Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện đa khoa thành phố Thanh Hóa năm 2014 - Pdf 31

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN QUỐC VIỆT

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG
THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
THÀNH PHỐ THANH HÓA NĂM 2014

LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

HÀ NỘI 2015


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN QUỐC VIỆT

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG
THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
THÀNH PHỐ THANH HÓA NĂM 2014
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12

Người hướng dẫn khoa học :

TS. Vũ Thị Thu Hương

HÀ NỘI 2015

Chương 1. TỔNG QUAN

3

1.1. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI CÁC BỆNH VIỆN Ở VIỆT
NAM

3

1.1.1. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng

3

1.1.2. Thực trạng kê đơn và thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú

6

1.2. MỘT SỐ VĂN BẢN PHÁP QUY VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG THUỐC
TẠI BỆNH VIỆN
1.3. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VỀ SỬ DỤNG
THUỐC

9
13

1.3.1. Phương pháp phân tích ABC

13

1.3.2. Phương pháp phân tích nhóm điều trị


2.1.2. Thời gian nghiên cứu

19

2.1.3. Địa điểm nghiên cứu

19

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

19

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

19

2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu

19

2.2.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

20

2.2.4. Phương pháp trình bày số liệu

22

2.3. CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU

26

28

3.1.4. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ

32

3.1.5.Cơ cấu và giá trị tiền thuốc đơn thành phần – đa thành phần

36

3.1.6. Cơ cấu thuốc mang tên biệt dược gốc – tên thương mại

37

3.1.7. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc theo đường dùng

37


3.1.8. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc trong danh mục – ngoài danh
mục

38

3.1.9. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc nhóm thuốc kháng sinh

38


3.2.5. Sử dụng các thuốc có tác dụng bổ trợ trong kê đơn

46

3.2.6. Thực hiện quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú

47

Chương 4. BÀN LUẬN

48

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

63


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BV:

Bệnh viện

BVĐK:

Bệnh viện đa khoa


Dược sỹ

HĐT & ĐT:

Hội đồng thuốc và điều trị

BHXH:

Bảo hiểm xã hội

VEN: + Vital:

Sống còn

+ Essential:

Thiết yếu

+ Nonessential:

Không thiết yếu

WHO:

Tổ chức y tế thế giới

DMTCY:

Danh mục thuốc chủ yếu


Số lượng tiêu thụ

TB:

Trung bình


DANH MỤC BẢNG
Bảng
1.1
3.2

3.3

3.4

Nội dung
Cơ cấu nhân lực bệnh viện
Giá trị tiền thuốc sử dụng tại BVĐK Thành phố Thanh
hóa năm 2014
Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng theo phương pháp
phân nhóm điều trị
Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng theo phương pháp
phân tích ABC

Trang
17
25


Tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước – thuốc nhập khẩu trong
các thuốc có giá trị sử dụng lớn nhất

