LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng trong bất cứ một nghiên cứu nào hoặc
để bảo vệ của một học vị nào khác.
Tôi xin cam đoan tất cả các trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc, mọi
sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đều đã được cảm ơn.
Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2011.
TÁC GIẢ KHÓA LUẬN
Lò Thị Tiên
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn
sâu sắc tới thầy giáo Lê Ngọc Hướng - Giảng viên khoa Kinh tế và Phát
triển nông thôn, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học
Nông nghiệp Hà Nội đã động viên, góp ý và tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các cụ chú, anh
chị trong UBND Huyện Lang Chánh – tỉnh Thanh Hóa nói chung và
Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn nói riêng đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại địa phương.
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn các hộ gia đình sản xuất theo
mô hình vườn đồi trong địa bàn huyện đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện
cho tôi trong suốt quá trình điều tra, đánh giá tình hình sản xuất tại địa
phương cho tới khi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình cùng bạn bè đã giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
phát triển kinh tế theo mô hình vườn đồi và kết quả cho thấy sản xuất nông
nghiệp theo mô hình vườn đồi đã mang lại lợi ích kinh tế cho nông dân và
doanh nghiệp chế biến xuất khẩu. Từ đó góp phần không nhỏ vào chương
trình xóa đói giảm nghèo 135 của chính phủ. Do đó, phát triển kinh tế vườn
đồi ở huyện Lang Chánh - Thanh Hóa là yêu cầu tất yếu khách quan.
Kết quả phân tích lợi nhuận - chi phí ba mô hình cho thấy các loại mô
hình có những yêu cầu rất khác nhau về điều kiện tự nhiên.
+ Mô hình 1 rất phù hợp với những hộ nhiều đất sản xuất, phù hợp điều kiện tự
nhiên, địa hình của huyện. Ngoài ra mô hình 1 là mô hình đem lại hiệu quả về mặt
xã hội và môi trường cao nhất trong tất cả các mô hình.
+
Mô hình 2 đem lại hiểu quả về mặt kinh tế là cao nhất, tổng giá trị sản
xuất đạt
64334.28 nghìn đồng/ ha
, thu nhập hỗn hợp
45209.82 nghìn đồng/
ha. Nói chung là mô hình này có hiệu quả kinh tế nhất, còn hiệu quả xã hội
thì mô hình này đã góp phần giải quyết việc làm tăng thu nhập cho nông
dân. Về hiệu quả môi trường thì mô hình này không đạt hiểu quả môi trường
bằng hai mô hình 1 và 3, bởi vì mô hình 2 trồng mía không kết hợp với cây
trồng khỏc nờn khi cây mía con nhỏ sẽ tạo nên đồi núi trọc nếu có mưa sẽ
không tránh khỏi bị xói mòn.
Do đó, để phát triển bền vững trên đất đồi ta
cần có biện pháp kỹ thuật hợp lý.
+ Mô hình 3 là mô hình cú cỏc chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế thấp nhất trong ba
mô hình, nhưng về chăn nuôi thì mô hình này lại có hiệu quả cao nhất vì chăn
nuôi kết hợp với mô hình này có thể tận dụng được cả sản phẩm phụ và chính
để chăn nuôi. Với lại mô hình này phù hợp với điều kiện địa hình đất đai các
vùng núi thấp, ven sông của huyện.
Mặt khác, kết quả nghiên cứu đã phản ánh trung thực về các nhân tố
Bảng 3.5 Bảng chọn mẫu điều tra Error: Reference source not found
Bảng 4.1 Giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện trong ba năm 2008-2010
Error: Reference source not found
Bảng 4.2 Thông tin chung về các hộ điều tra Error: Reference source not
found
Bảng 4.3 Đầu tư chi phí cho cây trồng của các mô hình. Error: Reference source
not found
Bảng 4.4 Đầu tư chi phí cho chăn nuôi của hộ trong các mô hình (1000đ/hộ) Error:
Reference source not found
Bảng 4.5 Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh tế vườn đồi của huyện Lang
Chánh Error: Reference source not found
Bảng 4.6 Kết quả và hiệu quả ngành chăn nuôi của các mô hình vườn đồi
huyện Lang Chánh Error: Reference source not found
Bảng 4.7 Các loại dịch vụ mà hộ nhận đượcError: Reference source not found
vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Định nghĩa
BQ Bình quân
CC Cơ cấu
CN Công nghiệp
CNH Công nghiệp hoá
CPPB Chi phí phân bổ
CSHT Cơ sở hạ tầng
DT Diện tích
ĐVT Đơn vị tính
GTSX Giá trị sản xuất
HĐH Hiện đại hoá
HĐND Hội đồng nhân dân
HQ Hiệu quả
HQKT Hiệu quả kinh tế
Nước ta với ắ diện tích là vùng trung du miền núi, do đó dể phát triển
kinh tế hộ gia đình thì chủ yếu là phát triển theo mô hinh kinh tế vườn đồi.
