ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH HƢƠNG
MỘT SỐ YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƢỞNG
ĐẾN LỐI SỐNG CỦA THANH NIÊN
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC THÀNH
Hà Nội-2011
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 18
Chƣơng 1 18
QUAN NIỆM VỀ LỐI SỐNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC
XÂY DỰNG LỐI SỐNG ĐỐI VỚI THANH NIÊN 18
1.1. Quan niệm về lối sống 18
1.1.1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về lối sống 18
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về lối sống 24
1.1.3.Khái niệm lối sống 31
1.2. Xây dựng lối sống đối với thanh niên Việt Nam hiện nay 37
1.2.1. Thanh niên và đặc điểm của thanh niên 37
1.2.2. Vị trí, vai trò của thanh niên Việt Nam 46
1.2.3. Tầm quan trọng của việc xây dựng lối sống đối với thanh niên
49
Chƣơng 2 52
NHỮNG YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƢỞNG ĐẾN LỐI SỐNG 52
CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY-VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP
52
2.1. Các yếu tố xã hội ảnh hƣởng đến lối sống của thanh niên Việt Nam
hiện nay 52
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, các quốc gia đã nhận thức được vai trò quan
trọng của nguồn nhân lực đối với sự phát triển đất nước. Đảng ta cũng đã
khẳng định: nguồn lực con người là nguồn lực cơ bản, có ý nghĩa quyết định
đối với sự phát triển bền vững của xã hội. Đây là nguồn lực của mọi nguồn
lực, tài nguyên của mọi tài nguyên. Con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu
và là mục tiêu của sự phát triển. Trong đó, thanh niên được đặt ở vị trí trung
tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người,
chăm lo, phát triển cho thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực đảm bảo
cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.
Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X đã
xác định: “Tiếp tục xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu
nước, tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hóa, vì
cộng đồng; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri
thức, kỹ năng và tác phong công nghiệp trong lao động tập thể, trở thành
những công dân tốt của đất nước…” [11, tr. 43]
Lối sống là nền tảng văn hóa để thanh niên có thể phát huy được vai
trò chủ thể tích cực của mình trong cuộc sống; là cái chi phối, điều khiển
hoạt động và hành vi sống hằng ngày của họ. Nghiên cứu lối sống của thanh
niên hiện nay đang trở thành một yêu cầu cấp bách của xã hội. Thanh niên
giữ vai trò to lớn không chỉ trong lĩnh vực xây dựng kinh tế, bảo vệ Tổ quốc
mà còn đi đầu trong việc tạo dựng một lối sống mới của đất nước, hình
thành diện mạo con người mới xã hội chủ nghĩa. Các hiện tượng về lối sống
thanh niên liên quan tới mọi quan hệ xã hội, quan hệ tư tưởng, chính trị, đạo
đức, kinh tế, văn hoá, luật pháp, khoa học…
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp
hoặc gián tiếp tiếp cận đến vấn đề thanh niên, lối sống và xây dựng lối sống
thanh niên. Ở đây, chúng tôi sẽ điểm qua những công trình chính như sau:
- Nguyễn Ánh Hồng (2002): Phân tích về mặt tâm lý học lối sống của
sinh viên thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ
triết học, mã số 5.06.02, Đại học sư phạm Hà Nội.
Từ việc làm rõ những cơ sở lý luận về lối sống sinh viên, tác giả luận
án đã phân tích nội dung tâm lý, đặc điểm biểu hiện của lối sống sinh viên qua
hoạt động học tập và qua sự lựa chọn các hoạt động khác, phân biệt ba kiểu
sống đặc trưng của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù các vấn đề này
được xem xét dưới góc độ tâm lý học, song những phân tích của tác giả về
khái niệm lối sống và những biểu hiện trong lối sống của sinh viên thành phố
Hồ Chí Minh là rất đáng chú ý.