33

3.10 Cơ cấu thuốc nhập khẩu theo nước sản xuất

35

3.11 Cơ cấu thuốc đơn thành phần – đa thành phần

35

3.12 Cơ cấu thuốc mang tên biệt dược gốc – tên thương mại

36

3.13 Cơ cấu và giá trị tiền thuốc theo đường dùng

37

3.14 Cơ cấu và giá trị tiền thuốc trong danh mục – ngoài danh
mục
3.15 Các nhóm kháng sinh sử dụng

37

Các hoạt chất nhóm beta-lactam có giá trị sử dụng cao
3.16 nhất



3.24 Chi phí một đơn thuốc

45

3.25 Tỷ lệ đơn thuốc có phối hợp kháng sinh

45

3.26 Tỷ lệ đơn thuốc có kê các thuốc có tác dụng bổ trợ

46

3.27 Nội dung thực hiện ghi thông tin bệnh nhân

47


DANH MỤC HÌNH
Hình
2.1

3.2

3.3

3.4
3.5

Nội dung

thuốc và quan tâm đến việc hướng tới sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và
hiệu quả nhất cho người bệnh. Tuy nhiên, qua một số kết quả nghiên cứu
cho thấy việc sử dụng thuốc vẫn còn nhiều bất cập. Theo số liệu thống kê
tại khoa Dược bệnh viện Bạch Mai cho thấy chi phí về kháng sinh trong
toàn viện chiếm hơn 30% tổng chi phí thuốc điều trị [4], tại bệnh viện C
Thái Nguyên năm 2011, chi phí KS trong toàn viện chiếm 34,4% tổng giá
trị tiêu thụ thuốc [1].
Kể từ khi Việt Nam ra nhập tổ chức thương mại Thế Giới, thị trường
dược phẩm nước ta ngày càng phong phú về cả số lượng và chủng loại.
Điều này đã tạo ra thuận lợi cho các Bệnh Viện cung ứng đầy đủ và kịp
thời các loại thuốc có chất lượng và giá cả tương đối ổn định [2]. Tuy nhiên
nó cũng có tác động không nhỏ đến việc tiêu cực trong công tác sử dụng
thuốc tại Bệnh Viện, là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc lạm
dụng thuốc trong điều trị và gây nên sự cạnh tranh không lành mạnh cũng
như lạm dụng thuốc.
Hiện nay, việc sử dụng thuốc trong công tác phòng và chữa bệnh ở
một số Bệnh Viện đôi khi còn những bất cập như: Thuốc khánh sinh
1


corticoid, Vitamin… còn bị lạm dụng, các thuốc không thiết yếu, không
thật sự cần thiết dùng với tỷ lệ cao [3].
Bệnh Viện Đa Khoa Thành Phố Thanh Hóa được tách ra từ Trung
tâm y tế Thành phố Thanh hóa từ năm 2006, là Bệnh Viện Đa Khoa hạng
III với quy mô 200 giường ( thực kê 250 giường) có nhiệm vụ, chức năng
khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Thành Phố và các
vùng lân cận.
Với nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của người dân, để thực
hiện tốt hơn nữa công tác khám và điều trị bệnh, công tác quản lý sử dụng
thuốc cần được chú trọng, trong đó việc phân tích đánh giá thực trạng sử

thiết [40] và hơn một nửa số ca viêm đường hô hấp trên điều trị kháng sinh
không hợp lý. Tại châu Âu, sự đề kháng của phế cầu với penicillin tỷ lệ
thuận với lượng kháng sinh được sử dụng [41].
Theo các nghiên cứu trong những năm gần đây, giá trị tiền thuốc sử
dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kinh phí Bệnh viện. Kết quả khảo sát
Bệnh viện E năm 2009 cho thấy, kinh phí mua thuốc chiếm gần 50% tổng
chi tiêu thường xuyên của bệnh viện [4]. Tại Bệnh viện Hữu Nghị từ năm
2004 đến năm 2010, tổng tiền thuốc sử dụng chiếm tỷ lệ từ 29,4% (năm
2010) đến 41,2% (năm 2007) trong tổng kinh phí Bệnh viện [5].
Các báo cáo của Bộ Y tế qua các năm cho thấy tiền mua thuốc của
các Bệnh viện tăng cả về số lượng và tỷ trọng so với tổng kinh phí các
Bệnh viện. Theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2009, 2010
của Cục quản lý khám chữa bệnh – Bộ Y tế, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng
3


trong Bệnh viện chiếm tỷ trọng 47,9% (năm 2009) và 58,7% (năm 2010)
tổng giá trị tiền viện phí hàng năm trong Bệnh viện [6].
Sử dụng kháng sinh luôn là vấn đề được quan tâm trong sử dụng
thuốc an toàn, hợp lý. Theo kết quả nghiên cứu tại các Bệnh viện, kinh phí
mua thuốc kháng sinh luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị tiền
thuốc sử dụng. Kết quả khảo sát của Bộ Y tế tại một số Bệnh viện cho thấy,
từ năm 2007 đến năm 2009, kinh phí mua thuốc kháng sinh chiếm tỷ lệ
không đổi, từ 32,3% đến 32,4% trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng [7].
Nghiên cứu của Vũ thị Thu Hương và cộng sự năm 2009 trên 38
Bệnh viện Đa khoa (7 Bệnh viện Đa khoa tuyến Trung Ương, 14 Bệnh viện
tuyến Tỉnh và 17 Bệnh viện huyện/quận) đại diện cho 6 vùng trên cả nước
cũng cho kết quả tương tự với tỷ lệ giá trị tiền thuốc kháng sinh ở 3 tuyến
Bệnh viện trung bình là 32,5%, trong đó cao nhất là ở các Bệnh viện tuyến
Huyện (43,1%) và thấp nhất tại các Bệnh viện tuyến Trung Ương

