PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay, ngành nuôi trồng thủy sản đang ngày càng phát triển và trở thành một
ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam. Trong những năm qua ngành thủy sản
không những đã góp phần giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo mà còn vươn lên làm
giàu trên chính diện tích canh tác hiệu quả thấp trước đây. Ngành này đã đóng góp
một tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu khá lớn trong các mặt hàng xuất khẩu nông sản,
gia tăng thu ngoại tệ phục vụ cho xây dựng và phát triển của đất nước.
Hằng năm, cùng với xu thế phát triển chung của các ngành, lĩnh vực trong cả
nước, ngành thủy sản cũng đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Theo Tổng
cục Thống kê năm 2014, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam về xuất khẩu thủy sản
đứng hàng đầu thế giới, năm 2013 đạt 6 tỉ USD. Với kết quả này, xuất khẩu thủy
sản đã vượt 5,3% so với kế hoạch 5,7 tỉ USD đề ra và tăng khoảng 20% so với
cùng kì năm 2012. Năm 2014, cả nước đạt tổng sản lượng thủy sản lượng 5,35
triệu tấn, trong đó khai thác hải sản đạt 2,2 triệu tấn, nuôi thủy sản đạt 3,15 triệu
tấn và tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 6,5 tỉ USD. Tuy nhiên đây cũng là
năm đầy khó khăn đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, khi đối mặt với khó
khăn nội tại và cả thị trường xuất khẩu. Do đó dự kiến năm 2015, xuất khẩu thủy
sản của Việt Nam sẽ tăng 5-10% so với 2014. Theo đó, ngành thủy sản có cơ sở để
hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn cho việc mở rộng và phát triển trong cả
nước.
Kiến Thụy là một huyện của thành phố Hải Phòng, thuộc khu vực đồng bằng
sông Hồng, với 19,68 km bờ biển, 4500 bãi triều ngập nước, trong đó có 200 bãi
triều cao. Điều kiện môi trường không thuận lợi cho canh tác lúa, nhưng đặc biệt
thích hợp cho hoạt động nuôi trồng và phát triển, hải- đặc sản. Với những thuận lợi
ấy, huyện đã xác định nuôi trồng thủy sản là hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế mũi
nhọn của huyện. Chính quyền địa phương luôn khuyến khích người dân nuôi trồng
thuỷ sản nước ngọt, nước lợ theo mô hình kinh tế trang trại tạo bước đột phá trong
nuôi trồng thuỷ sản. Ngoài ra Huyện còn có các chính sách như: quy hoạch vùng
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong
nuôi trồng thủy sản ở các hộ nông dân.
- Đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế một số mô hình nuôi trồng thủy sản
được áp dụng tại huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
- Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế các mô hình nuôi
trồng thủy sản của huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
- Đề xuất một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi trồng
thủy sản tại huyện Kiến Thụy trong những năm tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về các mô hình nuôi trồng
thủy sản tại huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
- Nghiên cứu các mô hình nuôi trồng thủy sản của các hộ trên địa bàn huyện
Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
-
Về nội dung: Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về các mô hình
nuôi trồng thủy sản; Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình nuôi trồng thủy
sản được áp dụng tại địa bàn nghiên cứu; Đề xuất một số giải pháp để nâng cao
hiệu quả nuôi trồng thủy sản.
-
Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải
Phòng.
-
Các quan điểm truyền thống trên khi xem xét KQKT đã coi quá trình sản xuất
kinh doanh trong trạng thái tĩnh, xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư. Trong khi
đó, hiệu quả là chỉ tiêu quan trọng không những cho phép ta xem xét kết quả
đầu tư mà còn giúp chúng ta quyết định nên đầu tư cho sản xuất bao nhiêu, đến
mức độ nào. Trên phương diện này quan điểm truyền thống chưa đáp ứng được
đầy đủ. Mặt khác, quan điểm truyền thống không tính đến yếu tố thời gian khi
tính toán thu chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, các hoạt
động đầu tư và phát triển lại có những tác động không những đơn thuần về mặt
kinh tế mà còn cả về mặt xã hội và môi trường, có những phần thu và những
khoản chi khó lượng hóa thì không thể phản ánh trong quan điểm này.
