LỜI CẢM ƠN
Với tất cả tình cảm của mình, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám
hiệu Trường Đại học Vinh, Khoa Sau đại học, Khoa Giáo dục cùng các Giáo sư,
phó Giáo sư, Tiến sỹ và quý thầy cô là giảng viên của Trường Đại học Vinh đã
nhiệt tình giảng dạy, quan tâm và tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu. Cảm ơn Lãnh đạo Sở Lao động - TBXH, Phòng
Quản lý đào tạo nghề, Ban Giám hiệu các trường Cao đẳng nghề và trung cấp
nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu và đóp
góp nhiều ý kiến cho việc nghiên cứu đề tài.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Hà Văn
Hùng, người thầy trực tiếp giảng dạy và tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong quá
trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp, trao đổi của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn được
hoàn thiện và đề tài có giá trị thực tiễn cao hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 9 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Mỹ Lương
BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TT
1
2
3
4
5
6
ĐH
GQVL
GV
GVDN
HS
KTCN
KTKT
KTXH
LĐ
LĐKT
LĐTBXH
TC
TCN
TBXH
UBND
XKLĐ
Viết đầy đủ
Cao đẳng
Cao đẳng nghề
Công nhân kỹ thuật
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Cơ sở dạy nghề
Cơ sở sản xuất
Cơ sở vật chất
Dạy nghề
Đào tạo nghề
Đại học
Giải quyết việc làm
Giáo viên
Tổ chức liên kết Trường DN và các CSSX độc lập.
Mạng lưới trường CĐN, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề
Trang
13
20
27
28
30
48
Bảng 2
Bảng 3
và các cơ sở khác có dạy nghề tính đến năm 2012
Mạng lưới trường CĐN, trung cấp nghề trong tỉnh
Danh mục các nghề trọng điểm tỉnh Nghệ An giai đoạn
49
51
Bảng 4
Bảng 5
2011 - 2015
Nguồn lực tài chính đào tạo LĐKT giai đoạn 2006 - 2011
Kết quả ĐTN tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006-2010 và năm
53
57
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, để nâng cao sức cạnh tranh của
các doanh nghiệp, một trong những giải pháp có tính chất quyết định là nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được hiểu là
nâng cao thể lực, trí lực, phẩm chất tâm lý, tác phong công nghiệp, tính kỷ luật
và chấp hành luật pháp cho đội ngũ lao động theo yêu cầu của thị trường.
Đào tạo nghề là một phần quan trọng trong hệ thống giáo dục có nhiệm vụ
đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề kỹ thuật phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước trong từng giai đoạn và sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước. Vì vậy Đảng ta đã xác định "Phát triển, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu
tố quyết định phát triển nhanh, bền vững đất nước”, “Đẩy mạnh đào tạo nghề
đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước”. “Con người - yếu tố cơ bản để
phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”, “Liên kết đào tạo với
nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục" [8].
Trong những năm qua, đào tạo nghề của tỉnh Nghệ An đã nỗ lực từng bước
nâng cao chất lượng, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, phát triển qui mô đáp ứng
nhu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật của Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung.
Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới hiện nay, đào tạo nghề của cả nước nói chung
và Nghệ An nói riêng đang bộc lộ những hạn chế nhất định: cơ cấu ngành nghề
chưa hợp lý, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất trong bối
cảnh hội nhập; tình trạng bất cập giữa đào tạo và sử dụng gây thất nghiệp gia
tăng, gây lãng phí cho xã hội. Bên cạnh đó, hiện nay có rất nhiều trường dạy
nghề đang thực hiện đào tạo nghề với quy mô tương đối lớn và cơ cấu ngành
nghề phong phú. Nhưng chất lượng đào tạo ở hầu hết các trường dạy nghề chưa
cao. Rất nhiều người sau khi đã tốt nghiệp các trường dạy nghề vẫn không đáp
ứng được yêu cầu công việc. Một trong những nguyên nhân quan trọng của tình
6
4. Giả thiết khoa học:
Nếu đề xuất được một số giải pháp quản lý hoạt động liên kết giữa trường
dạy nghề với cơ sở sản xuất có tính khoa học và khả thi thì sẽ nâng cao được
chất lượng đào tạo nghề nói chung và đào tạo công nhân kỹ thuật nói riêng ở
Nghệ An.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của những vấn đề cơ bản về quản lý hoạt
động liên kết đào tạo.