Hội làm vườn các cấp đã khẳng định vai trò kinh tế vườn đồi ngày càng rõ nét
và hiệu quả hơn, các hộ nông dân sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, lao động
và vươn lên làm giàu chính đáng.
Để sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững
thì chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và nông thôn là rất cần thiết. Cũng qua đó,
tìm ra hướng đi mới phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của mỗi nơi
nhằm khai thác triệt để lợi thế của vùng cũng như của địa phương. Từ đó từng
bước đưa nền nông nghiệp nước nhà ngày càng ổn định và phát triển hơn nữa,
góp phần quan trọng vào tiến trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa mà Đảng ta đã đề ra.
Lang Chánh là một huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa, nền kinh tế
chủ yếu là nông nghiệp. Lang Chỏnh cú 11 đơn vị hành chính gồm 10 xã và
01 thị trấn trong đó có 05 xã thuộc vùng 135 gồm Yên Khương, Yên Thắng,
1
Trí Nang, Tam Văn, Lõm Phỳ và có 8 thôn thuộc chương trình 135 giai đoạn
II (xó Tõn Phỳc cú 4 thụn: Tõn Biờn, Tõn Cương, Tõn Bỡnh, Tõn Lập; xã
Đồng Lương có 2 thôn Thung, Chỏng; xã Giao Thiện: Húng, Tượt) và 01 xã
biên giới (Yên Khương), 5 xã còn lại thuộc chương trình 30a. Địa hình phức
tạp có nhiều đồi núi cao, độ dốc lớn và chia cắt mạnh bởi cỏc sụng, suối; độ
cao trung bình toàn huyện từ 500m – 700m (so với mặt nước biển). Tổng diện
tích tự nhiên của huyện 58659,18 ha (Đất lâm nghiệp: 50632,58ha chiếm
86,32% diện tích tự nhiên: Đất SX nông nghiệp là 3.945,57ha chiếm 6,72%
diện tích tự nhiên). Lang Chánh là huyện miền núi đặc biệt khó khăn, có nền
kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp; Công nghiệp - TTCN -
Xây dựng và dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp.
Trong các năm qua có nhiều hộ nông dân vươn lên làm giàu bằng mô
hình kinh tế vườn đồi, tuy nhiên số lượng còn rất ít,
người dân chưa quen với
để trả lời các câu hỏi đó
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Đánh giá hiệu quả kinh tế một số mô
hình vườn đồi ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Húa”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả kinh tế một số mô hình vườn đồi hiện có của huyện,
từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu phát triển mô hình vườn đồi thích hợp ở
huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
• Hệ thống hóa cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn mô hình vườn đồi và hiệu
quả kinh tế.
• Đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường của
các mô hình vườn đồi chủ yếu tại địa bàn huyện Lang Chánh.
• Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình vườn đồi. Từ đó đề xuất
giải pháp phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế vườn đồi huyện Lang Chánh
tỉnh Thanh Hóa.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các hộ nông dân huyện Lang Chánh thực hiện sản xuất theo mô hình
kinh tế vườn đồi.
- Các hoạt động liên quan đến kinh tế vườn đồi.
3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
• Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các mô hình kinh tế
vườn đồi, nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế một số mô hình vườn đồi chủ yếu
nhất của huyện. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp nâng cao
hiệu quả các mô hình vườn đồi.
• Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Lang
Chánh, tỉnh Thanh Hóa.
• Phạm vi thời gian: Thời gian thực hiện 4 tháng từ 26/1/2011 đến
Mô hình hay hình mẫu theo nghĩa thông thường là một cái mẫu, hay là
mô hình của một vấn đề tham khảo hay làm theo. Mô hình là sự trừu tượng
hóa hay đơn giản hóa hệ thống.