- Đặng Quang Thành (2005): Xây dựng lối sống có văn hóa của thanh
niên Thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, Luận án Tiến sĩ triết học, mã số:62.22.85.01, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Tác giả luận án đã làm rõ khái niệm và đặc trưng của lối sống có văn
hóa, tầm quan trọng của hoạt động xây dựng lối sống có văn hóa của thanh
niên Thành phố Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp công nghiệp hóa hiện nay.
Đồng thời, tác giả còn chỉ ra các yếu tố và thực trạng xây dựng lối sống có
văn hóa của thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh những năm đổi mới vừa qua.
Trên cơ sở đó, luận án nêu lên phương hướng chung, quan điểm cơ bản và đề
xuất những giải pháp chủ yếu để nâng cao hơn nữa hiệu quả xây dựng lối
sống có văn hóa của thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp đổi mới ở thành phố hiện nay.
thống dân tộc, thực trạng và những vấn đề đang đặt ra trong việc kế thừa và
phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc. Trên cơ sở đó, cuốn sách
nêu lên phương hướng, giải pháp kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay.
- Huỳnh Khái Vinh (Chủ biên), (2001): Một số vấn đề về lối sống,
đạo đức, chuẩn giá trị xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội.
Trong cuốn sách, các tác giả đề cập đến những vấn đề cơ bản của
lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội. Đồng thời, cuốn sách làm rõ mối
quan hệ giữa lối sống, đạo đức với sự phát triển văn hóa và con người.
Đặc biệt, các tác giả phân tích sự tác động của các nhân tố chính trị, kinh
tế, xã hội tới lối sống, đạo đức, chuẩn xã hội trong giai đoạn công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
- Nguyễn Hồng Hà (2005): Môi trường văn hóa với việc xây dựng lối
sống và con người Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin.
Trên cơ sở phân tích thực trạng môi trường văn hóa ở nước ta, tác giả
đi đến lý giải về vai trò của môi trường văn hóa với việc xây dựng lối sống
và con người. Từ đó, tác giả chỉ ra những giải pháp cơ bản phát triển môi
trường văn hóa vì sự phát triển xã hội.
Ngoài ra, có còn có thể kể đến các công trình nghiên cứu khác tập
trung phân tích lối sống trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá;
kinh tế thị trường như: Nguyễn Chí Dũng: “Xã hội hóa lối sống và xây
dựng lối sống trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”,
Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 5, 2000;TS. Nguyễn Viết Chức (chủ biên):
“Đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa Thủ đô trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Viện Văn hóa và Nhà xuất bản
Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001; Võ Văn Thắng: “Ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường đối với việc xây dựng lối sống ở nước ta hiện nay”, Tạp
chí Cộng sản, số 10, tr. 47-50,2006.
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về thanh niên, xây dựng lối sống và giáo dục lối sống cho thanh niên.
+ Đồng thời, luận văn cũng kế thừa có chọn lọc những tư liệu và kết
quả nghiên cứu của các công trình khác liên quan đến phạm vi nghiên cứu
của đề tài.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các
phương pháp nghiên cứu như: lôgíc-lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh -
đối chiếu, thống kê số liệu để chứng minh cho các luận điểm mà tác giả đã
nêu ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn:
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm những
luận điểm, các vấn đề lý luận và thực tiễn về lối sống, xây dựng lối sống
cho thanh niên Việt Nam hiện nay.
- Luận văn còn góp thêm nguồn tư liệu, tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề liên quan đến thanh niên, lối sống,
giáo dục lối sống cho thanh niên ở các trường Đại học và Cao đẳng.
- Ngoài ra, những đề xuất của tác giả trong luận văn còn góp phần
nhỏ vào việc làm cơ sở, căn cứ lý luận để các tổ chức thanh niên như: Hội
Liên hiệp thanh niên, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ
chức khác trong việc hoạch định chiến lược, chính sách cụ thể nhằm xây
dựng lối sống cho thanh niên trong quá trình đổi mới hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 02 chương, 04 tiết. NỘI DUNG
Chƣơng 1
QUAN NIỆM VỀ LỐI SỐNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC
tiễn của con người đối với tự nhiên, bởi trình độ trang bị kỹ thuật và năng suất lao
động của họ, tức là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; mặt khác, nó được
xác định bởi tính chất của quan hệ sản xuất , bởi chế độ kinh tế của xã hội- cơ sở
của toàn bộ hệ thống các quan hệ xã hội.
