiết có tính chất chung nhất, khái quát nhất mà mọi người khác nhau cần
phải hiểu và hoạt động như thế để đạt mục đích đề ra.



Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD: Th.S Nguyễn Văn Hà

 Môn văn: PPDH kể chuyện văn học, PPDH thơ ca…
- PPDH với việc phát triển tư duy học sinh:
 PPDH gợi mở - vấn đáp.
 PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề.
 PPDH thực hành – luyện tập.
- PPDH với các hình thức tổ chức dạy học:
 Dạy học theo lớp.
 Dạy học theo nhóm.
 Dạy học theo cấp học.
1.2. PPDH tích cực môn Toán.

1.2.1. Thế nào là tính tích cực học tập ?
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để
tồn tại và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi
trường tự nhiên, cải tạo xã hội. Vì vậy, hình thành và phát triển TTC xã
hội là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục.
Tính tích cực học tập - về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát
vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm
lĩnh tri thức. TTC nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết
với động cơ học tập. Động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề
của tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực. Tính
tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của
sáng tạo. Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát
triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập. TTC học tập biểu

tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích
cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ
động. Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo
cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới
cách dạy của thầy. Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy
tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường
hợp giáo viên hăng hái áp dụng PPDH tích cực nhưng không thành công
vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động. Vì vậy,
giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho
học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên
cao. Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy

SVTH: Trần Văn Dũng

-7-

K35C - Toán


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD: Th.S Nguyễn Văn Hà

và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới
thành công.
b. Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực.
- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt
động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút
vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó

GVHD: Th.S Nguyễn Văn Hà

người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực
tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn
đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà
sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên.
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể
đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp
nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất
là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập. Áp dụng
phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn.
Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ
đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng
của mỗi học sinh.
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều
được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi
trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các
cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo
luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng
định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài
học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy
giáo.
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp
nhóm, tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt
động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng
hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc
xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành
nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện


đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các
kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong
việc giải quyết những tình huống thực tế.
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn
là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin
kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động
học.
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn

SVTH: Trần Văn Dũng

- 10 -

K35C - Toán


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD: Th.S Nguyễn Văn Hà

đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành
người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm
nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục
tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình. Trên lớp,
học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước
đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất
nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp
với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong
các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên
phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề

+ Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): giáo viên dùng một hệ thống
câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra
bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích
thích sự ham muốn hiểu biết. Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến.
+ Kể cả tranh luận giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm
giải quyết một vấn đề xác định. Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viên giống
như người tổ chức sự tìm tòi, còn học sinh giống như người tự lực phát
hiện kiến thức mới. Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có
được niềm vui của sự khám phá trưởng thành thêm một bước về trình độ
tư duy.
- Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề.
Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh
tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy
sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc
sống, đặc biệt trong kinh doanh. Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát
hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc
sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm
phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và
đào tạo.
Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và
giải quyết vấn đề thường như sau:
+ Phát hiện vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức.
 Tạo tình huống có vấn đề.
 Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh.
 Phát hiện vấn đề cần giải quyết.

SVTH: Trần Văn Dũng

- 12 -


các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức
mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ
trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm

SVTH: Trần Văn Dũng

- 13 -

K35C - Toán


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD: Th.S Nguyễn Văn Hà

những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là
sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên.
 Kết luận: đối với việc học môn toán ở bậc THPT, do đặc thù của môn
học theo ý kiến chúng tôi nhận thấy tư tưởng cốt lõi, trọng tâm nhất của
việc dạy học toán theo PPDH tích cực là: tổ chức cho HS chủ động xây
dựng định nghĩa, khái niệm toán học, chủ động tìm đường lối chứng
minh toán học.
1.3.Ứng dụng CNTT trong dạy học toán.
1.3.1. Vai trò của CNTT.
Bill Gates, ông chủ tập đoàn Microsoft, đã khẳng định: “Một trong
những điều kỳ diệu nhất trong 20 năm trở lại đây là sự xuất hiện của
Internet. Chính Internet đã làm cho thế giới trở nên rất nhỏ, khoảng cách
địa lý đã bị san phẳng… Một điều tuyệt vời khác là ngày càng có nhiều
trường đại học trên thế giới đưa bài giảng lên Internet. Bạn có thể ở bất
kỳ nơi đâu trên thế giới để chọn bài giảng, chủ đề…, thậm chí là những