Mô hình là hình ảnh được mô phỏng hoá, thu nhỏ lại và trình bày một
cách đơn giản đối tượng nghiên cứu mà trong thực tế chúng rất phức tạp và
đa dạng. Do đó, chúng ta có thể nghiên cứu đối tượng phức tạp trong thực tế
một cách dễ dàng hơn.
Mô hình là hình mẫu để mô phỏng cấu tạo, hoạt động và phản ánh đối
tượng chúng ta đang nghiên cứu.
Với mục đích nghiên cứu khác nhau, tuỳ thuộc vào cách tiềp cận của
từng người nghiên cứu mà sử dụng mô hình để trình bày, mô phỏng những
đối tượng khác nhau. Tuy nhiên sử dụng mô hình để trình bày đối tượng
nghiên cứu đều nhằm mục đích đó là làm đơn giản hoá đối tượng nghiên cứu
phức tạp để diễn đạt ngắn gọn và dễ hiểu nhất đối tượng nghiên cứu đó mô
hình là hình mẫu chúng ta có thể làm theo.
2.1.1.2 Một số mô hình sử dụng hiệu quả trên đất dốc
Hiện nay, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại, vùng cao Việt
Nam, chủ yếu là đất dốc, có nhiều tiềm năng phục vụ sự nghiệp phát triển
kinh tế xã hội của công đồng các dân tộc. Vùng đất dốc ngày càng có vai trò
quan trọng, hiện tại vùng núi đang cung cấp hầu như tất cả những vật dụng
cần thiết phục vụ nhu cầu cuộc sống con người như: nguồn nước, đất sản xuất
nông lâm nghiệp, nguyên liệu cho công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thuỷ
điện…Ngoài ra miền núi, với những cánh rừng rộng lớn, còn là máy điều hoà
khổng lồ chi phối sự an toàn sinh thái và môi trường cho cuộc sống.
Do đó, để canh tác trên đất dốc bền vững để sử dụng mảnh đất của gia
đình mình được lâu dài, ổn định thì cần phải biết canh tác hợp lý có hiệu quả.
Theo tài liệu của Dự án GCP/VIE/020/ITA có một số mô hình sử dụng
có hiệu quả đất dốc ở vùng núi và vùng đồi sau đây:
6
• Mô hình: Rừng + Nương + Vườn + Ruộng.
định. Cây trồng, vật nuôi sẽ cho năng suất tối đa khi các điều kiện đó phù
hợp với quy luật sinh trưởng của chúng.
Sự phát triển của các mô hình còn phụ thuộc nhiều vào các chính sách
phát triển kinh tế của các cấp chính quyền từ Trung ương đền địa phương.
Ngoài ra các hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông, thủy lợi, tập quán canh tỏc,
… cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của các mô hình kinh tế vườn
đồi của địa phương.
2.1.1.4 Vai trò của kinh tế vườn đồi trong phát triển kinh tế
Như chúng ta đã biết đất nước ta với ắ diện tích là đồi núi, ở các tỉnh
trung du miền núi, đất đồi có diện tích lớn, đất dốc cũng là thế mạnh của
vùng. Ở nước ta kinh tế vườn đồi mới phát triển mạnh mẽ trong những năm
gần đây nhưng có vai trò rất lớn trong tất cả các lĩnh vực như kinh tế, xã hội,
môi trường.
* Kinh tế
KT vườn đồi góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, nông thôn, phát triển những loại cây trồng vật nuôi có giá trị
kinh tế cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún tạo nên
những vùng chuyên môn hoá, tập trung hàng hoá và thâm canh cao, là nơi
sản xuất nguyên liệu công nghiệp, là nơi chăn thả gia súc gia cầm, là nơi xây
dựng các mô hình sản xuất, mô hình vườn đồi. Mặt khác qua việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, nó góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt
công nghiệp chế biến và dịch vụ cho sản xuất ở nông thôn; làm tấm gương
tốt trong quá trình sản xuất, tổ chức, quản lý của các hộ nông dân; góp phần
tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, phát triển nông nghiệp, nông thôn
và kinh tế hộ.