5.2. Phân tích, đánh giá thực trạng về đào tạo nghề, đào tạo công nhân kỹ
thuật, chất lượng đào tạo nghề, hoạt động liên kết đào tạo giữa trường dạy nghề
và cơ sở sản xuất ở Nghệ An thời gian qua.
5.3. Đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi để quản lý hoạt động liên
kết giữa trường dạy nghề với cơ sở sản xuất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
nghề cho tỉnh Nghệ An thời gian tới.
6. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu về chất lượng đào tạo nghề, hoạt động liên
kết đào tạo công nhân kỹ thuật giữa trường dạy nghề với cơ sở sản xuất ở một
số trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề và một số doanh nghiệp sản xuất ở
Nghệ An.
7. Phương pháp nghiên cứu:
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến
đề tài nghiên cứu từ các nguồn thông tin như: các niên giám thống kê của Cục
thống kê, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Quy
hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020 và số liệu các ngành
Lao động - Thương binh và Xã hội, Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An, Cục
Thống kê, Kế hoạch và Đầu tư, các bài viết trên các tạp chí, sách báo và trên
mạng Internet,...
nghề với cơ sở sản xuất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề.
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT GIỮA
TRƯỜNG DẠY NGHỀ VỚI CƠ SỞ SẢN XUẤT
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
1.1.1. Liên kết đào tạo nghề trên thế giới.
Mối quan hệ giữa trường nghề với CSSX trong đào tạo nghề từ lâu đã
được nhiều nước quan tâm nghiên cứu và ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng
đào tạo nghề cho người lao động.
Vào giữa thế kỷ XIX (1894) do sự phát triển của công nghiệp, ở Pháp
xuất hiện nhiều cuốn sách viết về sự phát triển đa dạng của nghề nghiệp.
Người ta đã ý thức được rằng hệ thống nghề trong xã hội rất đa dạng và phức
tạp, sự chuyên môn hóa được chú trọng. Do vậy, nội dung các cuốn sách
khẳng định tính cấp thiết phải hướng nghiệp, trang bị cho thế hệ trẻ đi vào lao
động sản xuất, có nghề nghiệp phù hợp với năng lực của mình và phù hợp với
yêu cầu của xã hội. [4]
Đối với giáo dục phổ thông, C. Mác đã chỉ ra các nhiệm vụ cơ bản: "Một
là, giáo dục trí tuệ; Hai là, giáo dục thể chất; Ba là, dạy kỹ thuật nhằm giúp
học sinh nắm được những nguyên lý cơ bản của tất cả các quy trình sản xuất,
đồng thời biết sử dụng công cụ sản xuất đơn giản nhất" [13].
Các nước phát triển trên thế giới luôn đề cao công tác đào tạo nghề nên học
sinh được định hướng nghề nghiệp rất tốt ngay khi còn học phổ thông. Ở Nhật,
Mỹ, Đức,... người ta xây dựng nên các bộ công cụ để kiểm tra giúp phân hóa
năng lực, hứng thú nghề nghiệp ở trẻ nhằm có sự định hướng nghề nghiệp đúng
đắn từ sớm. Cho nên, với họ giáo dục không chỉ phát triển trí tuệ thuần túy mà
còn chủ ý định hướng cho học sinh về nghề nghiệp phù hợp với năng lực bản
thân, đồng thời trang bị cho học sinh kỹ năng làm việc để thích ứng với xã hội.
quốc tháng 7 năm 1948, Tổng bí thư Trường Chinh đã khẳng định: "Biết và
làm đi đôi; lý luận và hành động phối hợp" .