- Quan điểm của các nhà tân cổ điển về HQKT
Theo các nhà kinh tế tân cổ điển như Luyn Squire, Herman Gvander Tack thì
hiệu quả kinh tế phải được xem xét trong trạng thái động của mối quan hệ giữa
đầu vào và đầu ra. Thời gian là nhân tố quan trọng trong tính toán HQKT, dùng
chỉ tiêu HQKT để xem xét trong việc đề ra các quyết định cả trước và sau khi
đầu tư sản xuất kinh doanh. HQKT không chỉ bao gồm hiệu quả tài chính đơn
thuần mà còn bao gồm cả hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Chính vì thế
nên khái niệm về thu và chi trong quan điểm tân cổ điển được gọi là lợi ích và
chi phí.
Xét theo mối quan hệ động giữa đầu vào và đầu ra một số tác giả đã phân biệt rõ
ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh
tế.
+ kHiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên 1 chi phí đầu
vào hay nguồn lực sử dụng trong sản xuất với những điều kiện cụ thể về kỹ
thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất. Tỷ số này gọi là sản phẩm biên, nó
chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị
sản phẩm. Hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng các nguồn lực được thể hiện
thông qua mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và
hợp các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra trong điều kiện sản xuất, nguồn lực
nhất định. Ngoài ra còn phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu khoa học kỹ thuật và
việc áp dụng vào trong sản xuất, vốn, chính sách… quy luật khan hiếm nguồn
lực trong khi đó nhu cầu của xã hội về hàng hóa, dịch vụ ngày càng tăng và trở
nên đa dạng hơn, có như vậy mới nâng cao được HQKT.
Theo các quan điểm trên thì HQKT luôn liên quan đến các yếu tố tham gia vào
quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó nội dung để xác định HQKT bao gồm các
nội dung sau:
- Xác định yếu tố đầu vào: Hiệu quả là một đại lượng để đánh giá, xem xét kết
quả hữu ích được tạo ra như thế nào, từ nguồn chi phí bao nhiêu, trong các
điều kiện cụ thể nào, có thể chấp nhận được hay không. Như vậy, HQKT
liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và việc sử dụng nó với các yếu tố
đầu ra của quá trình sản xuất.
- Xác định các yếu tố đầu ra: Đây là công việc xác định mục tiêu đạt được.
Các kết quả đạt được có thể là giá trị sản xuất, khối lượng sản phẩm, giá trị
sản phẩm, giá trị gia tăng, lợi nhuận.
b. Bản chất HQKT
Bản chất của HQKT xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã
hội là thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về vật chất, tinh thần của mọi cá nhân,
tổ chức trong xã hội. Muốn như vậy thì quá trình sản xuất phải phát triển không
ngừng cả về chiều sâu và chiều rộng như: Vốn, kỹ thuật, tổ chức sản xuất sao
cho phù hợp nhất để không ngừng nâng cao HQKT của quá trình sản xuất.
2.1.2 Lý luận về nuôi trồng thủy sản
2.1.2.1 Khái niệm về mô hình, mô hình nuôi trồng
Mô hình là những hình mẫu để làm đơn giản hệ thống, mô hình mang những
tính chất của hệ thống để giúp cho chúng ta nghiên cứu hệ thống một cách dễ
dàng, nghiên cứu hệ thống mô hình để chọn cách quản lý, điều hành hệ thống.
Mô hình nuôi trồng là hình mẫu nuôi trồng, thể hiện sự kết hợp giữa các nguồn
+ Mặt nước NTTS bao gồm cả đất và nước nó vừa là tư liệu lao động vừa là đối
tượng lao động.
+ Qúa trình NTTS là tác động nhân tạo xen kẽ với tác động tự nhiên nên thời gian
sản xuất và thời gian lao động không trùng nhau. Tính thời vụ trong NTTS rất cao
và còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Từ đặc điểm này yêu cầu người
NTTS phải có nhiều hiểu biết và khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, thông hiểu về điều kiện tự nhiên và thời tiết khí hậu
+ NTTS đòi hỏi các dịch vụ phụ trợ lớn đặc biệt về giống , thức ăn, hệ thống tín
dụng, hệ thống khuyến ngư.