kháng sinh vẫn còn phổ biến [15].
Vitamin cũng là hoạt chất thường được sử dụng và có nguy cơ lạm
dụng cao. Kết quả phân tích tại 38 Bệnh viện trong cả nước năm 2009 cho
thấy Vitamin là một trong 10 nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn nhất tại tất
cả các tuyến Bệnh viện. Bên cạnh đó, nhóm thuốc này cũng được sử dụng
nhiều tại Bệnh viện Hữu Nghị từ năm 2008 đến năm 2010 và tại Bệnh viện
E năm 2009 [4], [5].
Bên cạnh nhóm kháng sinh và vitamin, các thuốc có tác dụng bổ trợ,
hiệu quả điều trị chưa rõ ràng cũng đang được sử dụng phổ biến ở hầu hết
các Bệnh viện trong cả nước.
Kết quả khảo sát về thực trạng thanh toán thuốc BHYT trong cả
nước năm 2010 cho thấy, trong tổng số 30 hoạt chất có giá trị thanh toán
lớn nhất có cả các thuốc bổ trợ là L-Ornithin L-Aspartat, Ginkgo biloba và
Arginin. Trong đó, hoạt chất L-Ornithin L-Aspartat nằm trong số 5 hoạt
chất chiếm tỷ lệ lớn nhất về giá trị thanh toán[20]. Đồng thời, hoạt chất này
5


cũng là một trong những hoạt chất chiếm giá trị nhập khẩu lớn nhất thuộc
nhóm tiêu hóa có xuất xứ từ Ấn Độ và Hàn Quốc năm 2008 [17].
Cũng theo kết quả của Vũ Thị Thu Hương và cộng sự năm 2009, các
nhóm thuốc tiêu hóa có giá trị sử dụng lớn tại tất cả các Bệnh viện khảo sát,
trong đó các thuốc hỗ trợ điều trị bệnh gan mật (L-Ornithin L-Aspartat và
Arginin) chiếm tỷ lệ cao. Tại một BVĐK tuyến Trung Ương, 3 thuốc chứa
L-Ornithin L-Aspartat 500mg, dạng tiêm có giá trị sử dụng là 21 tỷ, chiếm
tỷ trọng 25,3% nhóm thuốc tiêu hóa. Ngoài ra, tại các Bệnh viện tuyến TW
và tuyến Tỉnh, nhóm thuốc giải độc và dùng trong trường hợp ngộ độc
cũng chiếm tỷ lệ cao về giá trị và phần lớn giá trị của nhóm thuốc này tập
trung vào các hoạt chất có giá thành cao, hiệu quả điều trị không rõ ràng là
Glutathion và Alfoscerate [8].

yếu là 1,5 thuốc/1 đơn thuốc, chiếm 41,46% tổng số thuốc trung bình một
đơn [20].
Theo các nghiên cứu tại BV TW Quân Đội 108 năm 2010, BV Tim
Hà Nội 2010 và BV Đa khoa Vĩnh Phúc năm 2011, số thuốc trung bình
trong một đơn thuốc từ 4,2 đến 4,4 [21], [22], [23].
Một nghiên cứu khác về tình hình kê đơn thuốc ngoại trú BV Bạch
Mai năm 2011 cũng cho tỷ lệ tương tự với số thuốc trung bình trong một
đơn là 4,7 (với đơn không có BHYT) và 4,2 (với đơn BHYT). Trong đó, số
đơn có 6 – 10 thuốc chiếm tỷ lệ 32,7% (với đơn không có BHYT) và
25,3% (với đơn BHYT) và có đơn (không có BHYT) sử dụng 11 – 15
thuốc chiếm tỷ lệ 4,8% [24].
Cũng theo nghiên cứu trên tại BV Bạch Mai, tỷ lệ đơn có kháng sinh
là 32,3% (với đơn không có BHYT) và 20,5% (với đơn BHYT). Trong đó,
sử dụng kết hợp kháng sinh tương đối phổ biến (45,9% các đơn không
BHYT và 37,67% các đơn BHYT) và chủ yếu là kết hợp 2 kháng sinh [24].
7