11
Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm tạo điều kiện để cho nhà trường
hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất
lượng cao, nhất là trong những năm gần đây đã ban hành cơ chế chính sách
thông thoáng giúp cho sự hợp tác này được thuận lợi. Điều này được cụ thể
hóa trong Luật giáo dục năm 2005, Luật dạy nghề năm 2006 và Điều lệ trường
CĐ nghề năm 2007, Điều lệ trường TC nghề năm 2007, Điều lệ trường trung
cấp chuyên nghiệp năm 2008, Quy chế mẫu của trung tâm dạy nghề năm
2007,... Mặc dù có cơ chế, chính sách thuận lợi như vậy song ở nước ta, cho đến
hiện nay có thể nói, thực trạng mối quan hệ liên kết giữa nhà trường với CSSX
trong đào tạo nghề còn nhiều yếu kém và cũng có rất ít công trình nghiên cứu
về vấn đề này. Năm 1993, tác giả Trần Khánh Đức có đề tài cấp bộ "Hoàn
thiện đào tạo nghề tại xí nghiệp". Đề tài tập trung nghiên cứu các trường, lớp
dạy nghề đặt tại đơn vị sản xuất trong lĩnh vực về bưu chính viễn thông và hóa
chất. Năm 1993, tác giả Phạm Khắc Vũ với luận văn tốt nghiệp: "Cơ sở lý
luận và thực tiễn phương thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và
cơ sở sản xuất" [27]. Năm 2004, T rường Trung học kỹ thuật xây dựng Hà
Nội có đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố: "Các giải pháp gắn đào
tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy nghề Hà Nội trong lĩnh vực xây
dựng" [22]. Đề tài đã nêu lên "kinh nghiệm trên thế giới về gắn đào tạo với sử
dụng lao động của hệ thống dạy nghề", điển hình là hệ đào tạo kép của Đức và
hình thức đào tạo luân phiên ở Pháp, đưa ra một số mô hình tổ chức đào tạo
nghề cơ bản, và đưa ra một số giải pháp để gắn đào tạo và sử dụng (trong đó có
một số ý tưởng kết hợp đào tạo nghề tại trường và doanh nghiệp). Tuy nhiên, do
hướng nghiên cứu của đề tài không tập trung vào kết hợp đào tạo nghề nên chưa
đề cập tới các cơ sở khoa học của kết hợp đào tạo nghề mà tập trung giải quyết
động liên kết giữa trường nghề với CSSX trong xu thế hội nhập hiện nay vẫn
còn là khoảng trống, ít được quan tâm nghiên cứu. Vì vậy, tác giả tiếp tục đi
sâu nghiên cứu đề tài “Giải pháp quản lý hoạt động liên kết giữa trường DN
với CSSX nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở tỉnh Nghệ An”.
13
1.2. Một số khái niệm cơ bản.
1.2.1. Đào tạo nghề và chất lượng đào tạo nghề.
1.2.1.1. Đào tạo nghề.
Đào tạo nghề: là quá trình phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ
xảo và thái độ nghề nghiệp cho người học. ĐTN nhằm hướng vào hoạt động
nghề nghiệp và hoạt động xã hội. Mục tiêu ĐTN là trạng thái phát triển nhân
cách được dự kiến trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh - tế xã hội và được hiểu là
chất lượng cần đạt tới đối với người học sau quá trình đào tạo. [14]
Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau. Đó là:
Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết
và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo
léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp [14].
Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành
của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định [14].
ĐTN cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động
để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn. Đào tạo nghề bao gồm: Đào tạo
công nhân kỹ thuật (công nhân cơ khí, điện tử, xây dựng, sửa chữa...) và phổ cập
nghề cho người lao động (chủ yếu là lao động nông thôn).
Đào tạo công nhân kỹ thuật (CNKT) là một quá trình sư phạm có mục
đích, có nội dung và phương pháp, nhằm trang bị cho người học những kiến
thức, kỹ năng và thái độ cần thiết của người CNKT để họ có cơ hội tìm được
việc làm và có năng lực hành nghề ở những vị trí lao động theo yêu cầu của sản
xuất. Kết thúc khoá đào tạo, người học được cấp bằng hoặc chứng chỉ để có thể
“động” về chất lượng, trong đó chất lượng được xác định bởi người sử dụng sản
phẩm - dịch vụ hay trong nền kinh tế thị trường còn gọi là khách hàng. Khách
hàng cảm thấy thoả mãn khi sử dụng sản phẩm - dịch vụ có nghĩa là sản phẩm dịch vụ đó có chất lượng.
15
Bên cạnh sự thay đổi về thời gian thì từ những cách tiếp cận khác nhau
cũng dẫn đến những khái niệm khác nhau về chất lượng. Có một số khái niệm
tiêu biểu về chất lượng như: “Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những
thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự
vật phân biệt nó với sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật.
Chất lượng biểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc
tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể bao quát toàn bộ
sự vật và không tách rời khỏi sự vật. Sự vật khi vẫn còn là bản thân nó thì không
thể mất đi chất lượng của nó. Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự
vật. Về căn bản, chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với tính qui định về số
lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính qui định ấy. Mỗi sự vật bao giờ
cũng là sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng” [23].
“Chất lượng là mức độ mà một tập hợp các đặc trưng vốn có đáp ứng
được các yêu cầu của khách hàng và những người khác có quan tâm” [24].
