một số yếu tố thú y ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm vú bò sữa và các giải pháp phòng trị - Pdf 31

Bộ giáo dục và đào tạo
Trường đại học nông nghiệp I
------------------------

Đoàn Hữu Thành

đề tài
một số yếu tố thú y ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm vú bò
sữa và các giải pháp phòng trị

luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên nghành : Thú y
Mã số

: 60.62.50

Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS Trần Tiến Dũng

Hà Nội - 2007

Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip ---------


Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu
trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để
bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận
văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận

thực hiện đề tài này được thuận lợi.
Cuối cùng tôi xin được dành lời cảm ơn tới gia đình và những người
thân đã động viên, chia sẻ và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, thực
hiện và hoàn thành bản luận văn này
Hà Nội ngày 10 tháng 9 năm 2007.
Học viên

ĐOàn hữu thành
Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn
ii Thc s khoa hc Nụng nghip ---------


1 . Mở Đầu ..................................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề ......................................................................................................1

1. 2. Tính cấp thiết của đề tài .....................................................................2
1.3. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ............................................3
1.4. Mục tiêu của đề tài ................................................................................4
2. Tổng quan tài liệu ........................................................................5
2.1. Một vài đặc điểm cấu tạo và chức năng sinh lý tuyến vú .................5
2.2. Giới thiệu một số phương pháp phát hiện bệnh viêm vú bò sữa
trên thế giới . 11
2.2.1. Đếm tế bào soma sữa ..........................................................................11
2.2.2. Enzym...................................................................................................14
2.2.2.1. NAGase ............................................................................................14
2.2.2.2. Các enzym khác................................................................................15
2.2.3. Độ dẫn điện của sữa ...........................................................................16
2.2.4. Protein pha cấp tính............................................................................18
2.2.5. Các chỉ thị khác của sự viêm .............................................................20
2.2.5.1. Adenosin Triphosphate (ATP) ........................................................20

4.1.1.Vài nét về Trung tâm Nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì ....................45
4.1.2. Đặc điểm khí hậu và thuỷ văn ...........................................................45
4.2. Điều tra tình hình mắc bệnh viêm vú ở đàn bò sữa () .................47
4.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến bệnh viêm vú ....................................48
4.3.1.ảnh hưởng của mùa vụ đến bệnh viêm vú ........................................48
4.3.2. ảnh hưởng của phương pháp vắt sữa ...............................................50
4.3.3. ảnh hưởng của các vị trí núm vú đối với() ...................................50
4.4. Các thể viêm vú ....................................................................................51
4.5. Kết quả chẩn đoán viêm vú bò sữa phi lâm sàng ..............................52
4.5.1 Kết quả kiểm tra bệnh viêm vú bò sữa bằng phương pháp CMT.......52
4.5.2. Qui trình vắt sữa bò, qui trình phòng bệnh () ............................53
4.5.2.1. Qui trình vắt sữa bò .........................................................................53
4.5.2.2. Qui trình phòng bệnh viêm vú bò ..............................................................54
4.5.2.3. Qui trình điều trị .............................................................................56
4.5.2.4 Kết quả phân lập vi khuẩn gây bệnh viêm vú ở bò sữa ..................58
4.5.3. Kết quả thử nghiệm kháng sinh đồ ....................................................60
4.5.4. Kết quả điều trị ...................................................................................61
5. Kết luận và đề nghị ....................................................................63
5.1. Kết luận .................................................................................................63
5.2. Đề nghị ...................................................................................................63

Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip ---------


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Thang mẫu chuẩn để chẩn đoán CMT

………………………39

Bảng tiêu chuẩn đánh giá tính mẫn cảm với kháng sinh


……………………….52

CMT
Bảng 7b. Kết quả kiểm tra viêm vú bằng phương pháp

……………………….57

CMT (sau khi áp dụng quy trình)
Bảng 8. Kết quả phân lập vi khuẩn gây bệnh viêm vú