Trong các tiết học, học sinh sẽ thấy thích thú hơn nếu thầy cô biết cách
đầu tư khi tích hợp các hình ảnh, âm thanh, hiệu ứng cùng với bài giảng
của mình. Song, nếu lạm dụng, những tiết học trên lớp sẽ trở nên rất
nhàm chán, trở thành việc trình chiếu những kỹ xảo "điện ảnh".
1.3.2. Phương pháp sử dụng CNTT.
Dạy học với phương pháp tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn
thuần là người truyền đạt kiến thức. Giáo viên trở thành người thiết kế, tổ
chức, hướng dẫn các hoạt động để học sinh tự chiếm lĩnh các kiến thức,
hình thành các kỹ năng, thái độ mới theo yêu cầu của chương trình. Khi
soạn bài giáo viên phải đầu tư nhiều công sức và thời gian mới có thể
thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, tư
vấn trọng tài hoặc như người dẫn chương trình trong các hoạt động tìm
tòi, hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh.
Để hiểu rõ hơn về thực hiện ứng dung CNTT vào dạy học Toán ở trường
THPT tôi xin trình bày các bước như sau:
a. Bước1. Xác định mục tiêu kiến thức trọng tâm của bài dạy.
Mục tiêu đề ra qua các hoạt động phải đạt được: GV là người chỉ đạo,
tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ học sinh đạt được mục tiêu. GV cần nghiên
cứu kỹ bài qua sách giáo khoa, sách giáo viên để xác định đúng hướng.

SVTH: Trần Văn Dũng

- 15 -

K35C - Toán


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD: Th.S Nguyễn Văn Hà

- 16 -

K35C - Toán


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD: Th.S Nguyễn Văn Hà

c. Bước4. Ứng dụng CNTT hỗ trợ quá trình dạy học Toán ở trường
THPT theo phương pháp tích cực.
. Hoạt động gợi động cơ, tạo tiền đề xuất phát.
- Hoạt động gợi động cơ xuất phát từ thực tế: giáo viên có thể sử dụng
CNTT chọn lọc và đưa ra những hình ảnh thực tế cuộc sống có liên quan
với kiến thức toán học sẽ học. Từ đó giúp học sinh thấy được ý nghĩa, vai
trò thiết thực của Toán học và sẽ tạo được nhu cầu, hứng thú trong học
tập.
- Hoạt động gợi động cơ do nội bộ môn Toán: giáo viên thường nêu ra
một tình huống Toán học, có thể là một bài toán cùng với hình vẽ tương
ứng. Giáo viên phân tích trên tình huống toán học đó, giúp học sinh
nhanh chóng thấy được sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu kiến thức
Toán học mới để bổ sung và hoàn thiện kiến thức Toán học của bản thân.
. Dạy học kiến thức Toán học mới.
- Dạy học khái niệm Toán học: Kịp thời đưa ra chỉ dẫn gợi ý, các câu hỏi
ngắn gọn, rõ ràng và các hình vẽ mang tính trực quan cao, thúc đẩy sự tập
trung suy nghĩ tìm kiếm phát hiện các dấu hiệu đặc trưng bản chất của
khái niệm. Từ đó có thể nhanh chóng khái quát hóa nêu được định nghĩa
khái niệm Toán học. Mặt khác, sử dụng CNTT còn giúp cho học sinh dễ
dàng thấy được nội dung đầy đủ của định nghĩa khái niệm Toán học
thông qua việc hiển thị các đoạn văn bản.