+ Sản phẩm của ngành NTTS khó bảo quản, dễ hư hỏng bởi chúng có hàm lượng
nước lớn và hàm lượng dinh dưỡng cao, đó là môi trường thuận lợi cho các vi
khuẩn xâm nhập và phá hủy. Do đó đi đôi với việc phân bổ và phát triển ngành
NTTS phải giải quyết tốt khâu tiêu thụ, bảo quản, chế biến sản phẩm của ngành.
c. Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển ngành nuôi trồng thủy sản
Tuy mới phát triển nhưng ngành NTTS đã giữu được một vị trí quan trọng trong cơ
cấu của ngành nông nghiệp và trong cơ cấu kinh tế quốc dân, việc phát triển NTTS
giữ các vai trò quan trọng sau:
Thứ nhất, sản phẩm của ngành nuôi trồng thuỷ sản rất phong phú và đa dạng, là
nguồn thực phẩm có chất lượng có thể đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng cho cư
dân. Ngoài ra phát triển nuôi trồng thuỷ sản cung cấp một phần thức ăn cho chăn
nuôi, đặc biệt là cho chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp.. Ngoài chức năng
dinh dưỡng thông thường, ngày nay một số thực phẩm thuỷ sản đang được nghiên
cứu và sử dụng vào chữa trị một số bệnh cho con người như: Vẫy cá nhám, bong
bóng cá sư, bào ngư…
Thứ hai, phát triển nuôi trồng thuỷ sản góp phần nâng cao thu nhập và tạo công
ăn việc làm cho người lao động. Hầu hết các ngư dân ven biển từ chỗ chỉ sản xuất
Mô hình nuôi thâm canh: Đây là hệ thống nuôi dựa hoàn toàn vào nguồn
giống nhân tạo và thức ăn công nghiệp dạng viên hoặc thức ăn tươi sống có chất
lượng cao. Nguồn nước cấp và thoát cho hệ thống hoàn toàn chủ động, các trang
thiết bị phục vụ vận hành nuôi đầy đủ kể cả thuốc, hóa chất trong phòng và xử lý
môi trường, bệnh dịch. Diện tích ao, đầm nuôi không lớn. Mật độ giống thả cao 5 –
10 con/m2 đối với cá và 20 – 40 con/m 2 đối với tôm. Mô hình này có ưu điểm là
cho năng suất cao; ao được xây dựng hoàn chỉnh, có đầy đủ các thiết bị như máy
bơm nước, máy quạt nước, diện tích nhỏ do đó dễ vận hành quản lý. Tuy nhiên, mô
hình cũng có nhược điểm là vốn đầu tư lớn, đòi hỏi người nuôi phải nắm vững kỹ
thuật nuôi và có nhiều kinh nghiệm thực tế.
-
Mô hình nuôi bán thâm canh: Đây là hệ thống nuôi chủ yếu sử dụng giống
nhân tạo và thức ăn chế biến với diện tích của các ao đầm nuôi không lớn (một vài
hecta), nguồn nước cung cấp chủ động, có các trang thiết bị hỗ trợ cho vận hành hệ
thống nuôi. Mô hình nuôi này đã mang lại nhiều lợi nhuận hơn trên một đơn vị
diện tích do nó phù hợp với hoàn cảnh kinh tế hiện nay của người dân ở góc độ đầu
tư và kỹ thuật canh tác. Trong mô hình này ao nuôi thường được xây dựng khá
hoàn chỉnh, diện tích không lớn do đó dễ dàng vận hành quản lý.
b. Phân theo môi trường nuôi
-
Mô hình nuôi nước ngọt: Là hoạt động kinh tế khai thác con giống trong
vùng nước ngọt tự nhiên, sản xuất giống nhân tạo và ương các loài thủy sản (nơi
tôm hùm, cá biển (cá mú, cá giò, cá hồng, cá cam…), nhuyễn thể như nghêu, sò
huyết, ốc hương, trai ngọc… và trồng rong câu, rong sụn..
2.1.3 Nội dung nghiên cứu hiệu quả kinh tế một số mô hình NTTS
Để đánh giá được hiệu quả kinh tế các mô hình NTTS cần dựa vào hệ thống chỉ
tiêu, hệ thống chỉ tiêu đánh giá, hiệu quả kinh tế phải xuất phát từ bản chất của
hiệu quả và phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
+ Đảm bảo được tính thống nhất của các chỉ tiêu: thống nhất về nội dung, thời
điểm tính, cách tính, đơn vị tính...
+ Đảm bảo tính khoa học, nghĩa là vừa phải đảm bảo tính đúng đắn khi nghiên
cứu vừa phải dễ hiểu, dễ sử dụng.