……………………….59

Bảng 9. Kết quả thử nghiệm kháng sinh đồ

……………………….60

Bảng 10. Kết quả điều trị bệnh viêm vú bò sữa tại

……………………….61

Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì

Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn
vii Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ---------


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1. Cấu trúc bầu vú




1 . Mở Đầu
1.1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi bò sữa đã có những bước
phát triển mạnh mẽ. Năm 2000 cả nước có 4.165.000 con bò trong đó đàn bò
sữa là 32.000 con. Sản lượng sữa là 50.000 tấn, năm 2005 cả nước đã có
110.000 con bò sữa và sản xuất được 185.000 tấn sữa (Trần Trọng Thêm,
2006).
Mặc dù sản lượng sữa bò liên tục tăng với tốc độ cao nhưng cũng chỉ
đáp ứng 1114% nhu cầu tiêu thụ trong nước và mức sữa tiêu thụ bình quân
chỉ là 5,4 kg, còn ở các nước trong khu vực là 10 20 kg. Theo ước tính của
các chuyên gia trong nước và quốc tế, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu đến 80%
nhu cầu về sữa vào năm 2010.
Nhằm đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò sữa, Chính phủ đã ban hành
Quyết định số 167/2001/QĐ/TT về chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa giai
đoạn 2001 đến 2010. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 có 200.000 con bò sữa
và sản xuất được 350.000 tấn sữa đáp ứng khoảng 40% nhu cầu tiêu thụ sữa
trong nước.
Để đạt được mục tiêu trên, ngoài việc nhập giống bò sữa chất lượng tốt,
chúng ta còn phải lai tạo các giống bò sữa trong nước, ngoài việc cho sản
lượng và chất lượng sữa cao mà còn có khả năng chống đỡ với bệnh tật nhất là
bệnh viêm vú vì đây là một bệnh gây thiệt hại rất lớn cho người chăn nuôi, là
nỗi băn khoăn lo lắng, có gia đình bị phá sản vì bò bị viêm vú không được
điều trị kịp thời.
Ngày nay khi kinh tế nước ta ngày càng phát triển, nhu cầu đời sống
của nhân dân ngày càng cao, việc sử dụng sữa có chất lượng là một trong
những yêu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy trong chăn nuôi bò sữa ngoài việc



Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn2 Thc s khoa hc Nụng nghip ---------


vẫn được khai thác dẫn đến bò bị bệnh nặng hơn, lan truyền bệnh rộng hơn và
chất lượng sữa bị giảm đi rất nhiều.
Bệnh viêm vú được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu và cho rằng
bệnh viêm vú bò là một bệnh phức tạp do một hoặc nhiều nguyên nhân gây ra.
Nhiều tác giả đã nghiên cứu công phu và đưa ra nhiều ý kiến khác nhau trong
việc đánh giá nguyên nhân gây viêm vú bò sữa.
ở nước ta một số tác giả như Nguyễn Ngọc Nhiên (1999), Bạch Đăng
Phong (1995), Nguyễn Hữu Ninh (1994), Trần Thị Hạnh (2005), Trần Tiến
Dũng (2003), Phùng Quốc Quảng (2002), nghiên cứu, tập trung chủ yếu
vào nguyên nhân gây bệnh và biện pháp phòng trị. Các nhân tố ảnh hưởng tới
bệnh viêm vú đối với các vùng sinh thái khác nhau, điều kiện vắt sữa khác
nhau, các thể viêm vú, các vị trí núm vú khác nhau có liên quan tới bệnh viêm
vú. Những nhân tố đó là cần thiết góp phần vào công tác phòng bệnh một cách
chủ động. Đồng thời chúng tôi tiến hành một số biện pháp chẩn đoán phi lâm
sàng qua sữa nhằm phát hiện bệnh sớm để có biện pháp điều trị kịp thời.
1.3. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Việc hoàn thiện đề tài luận án thạc sĩ khoa học nông nghiệp mà chúng
tôi thực hiện mang lại những ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau:
- Góp phần làm sáng tỏ một số nhân tố ảnh hưởng tới bệnh viêm vú, áp
dụng các biện pháp chẩn đoán phi lâm sàng đã học được của các chuyên gia
JICA Nhật Bản bổ sung vào lý thuyết cũng như thực tiễn giúp cho quá trình
chẩn đoán sớm và chính xác bệnh viêm vú bò sữa để có phương pháp phòng
và điều trị kịp thời.
- Đề tài cũng đã phân lập và xác định một số căn nguyên chủ yếu gây
bệnh viêm vú bò sữa ở Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì. Trên cơ