huống và phân tích tình huống đều được giáo viên chuẩn bị trước nhờ
máy tính điện tử. Do vậy các tình huống đưa ra sẽ rất gọn, rõ ràng, chuẩn
mực và hấp dẫn đối với học sinh. Từ đó tiết kiệm được nhiều thời gian,
tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết các tình huống đó và các tình
huống tiếp theo.
1.3.3. Phương pháp sử dụng tư liệu thông tin trong dạy học hình học
ở trường THPT
a.Tích cực khai thác những hình ảnh trong thực tế cuộc sống:
Sử dụng CNTT để chọn lọc và đưa ra những hình ảnh chân thực
những hình ảnh chân thực trong thực tế cuộc sống có liên quan với kiến
thức toán học sẽ học. Từ đó học sinh thấy được ý nghĩa vai trò thiết thực
của toán học và sẽ có nhu cầu, hứng thú trong việc học tập.
Nếu không có ứng dụng CNTT thì hoạt động này hoàn toàn chỉ được thể
hịên qua lời thuyết minh, qua lời kể các câu chuyện của giáo viên, nó sẽ
ít hấp dẫn và khó lôi cuốn học sinh đối với nhiệm vụ học tập

SVTH: Trần Văn Dũng

- 18 -

K35C - Toán


Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD: Th.S Nguyễn Văn Hà

b. Sử dụng đoạn văn bản:
Ta có thể cho hiển thị màn hình máy vi tính các đoạn văn bản ở
dạng text box mà trong việc tổ chức dạy học trên lớp người giáo viên chỉ



Khóa luận tốt nghiệp đại học

GVHD: Th.S Nguyễn Văn Hà

nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào dạy học là một nhu
cầu bức thiết, trong đó có việc ứng dụng phần mềm PowerPoint để soạn
bài giảng điện tử (tạm gọi là Giáo án điện tử - GAĐT). Tuy nhiên, làm
thế nào để sử dụng hiệu quả GAĐT trong dạy học là vấn đề cần quan
tâm. Hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong việc dạy và học đã được triển
khai sâu, rộng ở các cấp học, ở nhiều địa phương trong cả nước. Việc dạy
học bằng GAĐT đã được áp dụng ở nhiều trường, nhất là ở các trường thị
trấn, thị xã, thành phố. Việc dạy học bằng GAĐT có rất nhiều tiện ích mà
cách dạy “cổ điển” không có được:
Thứ nhất: GAĐT sẽ thay thế một phần việc ghi bảng của giáo viên. Nhất
là đối với những giáo viên viết chữ không được đẹp. Đặc biệt, việc giáo
viên đặt ra những câu hỏi trong tiết dạy, những bài tập thảo luận nhóm…
nếu cứ viết bảng sẽ tốn không ít thời gian trong một tiết dạy. Việc dạy
bằng GAĐT sẽ giúp giáo viên tự tin hơn, không đặt nặng quá vấn đề ghi
bảng.
Thứ hai: dạy bằng GAĐT sẽ giúp giáo viên truyền đạt được khối lượng
kiến thức lớn đến học sinh, nhất là những tranh ảnh, sách vở minh họa.
Thứ ba: GAĐT là một phương tiện giảng dạy trực quan sinh động. Bên
cạnh đó, chúng ta sẽ sử dụng biểu mẫu hay tranh ảnh kết hợp trong tiết
dạy. Đối với tiết dạy bình thường, để minh họa một vấn đề gì đó trong
bài học giáo viên phải chuẩn bị nào là bảng phụ, nào là nam châm, dây
treo… thì dạy bằng GAĐT, giáo viên chỉ cần soạn trên PowerPoint sau
đó chiếu lên để học sinh theo dõi, vừa tiện lợi vừa dễ dàng quan sát. Sử
dụng giáo án điện tử trong tiết dạy Toán , giáo viên có thể nhấn mạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status