8
* Về xã hội
Mô hình vườn đồi phát triển đã góp phần giải quyết việc làm nâng cao
thu nhập cho người dân, làm tăng dần số hộ giàu trong nông thôn. Điều đó
có ý nghĩa rất quan trọng về mặt xã hội trong nông thôn. Trước đây, các
dùng và sản xuất hàng hóa.
+ Mô hình kinh tế trang trại vườn đồi: nông hộ thường sủ dụng tư liệu
sản xuất và sức lao động gia đình và lao động đi làm thuê để sản xuất ra sản
phẩm nông sản phục vụ tiêu dùng, sản xuất hàng hóa đáp ứng yêu cầu xã hội
và xuất khẩu.
Theo hình thức tổ chức sản xuất:
+ Mô hình có cơ cấu sản xuất theo hướng chuyên môn hoá một loại
sản phẩm: mô hình trồng trọt, mô hình chăn nuôi, mô hình lâm – ngư
nghiệp.
+ Mô hình có cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển kinh doanh tổng
hợp nhiều sản phẩm trong đú có sản phẩm chủ yếu hỗ trợ nhau trong quá
trình sản xuất như: mô hình sản xuất nụng - lõm kết hợp, mô hình kết hợp
nông – lâm – ngư nghiệp, mô hình VAC, mô hình VAC-R.
2.1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển
kinh tế vườn đồi
Trong quá trình sản xuất cần kết hợp nhiều yếu tố, các yếu tố này ảnh
hưởng rất lớn đến quy mô và phát triển của kinh tế vườn đồi, nó bao gồm các
yếu tố:
Đất đai: Trong sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt
không thể thay thế, là yếu tố đầu tiên trong việc xác định tiêu chí của quá trình
sản xuất, các hộ muốn hoạt động sản xuất được cần một diện tích nhất định phù
hợp với ý đồ sản xuất kinh doanh của mình. Ngoài ra tùy thuộc điều kiện đất đai
10
của hộ phù hợp với loại cây trồng, vật nuôi nào mà hộ ra quyết định sản xuất
như thế nào.
Lao động: là yếu tố quan trọng để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh
của bất kì một đơn vị nào. Lao động hiện nay không những chỉ được quan tâm
về mặt số lượng mà còn quan tâm đặc biệt về mặt chất lượng như tay nghề, kĩ
thuật, trình độ quản lý, sức khoẻ, sự am hiểu của người lao động Có như vậy
mới đảm bảo cho việc sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả.
* Quan điểm truyền thống về HQKT.
Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến HQKT tức là nói đến phần
còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí. Nó được đo
bằng các chi phí và lời lãi. Nhiều tác giả cho rằng, HQKT được xem như là tỷ
lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một
đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm. Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là
giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn. Nó chỉ được tính toán khi
kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh và được thể hiện qua công thức
sau:
H= Q / C.
Trong đó: - H: hiệu quả kinh tế
- Q: kết quả thu được
- C: chi phí bỏ ra
Ưu điểm: Phản ánh rõ dàng, đơn giản dễ hiểu việc sử dụng nguồn lực
thể hiện thông qua chớ phớ sản xuất.
Nhược điểm: Thứ nhất, nó coi quá trình sản xuất kinh doanh trong
trạng thái tĩnh, chỉ xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư. Trong khi đó hiệu quả
là chỉ tiêu rất quan trọng không những cho phép chúng ta biết được kết quả
đầu tư mà cũn giỳp chúng ta xem xét trước khi ra quyết định đầu tư tiếp và
nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào. Trên phương diện này, quan điểm
12
truyền thống chưa đáp ứng đầy đủ được. Thứ hai, nó không tính yếu tố thời
gian khi tính toán thu và chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó,
thu và chi trong tính toán HQKT theo quan điểm này thường chưa tính đủ và
chính xác. Thứ ba, HQKT theo quan điểm truyền thống chỉ bao gồm hai
phạm trù cơ bản là thu và chi. Hai phạm trù này chủ yếu liên quan đến yếu tố
tài chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả.