giết chết vi trùng. Phần ngoài của kênh núm vú được đóng bởi một cơ trơn nhỏ
và đàn hồi gọi là sphincter. Kênh của núm vú, chất keratin và sphincter là các
tuyến phòng vệ tự nhiên đầu tiên của con bò chống lại sự xâm nhập của các vi
trùng, nên ta phải giữ cho chúng ở trong tình trạng tốt nhất.
Các vú được cách ly với nhau bằng mô liên kết và mô cơ: đó là các dây
treo. Người ta thấy chúng ở bên cạnh vú (dây bên cạnh) ở giữa các vú (dây

Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn5 Thc s khoa hc Nụng nghip ---------


giữa), phía trước và phía sau vú, người ta gọi chúng là dây treo trước và dây
treo sau. Dây treo sau có tầm quan trọng hơn cả để nâng đỡ vú, giữ cho vú
được khoẻ mạnh, cho tuyến được bền lâu và tạo tư thế cho con bò. Bốn mảnh
thịt đó (khu) độc lập với nhau cả về mặt giải phẫu, sinh lý lẫn mặt bệnh lý.
Màng ngăn cách các mảnh trước với các mảnh sau thì rất mỏng, khó nhín
thấy, còn màng ngăn cách các mảnh hai bên thì dày hơn nhiều. Trong 40%
trường hợp ta thấy có những núm vú vượt quá số lượng núm vú bình thường.
Khối lượng núm vú thay đổi từ 3 45 kg.

Hình 2. Sơ đồ bầu vú (Đại thể)
Tuyến vú là một dạng túi nhỏ phân nhánh. Nó chứa những chùm túi nhỏ
(gọi là acini) mỗi túi nhỏ là một tuyến sản sinh sữa tí hon, nó được lát bằng
những tế bào biểu mô, chịu trách nhiệm sản sinh ra sữa. Nó được bao quanh
bởi những tế bào gọi là biểu mô cơ, các tế bào này chịu trách nhiệm co bóp túi
nhỏ khi cho bú hoặc vắt sữa để đẩy sữa ra dưới sự điều khiển của các
hormone. Người ta thấy có hàng tỷ túi nhỏ như vậy trong vú của một con bò.
Mỗi túi nhỏ được tiếp tế bởi một vài vi ti huyết quản và được thoát sữa bởi một
kênh sữa, rồi một kênh liên búp nhỏ để đi đến bể chứa của vú. Một nhánh của
chùm túi nhỏ được gọi là búp nhỏ và cả chùm được gọi là búp.


bọc ở phía ngoài bởi những cơ trơn nhỏ. Các cơ trơn này không lệ thuộc vào ý
chí, nghĩa là chúng chỉ tuân theo một sự chỉ huy, oxytocin là một chất hormon
được tiết ra bởi tuyến yên, nằm ở đáy óc. Oxytocin rời tuyến yên và lưu thông

Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn8 Thc s khoa hc Nụng nghip ---------


theo máu đến các cơ trơn nhở bao quanh các túi nhỏ. Sự giải phóng oxytocin
được phát động bởi ảnh hưởng của nhiều nhân tố: sự bú sữa, các thao tác ở vú,
ở cơ quan sinh dục, tiếng động và tác động của hệ thống vắt sữa, ánh sáng, sự
phân phối các dịch đặc, sự bước chân vào phòng vắt sữa, sự trông thấy các
thiết bị vắt sữa. Oxytocin được giải phóng theo từng đợt nối tiếp nhau với
cường độ cực đại khoảng 1 phút sau khi bắt đầu kích thích vú; nó bắt đầu
giảm dần đi 2 phút rưỡi sau khi cái đỉnh cực đại ấy bắt đầu. Dưới sự chỉ huy
của oxytocin, các cơ bao quanh túi nhỏ co lại, đẩy sữa chứa trong các túi nhỏ
thoát ra qua kênh.
Không nhờ chất oxytocin, ta không thể thu hoạch sữa của túi nhỏ,
chiếm tới 70% tổng lượng sữa. Cũng không thể thu hoạch hết sữa của túi nhỏ,
cái còn lại là sữa dư, chiếm khoảng 30% tổng lượng sữa.
+ Sự tiết sữa
Vào cuối thời kỳ mang thai, các tế bào biểu mô của túi nhỏ chịu những
biến đổi đặc trưng: chúng cao lên, những hạt mỡ nhỏ xuất hiện trong chất của
các tế bào, số lượng các mitochondri tăng lên cũng như kích thước của bộ máy
golgi. Tất cả các bộ phận của mỗi tế bào biểu mô góp phần vào việc sản xuất
ra các thành phần của sữa. các tế bào này tiết các sản phẩm của chúng ở đỉnh
của chúng, vào bên trong túi nhỏ.

Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn9 Thc s khoa hc Nụng nghip ---------



thế giới
Để chẩn đoán bệnh viêm vú, trên thế giới người ta áp dụng một số
phương pháp sau:
2.2.1. Đếm tế bào soma sữa.
Tỷ lệ tế bào neutrophil trong bầu vú khoẻ mạnh chỉ có 1 11% nhưng
tăng lên tới 90% hoặc hơn ở bầu vú bị viêm nhiễm bên trong. Tỷ lệ % của
neutrophil được coi là môt biểu thị của viêm vú. Theo Satu PYORALA
(2003): Thay vì SCC tổng số việc đếm từng loại tế bào cho biết nhiều thông
tin về tình trạng sức khoẻ của một bầu vú hơn nhưng phương pháp này chưa
được áp dụng rộng rãi và khó thực hiện trong thực tiễn.
SCC đã được sử dụng rộng rãi như là biểu thị của bầu vú bị viêm bên
trong từ những năm 1960 của thế kỷ trước. SCC đã được đưa vào là một thành
phần của định nghĩa viêm vú và giới hạn ban đầu cho SCC của một bầu vú
khoẻ mạnh là 500.000 tế bào/ml sữa. Các mức độ ngưỡng cho SCC dựa trên
trung bình quần thể thêm hai lần độ lệch chuẩn (SD) cho một lần đo sữa phía
trước của một bầu vú. Định nghĩa là một sự hướng dẫn cho sự chẩn đoán, mặc
dù 50% bầu vú bị viêm vào bất kỳ thời gian nào đều có thể có một số lượng tế
bào ít hơn 500.000 tế bào/ml.

Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn
11Thc s khoa hc Nụng nghip ---------


Thuật ngữ viêm nhiễm tiềm tàng hay viêm vú không đặc trưng đã được
sử dụng và những dữ liệu đó không hoàn toàn làm mọi người thoả mãn.
Ngưỡng 500.000 tế bào/ml không thích đáng lâu nay. Độ nhạy và độ đặc
trưng của việc sử dụng ngưỡng thấp hơn 200.000 tế bào/ml để chẩn đoán bầu
vú bị viêm bên trong đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu với độ nhạy dao
động 73 89% và độ đặc trưng từ 75 85%. SCC luôn luôn được dùng để so
sánh với vi khuẩn học và những thử nghiệm này chưa bao giờ được nhất trí