+ Phải đảm bảo tính toàn diện, nghĩa là có cả chỉ tiêu bộ phận, cả chỉ tiêu tổng
thể.
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm, trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
-
Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá HQKT bao gồm:
+ Giá trị sản xuất GO (Gross Output): Là toàn bộ giá trị sản phẩm và dịch vụ
các hộ nuôi trồng thủy sản thu được trong 1 năm. Chỉ tiêu này có thể tính cho 1
hộ nuôi trồng hoặc 1 đơn vị diện tích nuôi trồng.
Công thức tính giá trị sản xuất: GO = ∑QiPi.
Trong đó: Qi là khối lượng sản phẩm thứ i;
Pi là giá của sản phẩm thứ i tương ứng
+ Chi phí trung gian IC (Intermediate Cost) là toàn bộ chi phí vật chất và dịch
vụ được sử dụng trong một thời kỳ nhất định. Chi phí trung gian là một bộ
phận cấu thành nên giá trị sản xuất. Trong NTTS, chi phí trung gian bao gồm:
chi phí về giống, thức ăn, hóa chất, thuê lao động, lãi tiền vay, các khoản chi
đầu vào, các tài nguyên tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm.
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản
2.1.4.1 Yếu tố tự nhiên
Yếu tố tự nhiên là yếu tố ảnh hưởng lớn đến phát triển mô hình nuôi trồng thuỷ
sản ven biển vì đây là ngành đòi hỏi môi trường khắt khe. Khi nguồn nước, khí
hậu, môi trường đột ngột thay đổi sau các diễn biến của thời tiết như bão, gió mùa
Đông Bắc, giông, mưa phùn, sương mù nếu không có biện pháp xử lý kịp thời sẽ
ảnh hưởng rất xấu đến kết quả sản xuất của người dân, thậm chí có khi dẫn đến
mất trắng.
2.1.4.2 Trình độ năng lực của hộ NTTS
Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là những cơ thể sống, là các
loại động vật thực vật thủy sản chúng sinh trưởng, phát sinh, phát sinh, phát triển
theo các quy luật sinh học nên con người phải tạo được môi trường sống phù hợp
cho từng đối tượng mới có thể thúc đẩy khả năng sinh trưởng và phát triển của nó.
Các biện pháp kỹ thuật của con người chỉ khi nào phù hợp với quy luật sinh
trưởng, phát triển với sinh sản của động thực vật thủy sản mới có thể thu được
năng xuất và sản lượng cao. Vì vậy, để nuôi trồng thủy sản đạt hiệu quả cao, sự
hiểu biết về kỹ thuật NTTS và viêc tổ chức sản xuất NTTS theo các quy trình kỹ
thuật đóng vai trò rất quan trọng. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, khi mà có
nuôi bỏ vốn vào sản xuất nuôi trồng, nếu không có sự hiểu biết hay tŕnh độ nhất
định về nghề, họ sẽ gặp nhiều khó khăn và hiệu quả sẽ không cao. Người nuôi
không có trình độ năng lực về kỹ thuật nuôi, năng lực tổ chức sản xuất mà chỉ dựa
vào kinh nghiệm thường bảo thủ, kém thích ứng với sự tiến bộ kỹ thuật, cơ chế thị
trường. Có kinh nghiệm trong nuôi trồng cũng quan trọng, song kinh nghiệm đôi
khi không giải quyết được những vấn đề kỹ thuật nảy sinh, những sự cố trong quá
trình nuôi như xử lý bệnh cá, môi trường, các vấn đề kỹ thuật cần tuân thủ. Khi
người nuôi có trình độ năng lực, họ biết nghiên cứu thị trường, biết xác định loài
nuôi, hiểu biết về kỹ thuật và biết áp dụng kỹ thuật vào sản xuất, biết tổ chức quá
xuất mà nó còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học công nghệ, góp phần
đáng kể vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động khi chủ hộ mở
rộng quy mô sản xuất. Năng suất, chất lượng sản phẩm thuỷ sản nuôi trồng phụ
thuộc rất nhiều vào chất lượng ao hồ và việc tổ chức quản lý sản xuất nuôi trồng
theo đúng yêu cầu của quy trình kỹ thuật. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi
người nuôi trồng đủ vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản
đồng bộ và có chất lượng tốt. Vì vậy để duy trì được hoạt động sản xuất kinh
doanh, nâng cao được hiệu quả kinh tế trong các ngành sản xuất nói chung và
ngành nuôi trồng thuỷ sản nói riêng thì yếu tố vốn không thể thiếu được trong mỗi
hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành.