Trong các thị tộc nguyên thuỷ, lối sống của những thành viên phụ thuộc
vào trình độ của các công cụ lao động và các hoạt động chủ yếu nhằm đảm bảo
cho sự tồn tại của con người như: săn bắt, hái lượm cũng như phụ thuộc vào các
quan hệ chủ đạo trong thời đại bấy giờ là quan hệ giúp đỡ nhau, bảo vệ lẫn nhau,
chia đều của cải kiếm được cho tất cả các thành viên của thị tộc. Lối sống của
người nông nô ở nước Nga nửa đầu thế kỷ XIX thì lại được quy định bởi các công
cụ lao động đặc trưng cho thời đó như cày, bừa, ngựa và các gia súc khác… tức là
trình độ của lực lượng sản xuất. Bên cạnh đó, còn có một tình trạng là người nông
dân hoặc là phải làm không công 3-4 ngày trong một tuần cho địa chủ hoặc phải
nộp tô cho chúng, ngoài ra còn phải gách đủ mọi loại sưu thuế do bọn chúa đất và
Nhà nước đại diện cho quyền lợi của giai cấp địa chủ đất ra. Tất cả những điều đó,
tuy ở mức độ ít hơn, đều có tính chất quyết định đối với lối sống của họ.
Trong đề tựa cho tác phẩm “Phê phán chính trị kinh tế học”, Mác đã chỉ ra
rằng: “Phương thức sản xuất quyết định đời sống xã hội, chính trị và tinh thần của
xã hội”. Do đó phương thức sản xuất có ảnh hưởng tất yếu đến lối sống của con
người, đến hình thức hoạt động và trao đổi của con người trong phạm vi tinh thần
chính trị và xã hội. Lối sống được hình thành bởi sự tổng hợp toàn bộ các mối quan hệ xã hội có liên quan tới cơ cấu của hình thái kinh tế-xã hội. Mỗi một lối
sống nhất định phù hợp với một hình thái kinh tế-xã hội nhất định.
Như vậy, phương thức sản xuất là cơ sở vật chất của lối sống, lối sống do
phương thức sản xuất của cải vật chất quyết định, hai khái niệm này liên quan mật
thiết với nhau. Lối sống và phương thức sản xuất đều được quy định bởi trạng thái
lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, bởi chế độ kinh tế vồn là nền tảng của toàn
bộ hệ thống các quan hệ xã hội. Song, chúng không đồng nhất với nhau. Khái
để có thể hoàn toàn trông cậy vào sức lực ấy…Anh ta là đối tượng thụ động của
đủ loại trường hợp phức tạp và có thể coi là may mắn nếu còn sống qua quít được
trong ít lâu. Và cố nhiên là tính tình và lối sống của anh đã do những trường hợp
ấy quyết định”. [3, tr. 263]
Trong tác phẩm “Sự phát triển tư bản chủ nghĩa ở nước Nga”, V.I.Lênin
chỉ ra rằng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã phá huỷ truyền thống nếp sống cũ
“tạo ra một giai cấp người đặc biệt hoàn toàn xa lạ với giai cấp nông dân cũ vì có
chế độ sinh hoạt khác, chế độ quan hệ gia đình khác, mức độ nhu cầu cao hơn về
mặt vật chất cũng như tinh thần so với họ” [27, tr. 547]. Lênin đã liên hệ sự hình
thành lối sống xã hội chủ nghĩa với toàn bộ sự nghiệp cải tạo xã hội. Luận điểm
của Người về việc xây dựng quan hệ xã hội mới, việc giáo dục con người mới và
xây dựng lối sống xã hội chủ nghĩa là một quá trình thống nhất có quan hệ với
nhau. Trong tác phẩm “Làm gì?”, khi vạch ra cơ sở học thuyết về Đảng kiểu mới,