Các nghiên cứu tại BV TW Quân Đội 108 năm 2010 và tại BV Nhân Dân
115 cuối năm 2007 đến đầu năm 2008 cũng cho tỷ lệ khá tương đồng
26,5% - 28% đơn có kháng sinh. Trong khi đó tại Bệnh viện Đa khoa Vĩnh
Phúc năm 2011, có đến 59,5% đơn thuốc ngoại trú và 61,8% hồ sơ bệnh án
khảo sát có kê kháng sinh [22].
Vitamin cũng là hoạt chất thường được các bác sỹ kê đơn. Theo một
khảo sát tại BV Tim Hà Nội năm 2010, có 35% đơn thuốc có kê Vitamin,
chủ yếu là Vitamin nhóm B phối hợp các khoáng chất như Mg, Fe,…. Và
hầu như không có tình trạng Bác sỹ kê nhiều loại Vitamin trong cùng một
đơn [21]. Một khảo sát tại BV Nhân Dân 115 cũng cho tỷ lệ tương tự là
38% [20]. Trong khi đó, tại BV Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011 có đến
46,3% đơn thuốc ngoại trú và 43,5% hồ sơ bệnh án có kê Vitamin [22].

BỆNH VIỆN

Với mục tiêu đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, Tổ chức Y tế
thế giới đã khuyến cáo các nước đang phát triển cần có chính sách quốc gia
về thuốc. Trên cơ sở đó, ngày 20/6/1996, Chính phủ Việt Nam đã ban hành
chính sách quốc gia về thuốc nhằm 2 mục tiêu cơ bản: Đảm bảo cung ứng
thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dân; bảo đảm sử dụng
thuốc hợp lý, an toàn và có hiệu quả. Hai mục tiêu này đã được cụ thể hóa
thành 9 mục tiêu và 8 nhóm chính sách, về cơ bản phù hợp với hướng dẫn
của Tổ chức Y tế thế giới [26].
Chính sách thuốc thiết yếu, sử dụng thuốc hợp lý, an toàn là một
trong những nội dung cơ bản của chính sách thuốc quốc gia về thuốc của
Việt Nam. Trong đó chỉ rõ sự cần thiết phải có chính sách về thuốc thiết
yếu và nghành Y tế có trách nhiệm xây dựng và ban hành danh mục thuốc
thiết yếu, định kỳ (3 đến 5 năm) xem xét, bổ sung cho phù hợp với mô hình
bệnh tật, điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam, với tiến bộ về khoa học và
kỹ thuật trong điều trị. Bên cạnh đó, cần ban hành danh mục thuốc Quốc
gia, dựa trên các tiêu chí phù hợp với mô hình bệnh tật và phương pháp
9


điều trị trong nước, có hiệu quả cao, đảm bảo an toàn, dễ sử dụng, phù hợp
với yêu cầu điều trị ở mỗi tuyến. Đồng thời, cần thành lập Hội đồng thuốc
và điều trị cùng với việc ban hành các phác đồ điều trị khung, ban hành
Dược Thư Quốc gia làm tài liệu pháp lý trong việc dụng thuốc, thực hiện
quy chế kê đơn thuốc và bán thuốc theo đơn, tên thuốc ghi trong đơn, in
trên nhãn thuốc [27].
Chính sách Quốc gia về thuốc kháng sinh cũng đã nhấn mạnh: Thuốc
kháng sinh có vai trò rất quan trọng trong điều trị, đặc biệt đối với tình hình
bệnh tật ở một nước khí hậu nhiệt đới như Việt Nam, do đó, cần chấn chỉnh

kỹ thuật cũng như khả năng tài chính của BV.
Cũng theo thông tư 31/2011/TT-BYT, Bộ Y tế còn đưa ra các
nguyên tắc về lựa chọn thuốc thành phẩm như sau: Ưu tiên lựa chọn thuốc
Generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước, thuốc của các doanh
nghiệp Dược đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP).
Ngày 14/7/1997, Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 08/TT – BYT
hướng dẫn về việc tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng thuốc và
điều trị ở BV. Trong đó ghi rõ: HĐT & ĐT của BV có chức năng tư vấn
cho giám đốc BV các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của
BV, thực hiện tốt Chính sách Quốc gia về thuốc trong BV.
Để chấn chỉnh việc cung ứng thuốc nhằm đảm bảo chất lượng khám
chữa bệnh và sử dụng thuốc an toàn hợp lý, ngày 16/4/2004, Bộ Y tế đã
đưa ra chỉ thị số 05/2005/CT – BYT về việc chấn chỉnh công tác cung ứng,
sử dụng thuốc trong Bệnh viện. Trong đó, chỉ thị yêu cầu Ban giám đốc BV
chỉ đạo hoạt động của HĐT & ĐT trong việc lựa chọn thuốc và sử dụng
thuốc hợp lý, an toàn, tăng cường kiểm tra việc thực hiện qui chế kê đơn và
bán thuốc theo đơn trong BV.
Để thực hiện chỉ thị số 05, ngày 16 tháng 4 năm 2004, Vụ điều trị
(Nay là Cục Quản lý khám chữa bệnh) đã ra công văn số 3483/YT – ĐTr
hướng dẫn các Bệnh viện tổ chức kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện
11