b. Thị trường
Thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào cho sản xuất và thị trường tiêu
thụ sản phẩm đầu ra, tuy nhiên đối với nuôi trồng thuỷ sản thị trường tiêu thụ đóng
vai trò quyết định. Thị trường tiêu thụ sản phẩm quy định quy mô, cơ cấu thuỷ sản
nuôi trồng. Người sản xuất nuôi trồng thuỷ sản luôn căn cứ vào cung cầu và giá cả
thị trường để điều chỉnh hành vi sản xuất kinh doanh nuôi trồng thuỷ sản cho phù
hợp, nhằm hạn chế tối đa rủi ro do tác động của thị trường. Vì vậy, việc nghiên cứu
tìm kiếm, tiếp cận thị trường và xúc tiến thương mại cho sản phẩm thuỷ sản luôn là
đòi hỏi mà những nhà kinh doanh nuôi trồng thuỷ sản phải quan tâm.
c. Yếu tố chính sách
Đây là yếu tố tác động không nhỏ đến quy mô cũng như chất lượng của ngành
nuôi trồng thuỷ sản. Các chính sách luôn là “bà đỡ” cho sự phát triển. Phát triển
nuôi trồng thuỷ sản phụ thuộc rất lớn vào nhiều chính sách trong đó chính sách đất
đai là quan trọng nhất. Đồng thời phải hình thành đồng bộ chính sách tín dụng đầu
tư, chính sách bảo hiểm và nhiều chính sách khác. Vì vậy đổi mới và hoàn thiện
chính sách luôn là vấn đề mà người nuôi trồng thuỷ sản đòi hỏi đối với các cấp, các
ngành và các địa phương.
Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc kìm
hợp có giá trị kinh tế trong đó dạng thức ăn tối ưu nhất của nó là phải kết hợp được
đầy đủ giá trị sinh học của chúng với giảm giá thành. Các tác giả Proxian, Geltov
và Phedorenco còn chỉ rõ rằng: khi thành phần của khẩu phần thức ăn khác nhau
thì chi phí thức ăn cho một đơn vị tăng trọng có thể biến động trong một giới hạn
lớn.
Cũng trong những năm 60, các chuyên gia nổi tiếng về nuôi các của Tiệp Khắc
như Phoma Duditr, Stondonski và Borodin lại tập trung nghiên cứu về luân canh
nuôi cá trong nông nghiệp nhất là nuôi cá trong hệ thống tưới tiêu của trồng trọt ở
các nông trang và các nông trường.
Trong những năm gần đây, tổ chức FAO cũng đã có nhiều công trình nghiên
cứu trong lĩnh vực thủy sản ở Việt nam và đã khởi xướng chiến lược “NTTS bền
vững để xóa đói giảm nghèo (Sustainable Aquaculture for povery Alleviation –
SAPA). Mạng lưới các trung tâm NTTS Châu Á Thái Bình Dương (NACA) cũng
đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các khi vực và ở Việt Nam, từ đó một chiến
lược quốc gia đã được đưa ra nhằm tăng cường đóng góp của NTTS vào chương
trình quốc gia xóa đói giảm nghèo của Chính phủ (Hunger and poverty Reduction
– HEPR). Năm 2000, nhóm hợp tác và đối tác (Cooperation and Partnership
Group) do tổ chức và nghiên cứu và đưa ra một số chính sách nhằm phát triển
NTTS và cùng với UNDP, NACA giúp đỡ Chính phủ Việt Nam hình thành chiến
lược quốc gia về chứng nhận sức khỏe và chất lượng động vật thủy sinh, đồng thời
giúp Việt Nam xây dựng Luật Thủy sản Việt Nam. (Nguyễn Kiên Cường, 2006).