V.I.Lênin đã xác lập một cách sâu sắc nhiệm vụ giáo dục chính trị cho giai cấp
công nhân và nâng cao giác ngộ chính trị của họ. Lênin đã chứng minh rằng:
“trong việc xây dựng con người mới, cần phải hướng vào lý tưởng, chính kiến kỹ
năng và sự hoạt động của giai cấp tiên tiến của xã hội hiện đại” [28, tr. 400-401]
Lối sống của người vô sản trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản được quy
định bởi địa vị của họ trong hệ thống sản xuất xã hội, bởi toàn bộ các điều kiện sinh hoạt của họ. Người vô sản không thể bứt ra khỏi các điều kiện ấy. Nhưng anh
ta cũng không hoàn toàn bị tước mất khả năng lựa chọn. Trong khuôn khổ những
điều kiện nào đó, anh ta có thể lựa chọn những phương thức hành động khác
nhau: hoặc là đứng lên đấu tranh, hoặc là thoả hiệp, thích nghi với các điều kiện
ấy. Trong trường hợp sau, anh ta buộc phải hy sinh phẩm chất con người của mình
và theo lời Ph. Ăngghen, “một lối sống như vậy làm huỷ hoại tinh thần người ta
nhiều hơn bất kỳ một lối sống nào khác”
Như vậy, mặc dù lối sống chủ yếu do các điều kiện sinh hoạt khách quan
của con người qui định, nhưng nó còn phụ thuộc vào các nhân tố chủ quan, vào
người, ra khỏi mọi sự thật là việc xây dựng nhà ở được tiến hành trong một
xã hội nhất định nào đó như thế nào, quy mô của nó ra sao, thiết bị trong nhà
thế nào, nó thuộc quyền sở hữu của ai, chi phí cho nhà ở, tiền thuê nhà
chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong việc thu chi của gia đình… Dĩ nhiên, ngay khi
đã ở trong những căn nhà mới, người ta có thể vẫn giữ những tập tục và thói
quen cũ. Nhưng sẽ là sai lầm nếu quên đi rằng, không thể biến đổi hoạt động
sống của con người nếu không biến đổi các điều kiện sinh hoạt vật chất và
xã hội của họ. Cách xem xét phiếm diện như vậy là xa lạ với chủ nghĩa duy
vật trong việc giải thích đời sống xã hội và cũng không cho phép hiểu được
những phương hướng cải tạo nó. Bởi thế, lối sống phải được hiểu như là một
tổng thể các hình thức hoạt động liên hệ với nhau trong sự thống nhất không
thể chia cắt với các điều kiện của hoạt động ấy.
Như vậy, lối sống là một trong những phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy
vật lịch sử. Lối sống được hình thành trên cơ sở những điều kiện và các mối quan
hệ kinh tế xã hội của một phương thức sản xuất nhất định, phù hợp với một hình
thái kinh tế-xã hội nhất định. Lối sống bị quyết định bởi các điều kiện sinh hoạt khách quan, đồng thời cũng phụ thuộc cả vào các nhân tố chủ quan. Lối sống
mang tính giai cấp.
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về lối sống
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đưa ra vấn đề xây dựng đời
sống mới. Trong nhiều bài nói, bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dạy
cán bộ và nhân dân ta ra sức thực hành đời sống mới. Tư tưởng đó của người
được tập trung chủ yếu trong hai tác phẩm “Đời sống mới” và “Sửa đổi lối
làm việc”.