vú bị nhiễm bởi mầm bệnh thứ yếu dao động 110.000 TB/ml đến 150.000
TB/ml. Số liệu này ở các bầu vú bị nhiễm bệnh bởi các mầm bệnh chủ yếu cao
hơn 350.000 TB/ml. Viêm vú gây ra bởi coliform và streptococus uberis có số
SCC trung bình cao nhất (trên 1 triệu TB/ml) viêm vú bởi vi khuẩn Coryne
bacterium có số SCC thấp nhất (105.000 TB/ml).
Có nhiều phương pháp đếm tế bào soma tự động khác nhau và phương
pháp tiêu chuẩn là phương pháp Fossomatic quang điện. CMT cũng có thể
đánh giá SCC dựa trên cơ sở hàm lượng DNA của sữa với thuốc thử đơn giản
chỉ là một loại thuốc tẩy và cresol brôm tím theo chỉ thị độ pH: khả năng sử
dụng CMT để xác định các bầu vú bị viêm bên trong đã được đánh giá rộng
rãi với các kết quả khác nhau. CMT được coi là một công cụ để chọn lọc bò để
áp dụng biện pháp điều trị khi cạn sữa. Phương pháp này có thể xác định
chính xác 75 80 % số bò cần điều trị, phụ thuộc vào sự nghiên cứu và vào
mầm bệnh gây viêm vú. Trong nghiên cứu gần đây, CMT được so sánh với
SCC ở bò mới đẻ. CMT được coi là thích hợp cho các chương trình quản lý
đàn bò để phát hiện bò mới bị viêm vú bên trong do các mầm bệnh chủ yếu.
CMT được tiến hành vào ngày thứ 3 sau khi bò đẻ sử dụng ngưỡng lớn hơn 0
(các kết quả CMT được cho điểm từ 0 đến 3 trong đó kết quả 0 thể hiện SCC ít
hơn 200.000 TB/ml) cho thấy độ nhạy và độ đặc trưng cao nhất để phát hiện
bầu vú bị viêm bên trong. Dùng chương trình lấy mẫu này, độ nhạy phát hiện
bầu vú bị viêm bên trong gây ra bởi các mầm bệnh chủ yếu đạt 66,7% và bởi

Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn
13Thc s khoa hc Nụng nghip ---------


mầm bệnh thứ yếu đạt 49,5%. Độ nhạy cao nhất đạt được trong việc phát hiện
bầu vú bị viêm bên trong gây ra bởi Streptococus môi trường (84%) CMT có
lợi thế là rẻ tiền và là cách kiểm tra cơ thể bò duy nhất cho kết quả nhanh
chóng để chọn các bầu vú cho việc kiểm tra vi khuẩn học thường xuyên.

sai. Hoạt động của NAGase cao ở đầu kỳ sữa và tăng nhẹ tới cuối kỳ sữa. Tuy
vậy ở các bầu vú khoẻ mạnh nó đạt mức độ bình thường vào ngày thứ 5 sau
khi đẻ.
Một phương pháp đánh giá NAGase bằng cách đo fluo dựa trên cơ sở
kỹ thuật đĩa vi chuẩn độ đã được phát triển. Phương pháp có khả năng cao và
dựa trên cơ sở so sánh trong phạm vi các bầu vú được kiểm tra. Trong đó các
bầu vú khác được so sánh với giá trị thấp nhất của một bò đặc trưng. Phương
pháp này có khả năng kiểm soát toàn đàn nhưng có nhược điểm là chưa được
phổ biến trên thị trường. Các kết quả cơ bản từ phương pháp điện hoá để xác
định NAGase đã được xuất bản nhưng vẫn cần phải nghiên cứu tiếp tục để áp
dụng phương pháp này độc lập hay kết hợp với các tham số khác để phát hiện
viêm vú.
2.2.2.2. Các enzym khác
Kitchen đã lập danh sách nhiều enzym tăng lên khi viêm vú và có khả
năng phát hiện viêm vú như các loại Lipase, Esterase, Phosphatase, Lactase,
Dehydrogenase vv.. Không có bằng chứng cho thấy rằng chúng có thể được
dùng để kiểm tra viêm vú cận lâm sàng. Nồng độ của enzym phân giả protein
plasmin tăng lên khi bò bị viêm vú. Plasminagen chuyển từ máu vào sữa và
chuyển thành plasmin về lý thuyết plasmin có thể sử dụng như là chất chỉ thị
cho viêm vú nhưng nồng độ của plasmin trong sữa khác nhau cũng còn bởi vì
các yếu tố sinh lý và môi trường. Hoạt động của plasmin có tương quan rõ
ràng với SCC. SCC tăng từ 100.000 TB/ml tới 1300.000 TB/ml có quan hệ với
sự tăng lên 2,3 lần của plasmin phương pháp đo fluo để xác định plasmin đã
được phát triển và thích hợp với kỹ thuật đĩa nhỏ nhưng không áp dụng được
phương pháp này trên diện rộng. Không có thông tin về độ mẫn cảm hay đặc