2.2.1.2 Các nghiên cứu NTTS ở Việt Nam
Có rất nhiều nghiên cứu về NTTS ở Việt Nam do những năm gần đây ngành
NTTS phát triển khá mạnh. Với sự trợ giúp của FAO, Viện nghiên cứu NTTS 1
cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về NTTS theo các góc độ cả về kỹ thuật,
cả về kinh tế - xã hội. Trong đề tài “Nuôi thâm canh cá rô phi thương phẩm trong
ao nước ngọt”, các tác giả Phạm Anh Tuấn, Phạm Đức Lương, Lê Quang Hưng đã
năm 1970 tốc độ tăng trưởng hàng năm về sản lượng là 3,9% thì năm 2006 tốc độ
tăng trưởng là 36%. Sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi đó góp phần tăng tỷ
lệ người tiêu dùng sản phẩm thủy sản nuôi trồng từ 0,7kg/người/năm vào năm
1970 lên đến 7,8kg/người/năm vào năm 2006. Sản phẩm thủy sản nuôi trồng chiếm
46% tổng sản phẩm thủy sản tiêu dùng hàng năm. Ở Trung Quốc, tỷ lệ này là 90%.
Trên thế giới, châu Á cho sản lượng thủy sản nuôi trồng lớn nhất, chiếm 89%
tổng sản lượng và 77% tổng giá trị sản phẩm thủy sản nuôi trồng thế giới năm
2006. Năm 2006, tổng sản lượng NTTS thế giới là 51 triệu tấn và sản lượng khai
thác là 92 triệu tấn. Trong số này, Trung Quốc chiếm 66,7% tổng sản lượng nuôi,
các nước châu Á khác chiếm 22,8% và các nước khác còn lại ở châu Âu, châu Mỹ,
châu Úc… chiếm 10,5%.
Mười nước đứng đầu thế giới về sản lượng NTTS theo thứ tự gồm: Trung
Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam, Nhật Bản, Bangladesh, Thái Lan, Na Uy,
Chile, Mỹ.
Bảng 2.1. Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của 10 nước đứng đầu thế giới năm
2007
TT
Các nước
Sản lượng (nghìn tấn)
1
Trung Quốc
28892
2
Ấn Độ
2215,59
3
Inđônêxia
996,66
68,3
5,2
2,4
2,2
2,0
2,0
1,8
1,4
1,3
1,3
12,0
100
Trung Quốc bắt đầu phát triển nhanh NTTS từ giữa những năm 80 của thế kỷ
trước và nhanh nhất từ năm 1989. Đến năm 1997 Trung Quốc đạt sản lượng 19,3
triệu tấn sản phẩm. Kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc đã vượt mức 3 tỷ
USD/năm, thu nhập của nông ngư dân ngày càng cao.
Chính phủ Trung Quốc tích cực đẩy mạnh việc điều chỉnh có tính chiến lược
kết cấu nghề cá, gia súc tăng thu nhập cho ngư dân, phát triển trọng điểm nghề
NTTS, phát huy hiệu quả mặt nước nuôi trồng. Theo thống kê do FAO công bố
vào năm 2005, Trung Quốc đứng đầu thế giới về khối lượng sản xuất, xuất khẩu và
nhập khẩu thủy sản.
* Nuôi trồng thủy sản ở Thái Lan
Ngành NTTS Thái Lan được xem như bắt đầu phát triển là từ đầu thế kỷ 19. Nghề
NTTS nước ngọt đã phát triển trước đó trong một thời gian dài, nhưng nghề NTTS
nước mặn ngày càng mở rộng trong thời gian gần đây và có hiệu quả kinh tế cao.
Trong năm 2003, sản lượng NTTS đạt khoảng 1064 triệu tấn và đạt giá trị 1,46 tỷ
USD được tính trên 1 quý của tổng sản phẩm thủy sản. Sự hoạt động của ngành
NTTS ở Thái Lan có thể chia thành 2 nhóm: thủy sản nước ngọt và thủy sản nước
lượng thủy sản nuôi trồng năm 2009 ước tính đạt gần 2,57 triệu tấn, tăng 4,2% so
với năm trước, chủ yếu do các địa phương tiếp tục chuyển đổi và mở rộng diện tích
nuôi trồng theo hướng kết hợp đa canh, đa con.
Chủ trương phát triển nghề NTTS và cho phép nông dân chuyển đổi ruộng
trũng, ruộng cấy lúa đạt hiệu quả thấp sang NTTS là một chủ trương lớn, việc
chuyển đổi này cần đạt được HQKT cao. Trong thực tế những năm qua, việc
chuyển đổi này còn gặp nhiều khó khăn và lúng túng; việc chuyển đổi mang nặng
tính tự phát, các vùng chuyển đổi chưa được quy hoạch hoàn chỉnh, đồng bộ; hệ
thống mương máng thiếu thốn, không đảm bảo, chưa có hệ thống điện.