các quy định sử dụng thuốc trong BV về việc thực hiện quy chế kê đơn và
bán thuốc theo đơn, kiểm tra các chỉ số về kê đơn ngoại trú và phân tích sử
dụng thuốc trong các ca lâm sàng. Cụ thể như sau:
- Về thực hiện quy chế kê đơn thuốc và bán thuốc theo đơn:
+ Bệnh viện cần có danh mục thuốc sử dụng trong Bệnh viện (tên
gốc, tên biệt dược) cho Bác sĩ kê đơn để dễ tra cứu.
+ Tiêu chuẩn của một đơn thuốc hợp lý bao gồm: Đúng mẫu đơn quy

mục tiêu tăng cường sử dụng thuốc hợp lý.
Từ các chỉ số kê đơn ngoại trú và số liệu về thuốc trong các tóm tắt
bệnh án, tính các chỉ số sử dụng thuốc cho mỗi khoa sau đó là cho cả Bệnh
viện. Lập danh mục 10 thuốc sử dụng nhiều nhất và 10 bệnh mắc cao nhất
từ các tóm tắt bệnh án để phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện.
Xác định cụ thể những vấn đề sử dụng thuốc chưa hợp lý, chú ý kiểm tra
những thuốc sử dụng nhiều, hay lạm dụng. Sau đó, tổ chức thảo luận, phân
tích tìm nguyên nhân của sử dụng thuốc chưa hợp lý, xây dựng kế hoạch và
biện pháp khắc phục những tồn tại.
1.3. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VỀ SỬ DỤNG THUỐC

Để giải quyết các vấn đề về sử dụng thuốc, cần có các bước điều tra
ban đầu để có nhận định vấn đề lớn. Có hai phương pháp để tiến hành điều
tra, đó là: Phân tích dữ liệu tổng hợp sử dụng thuốc và phương pháp nghiên
cứu chỉ số
Trong nghiên cứu sử dụng thuốc, các dữ liệu tổng hợp sử dụng thuốc
có thể được phân tích theo 4 phương pháp chính, bao gồm: Phân tích ABC,
phân tích nhóm điều trị; phân tích sống còn, thiết yếu và không thiết yếu
(VEN) và phương pháp phân tích theo liều xác định trong ngày (DDD). Tất
cả các phương pháp này là công cụ hữu hiệu giúp HĐT & ĐT quản lý danh
mục và phát hiện được các vấn đề trong sử dụng thuốc bất hợp lý.

13


1.3.1. Phương pháp phân tích ABC
Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa số lượng
thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào
chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách. Phân tích ABC có thể:
- Cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với số lượng lớn mà

chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế
có chi phí hiệu quả cao.
1.3. 3. Phân tích VEN (Phân tích sống còn, thiết yếu và không thiết yếu)
Tiêu chuẩn phân loại các hạng mục thuốc:
Thông thường cần phải so sánh giữa phân tích ABC và phân tích VEN
để xác định xem có mối liên hệ giữa các thuốc có chi phí cao và các thuốc
không ưu tiên hay không. Cụ thể cần là loại bỏ những thuốc “N” trong danh
sách nhóm A có chi phí cao/lượng tiêu thụ lớn tổng phân tích ABC.
Theo Thông tư 21/2013/TT – BYT quy định về Tổ chức và hoạt
động của HĐT & ĐT trong Bệnh viện, Bộ Y tế đã đưa ra cách phân chia
thuốc theo 3 mục V, E, N như sau:
- Thuốc V (Vital drugs): Là thuốc dùng trong các trường hợp cấp
cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám
bệnh, chữa bệnh của Bệnh viện.
- Thuốc E (Essential drugs): Là thuốc dùng trong các trường hợp
bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô
hình bệnh tật của Bệnh viện.
- Thuốc N (Non - Essential drugs): Là thuốc dùng trong các trường
hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả
điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương
xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc.
1.4. THÔNG TIN VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ
1.4.1. Sơ đồ tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Bệnh viện Đa khoa Thành

phố Thanh Hóa (BVĐK Thành phố Thanh Hóa)
15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status