Trng i hc Nụng nghip H Ni - Lun vn
15Thc s khoa hc Nụng nghip ---------




EC được dùng làm thước đo chẩn đoán viêm vú lâm sàng đáng tin cậy
trong công thức thí nghiệm về viêm vú bởi Streptococcus uberis. Trong một
nghiên cứu tất cả các ca viêm vú lâm sàng đều được phát hiện (ngưỡng
500.000 TB/ml với chẩn đoán vi khuẩn học dương tính) nhưng chỉ có 50% từ
các ca viêm vú cận lâm sàng được phát hiện (lớn hơn 200.000 TB/ml). Trong
một nghiên cứu khác khi giai đoạn tiết sữa, năng suất sữa và sự tương đương
được xem xét. EC đã thể hiện độ mẫn cảm 55% khi được phát hiện viêm vú
cận lâm sàng (ngưỡng 500.000 1000.000 TB/ml). Để kiểm tra chính xác, tốt
nhất là dùng sữa non. Gần đây các chuyên gia của IDF đã đánh giá EC dùng
phương pháp phân tách meta và kết luận rằng EC không phát hiện chuẩn xác
khi nào là viêm vú lâm sàng hay cận lâm sàng. Tuy nhiên gần đây một kiểu
phát hiện tự động đã được giới thiệu trong đó các mẫu thời gian loạt cho 2
biến (năng suất sữa và EC) đã được sử dụng và cho kết quả phát hiện viêm vú
tốt hơn. Trong AMS, EC thường được sử dụng cùng với năng suất sữa và vận
tốc dòng sữa, màu và nhiệt độ sữa. Các nhà sản xuất nói chung không cung
cấp các thuật toán chính xác trong hệ thống của họ vì nó làm cho sự đánh giá
về các hệ thống phát hiện khác nhau khó khăn.
Các máy đo EC sẵn có ở nhiều nước. Gần đây mức độ chính xác của
một số thiết bị chẩn đoán đã được đánh giá. Theo Satu PYORALA (2003): ở
điểm ngưỡng được gợi ý bởi nhà sản xuất, 71% các mẫu kiểm tra dương tính
là âm tính về mặt vi khuẩn học và các vi khuẩn gây viêm vú chính được tách
ra từ 11% các mẫu thử âm tính. Các báo cáo khác cũng cho kết quả tương tự
và có thể kết luận rằng giá trị dự đoán của phương pháp nói chung còn nghèo
nàn. Các phương pháp kiểm tra sàng lọc khác như CMT và các giá trị SCC
có thể rõ ràng là có giá trị hơn so với độ dẫn điện của sữa. Sự so sánh các
giá trị EC giữa các vú của một bò làm giảm sự sai khác bên trong. Việc sử
dụng sự đánh giá giữa các bầu vú đã được báo cáo là cải thiện độ mẫn cảm
và độ đặc trưng của EC và hiện nay là phương pháp nên sử dụng kiểm tra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status