Dưới bút danh Tân Sinh, Người viết tác phẩm “Đời sống mới” với
mục đích “làm thế nào cho đời sống của dân ta vật chất được đầy đủ hơn,
tinh thần được vui mạnh hơn”[38, tr. 95]. Bác khẳng định: “Nếu mọi người
đều cố gắng làm đời sống mới, thì dân tộc nhất định sẽ phú cường”. Đời
nguồn từ muôn mặt của đời sống hàng ngày, có liên quan tới mối quan hệ
giữa con người với con người trong xã hội. Người đề cập đến việc xây dựng
nếp sống mới cho từng nhóm người, từng môi trường hoạt động của con
người: trẻ em, người lớn, một người, một nhà, một lầng, một trường học,
trong bộ đội, trong công sở…Theo Người, cách ứng xử giữa người với
người phải “thành thật, thân ái, giúp đỡ”, trong quan hệ giữa các thành viên
với nhau, quan hệ giữa vợ chồng phải hoà thuận, thương yêu nhau. Nghĩa vụ
con cái đối với cha mẹ già, quan hệ giữa anh chị em ruột, đạo lý giữa mẹ
chồng nàng dâu… Các mối quan hệ này đều phát huy những mặt tốt đẹp của
đạo đức truyền thống đã ăn sâu vào nếp sống của từng gia đình Việt Nam.
Những nội dung về nếp sống mới mà Bác đưa ra luôn gắn liền với
thực tế. Bác quan tâm đến những chi tiết nhỏ nhặt của lối sống: “nhặt một
cành gai cho người khác khỏi giẫm”. Người quan niệm: cưới hỏi, giỗ tết nên đơn giản, tiết kiệm… đường sá phải sạch sẽ, ao tắm giặt, giếng nước uống
phải phân biệt và săn sóc cẩn thận…[38, tr. 101]
Bác để lại bài học lớn về phương thức vận động xây dựng nếp sống
mới. Bác dạy: “Trước hết phải tuyên truyền, giải thích và làm gương”, làm
cho có kết quả để mọi người noi theo. Theo đó, trong việc nghiên cứu cũng
như xây dựng nếp sống mới, chúng ta phải tìm ra được những tấm gương,
những điển hình, những nhân tố mới.
Người còn nhắc nhở chúng ta, để xây dựng nếp sống mới thì phải kiên
trì vận động, kiên trì xây dựng đời sống mới, làm từ việc nhỏ đến việc lớn.
Người dạy: “Tuyên truyền đời sống mới cũng như tuyên truyền việc khác
phải hăng hái, bền gan, chịu khó, đồng thời phải cẩn thận, khôn khéo, mềm
mỏng” [38, tr. 109]
Hồ Chí Minh cũng dạy chúng ta nguyên tắc của cuộc vận động xây
dựng nếp sống mới là tự nguyện. Bác viết: “Các số đông quốc dân thừa
hiểu, chưa làm đời sống mới thì tuyệt đối không nên bắt buộc…đến khi đại
tổ chức, nói chuyện, phải “Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần
chúng” [38, tr. 248]. Người dạy: bất cứ việc to nhỏ, phải xét rõ và làm cho
phù hợp với trình độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh
nghiệm trong tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần
chúng. Cán bộ, đảng viên phải tích cực sửa chữa bệnh “hữu danh vô thực”.
Đó là cách “làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc chính, không từ
dưới làm nên, làm cho có chuyện, làm lấy rồi, làm được ít suýt ra nhiều”.
Theo Người, phong cách làm việc theo nếp sống mới phải được thể hiện qua
hành động ý chí, nhất là giá trị xã hội của hành động đó. Hành động phải
nhằm đem lại lợi ích cho cách mạng, cho nhân dân. Điều quan trọng để có được những phẩm chất tốt đẹp về nếp sống, nếp làm việc như Hồ Chí Minh
đã dạy là phải xóa bỏ những định hướng giá trị không đúng đắn, mang nặng
tính cá nhân ích kỷ.
Trong “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nhiều
khuyết điểm. Theo Người, có thể chia các khuyết điểm thành ba loại: khuyết
điểm về tư tưởng, khuyết điểm về sự quan hệ trong Đảng và ngoài Đảng,
khuyết điểm về cách nói và cách viết. Người cho đó là ba chứng bệnh rất
nguy hiểm nếu không kịp thời sửa chữa, để lây lan ra thì sẽ vô cùng có hại.