Trong khi đó, các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không
chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà còn cả các yếu tố khác nữa. Và có những
phần thu lợi hoặc những khoản chi phí lúc đầu không hoặc khó lượng hoá
quan điểm này HQKT được thể hiện qua công thức sau:
∆Q
Hiệu quả kinh tế =
∆C
Trong đó: ∆Q: Là phần tăng thêm của kết quả sản xuất
∆C: Là phần tăng thêm của chi phí sản xuất
Ngoài ra để đơn giản có quan điểm cho rằng hiệu quả kinh tế được đo
bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất kinh doanh thu được và lượng chi phí bỏ ra
để đạt hiệu quả đó.
HQKT = kết quả thu được – chi phí bỏ ra => H = Q – C
Quan diểm này phản ánh quy mô HQKT song không rõ rệt và phân rõ
ràng các khoản mục chi phí hay lợi nhuận thu được từ khoản đầu tư sản xuất
kinh doanh của hộ. Chưa xác định năng suất lao động và khả năng cung cấp
sản phẩm cho xã hội của các cơ sở sản xuất có lợi nhuận như nhau.
Chung quy lại thì có thể hiểu hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa:
- Các yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh và tất cả đầu ra thu được
của hoạt động sản xuất kinh doanh đó.
- Phần tăng thêm tuyệt đối (hoặc tương đối) của đầu ra thu được.
14
- Nó phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu tư, các nguồn lực tự
nhiên và các phương thức quản lý.
- Nó được thể hiện bởi các chỉ tiêu thụng kờ.
Ở nước ta, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị
trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, hoạt động kinh tế của mỗi doanh
nghiệp, mỗi cơ sở sản xuất không chỉ nhằm tăng hiệu quả và các lợi ích kinh
tế của mình mà còn phải phù hợp với yêu cầu của xã hội, đảm bảo các lợi ích
chung với các định hướng, chuẩn mực được Nhà nước thực hiện điều chỉnh.
Xét trong phạm vi góc độ của ngành sản xuất nông nghiệp thì không
chỉ xột riờng về HQKT của sản xuất mà còn phải đánh giá quá trình sản xuất
đú cú đảm bảo tính ổn định bền vững của hệ sinh thái nông nghiệp hay không
quá trình sản xuất. Hoạt động sản xuất được coi là hiệu quả thỡ khụng gây
ảnh hưởng xấu đến môi trường.
* Bản chất của HQKT
Bản chất của HQKT xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển
kinh tế của xã hội là thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng về vật chất, tinh thần
của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội đó. Do đú,quỏ trỡnh sản xuất phải phát
triển không ngừng cả về chiều sâu và chiều rộng như: Vốn, kỹ thuật, tổ chức
sản xuất sao cho phù hợp nhất để không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế.
Nội dung cơ bản phản ánh HQKT sản xuất đó là sự so sánh giữa kết quả thu
được và phi phí bỏ ra để tiến hành sản xuất, nhưng để làm rõ được bản chất
của HQKT cần phải phân định sự khác nhau về mối liên hệ giữa kết quả và
hiệu quả.
- Kết quả kinh tế là một đại lượng vật chất phản ánh hoật động cuối
cùng của quá trình sản xuất.
16
- Hiệu quả kinh tế là đại lượng để xem xét kết quả đạt được tạo trong
quá trình sản xuất như thế nào, nguồn chi phí vật chất bỏ ra bao nhiêu để đạt
được kết quả đó, hay nú chớnh là sự so sánh giữa kết quả và chi phí bỏ ra.
Ngoài ra khi đánh giá hiệu quả kinh tế cần phải xem xét cả về không
gian và thời gian để hiểu qảu đạt được đảm bảo lợi ích kinh tế trước mắt,
mang tính bền vững lâu dài, nó không làm ảnh hưởng đến hiệu quả chung của
nền kinh tế quốc dân và môi trường sinh thái trong tương lai.
Như vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài mục đích, yêu cầu đặt ra
đều quan tâm đến HQKT nú cú vai trò trong việc đánh giá, so sánh, phân tích
kinh tế nhằm tìm ta giải pháp có lợi nhất cho sản xuất.
2.1.2.3 Phân loại HQKT
Căn cứ vào nội dung của hiệu quả, có thể chia ra thành: HQKT, hiệu quả
xã hội và hiệu quả môi trường. Cụ thể:
- HQKT: HQKT được biểu thị bởi quan hệ so sánh giữa lượng kết quả
đạt được với lượng chi phí bỏ ra trong sản xuất. Một phương án, giải pháp có