Hồ Chí Minh đã phê phán thói ba hoa dưới các dạng thức của nó: dài
dòng, rỗng tuếch, cầu kỳ, khô khan, lúng túng, lông bông, lụp chụp, cẩu thả
và sáo cũ. Đó là biểu hiện của nếp sống cũ kỹ, lạc hậu, không phù hợp với
đời sống mới. Người đặt vấn đề không chỉ đơn giản về mặt tác phong mà
còn quán triệt tư tưởng, quan điểm và ý thức phục vụ nhân dân. Người cho
rằng viết dài dòng, rỗng tuếch “không có ích gì cho người xem, chỉ là tốn
giấy mực, mất công người xem. Khác nào vải băng bó mụn lở, đã thối lại
dài”. Người lên án bệnh nói và viết dài dòng, rỗng tuếch nhưng không hề
phản đối những vấn đề cần diễn đạt dài, như sách lý luận chẳng hạn, vì tuy
có dài nhưng mà cần, mỗi chữ có một ý nghĩa, có một mục đích, không
Làm được một làng, một đội rồi lấy đó làm kiểu mẫu để khuyến khích và
cổ động nơi khác. Bác dạy trước tiên phải tạo ra những con người kiểu mẫu
chính là phải tạo nên những nhân tố mới, điển hình mới để rồi từ đó nhân
ra, phát triển lên.
Việc xây dựng nếp sống mới cũng như các việc khác đều phải bắt đầu
từ dân, vì lợi ích của nhân dân, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân mới có
kết quả. Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân chủ, nguyện vọng, của
quần chúng, nghiêm khắc phê phán bệnh chủ qua, hẹp hòi, thói ba hoa, xa rời quần chúng của cán bộ, đảng viên. Đó là bài học rất quan trọng khi tiến
hành xây dựng nếp sống mới.
Hồ Chí Minh cũng đã chỉ cho chúng ta thấy nội dung của đạo đức cách
mạng và cũng là đạo đức của con người mới mà cuộc vận động xây dựng nếp
sống mới của chúng ta nhằm hướng tới. Người viết: Nói tóm tắt tính tốt ấy gồm
5 điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Đồng thời, Người cũng chỉ rõ các “bệnh”
thường mắc phải trong công tác. Người hướng dẫn cách sửa chữa những bệnh
đó, phân tích tỷ mỷ các bệnh mà mỗi con người dễ mắc phải như: bệnh tham
lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương,
óc lãnh đạo, bệnh hữu danh vô thực, kéo bè kéo cánh, cận thị, cá nhân. Trong
đó có nhiều bệnh liên quan tới việc xây dựng nếp sống, nếp làm việc. Khi nói
về bệnh hội họp Bác cũng nghiêm khắc phê phán làm việc không đúng giờ:
Hẹn khai hội 8h thì 9h, 10h mới đến…Họ không hiểu rằng giữ đúng thì giờ là
một tính tốt của con người cách mạng, nhất là trong lúc kháng chiến này. Trong
tác phẩm, Người đã chỉ ra rất nhiều nhược điểm trong nếp sống cũ lạc hậu mà
cho đến nay, qua nhiều cuộc vận động xây dựng nếp sống mới, chúng ta vẫn
chưa khắc phục được.
Từ những công việc cụ thể, giản dị hàng ngày, Hồ Chủ Tịch đã hướng
dẫn cho chúng ta bỏ những thói xấu, tu dưỡng những đức tính tốt. Người đã chỉ
rõ cho chúng ta những hình ảnh bằng xương bằng thịt những cán bộ, đảng viên
Ở đây, người ta không chú ý đến vai trò của yếu tố chủ quan trong lối sống.
[Xem 21, tr. 17-18]
Định nghĩa tiêu biểu và phổ biến nhất ở Liên Xô (cũ) có lẽ là định
nghĩa gắn với hoạt động của con người. “Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa
học” định nghĩa “lối sống xã hội chủ nghĩa” là “những hình thức hoạt động