Trên đây là các khái niệm chung về chất lượng mà khi xét cho từng đối
tượng cụ thể thì cần xét tới cả những điều kiện lịch sử - cụ thể của đối tượng đó.
Chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng là vấn
đề cơ bản và là mục tiêu phấn đấu không ngừng của các cấp quản lý giáo dục đào tạo cũng như các cơ sở đào tạo trực tiếp. Có nhiều cách hiểu khác nhau về
chất lượng đào tạo nghề với nhứng khía cạnh khác nhau.
Quan điểm nguồn lực ở phương Tây cho rằng chất lượng ĐTN phụ thuộc
đầu vào của hệ thống đào tạo. Khi có các yếu tố đầu vào có chất lượng như: giáo
viên giỏi, cán bộ quản lý giỏi, cơ sở vật chất đầy đủ, học sinh giỏi, ... thì chất
lượng đào tạo nghề được nâng cao. Cũng có quan điểm cho rằng chất lượng
ĐTN được đánh giá bằng sản phẩm của quá trình đào tạo (đầu ra), tức là bằng
- HV: Học viên.
- ND: Nội dung đào tạo.
- CSVC, TC: Cơ sở vật chất, tài chính phục vụ đào tạo.
- Q: Chất lượng đào tạo.
Hệ thống kiểm định quốc gia Việt Nam quan niệm “Chất lượng sẽ đánh
giá bằng cách khách hàng xếp hạng tầm quan trọng của các đặc trưng phẩm chất
đối nghịch với tính nhất quán và giá trị bằng tiền”. Đào tạo nghề sẽ đảm bảo,
nâng cao chất lượng nếu thực hiện các yếu tố như: đáp ứng yêu cầu của khách
17
hàng; tập trung vào con người và mọi người đóng góp xây dựng tổ chức của
mình; có tầm nhìn dài hạn; quản lý sự thay đổi một cách có hiệu quả; có đổi
mới; hữu hiệu; tổ chức tiếp thị tốt với thị trường.
Xuất phát từ những khái niệm chung về chất lượng và các quan niệm về
chất lượng ĐTN nêu trên, có thể hiểu chất lượng ĐTN với những điểm cơ bản
như sau: “Chất lượng ĐTN là kết quả tác động tích cực của tất cả các yếu tố cấu
thành hệ thống đào tạo nghề và quá trình đào tạo vận hành trong môi trường
nhất định”.
1.2.2. Phân loại và các hình thức đào tạo nghề.
1.2.2.1. Phân loại đào tạo nghề.
Có rất nhiều cách phân loại ĐTN, tùy theo mỗi loại tiêu thức ta có thể
phân loại ĐTN thành các loại hình khác nhau. Trong phạm vi bài này chỉ xét hai
tiêu thức phân loại như sau:
- Căn cứ vào thời gian ĐTN:
+ Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình ĐTN có thời gian đào tạo dưới một năm
chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề.
Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao
động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập tập trung vẫn có
thể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan
để nắm vững nghề đã chọn. Ưu điểm cơ bản của hình thức đào tạo này là: Học
sinh được học một cách có hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ lý thuyết đến
thực hành, tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức nhanh chóng và dễ
dàng; đào tạo tương đối toàn diện.
Với hình thức đào tạo chính quy, sau khi đào tạo, học viên có thể chủ động,
độc lập giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận các công việc tương đối phức
tạp, đòi hỏi trình độ lành nghề cao. Cùng với sự phát triển của sản xuất và tiến bộ
của khoa học kỹ thuật, hình thức đào tạo này ngày càng giữ vai trò quan trọng
trong việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật. Tuy nhiên, đào tạo chính quy cũng
19
có nhược điểm là: thời gian đào tạo tương đối dài đòi hỏi phải đầu tư lớn để đảm
bảo đầy đủ cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các cán bộ quản lý.
- ĐTN tại nơi làm việc (đào tạo trong công việc):
ĐTN tại nơi làm việc là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đó người học sẽ
được dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế thực
hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động có
trình độ cao hơn. Hình thức đào tạo này thiên về thực hành ngay trong qúa trình
sản xuất và thường là do các doanh nghiệp (hoặc các cá nhân sản xuất) tự tổ chức.
Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việc
thường chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa
hướng dẫn cho học viên; Giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viên sau khi họ
đã nắm được các nguyên tắc và phương pháp làm việc; Giai đoạn ba, giao việc
hoàn toàn cho học viên khi họ đã có thể tiến hành làm việc một cách độc lập.
Hình thức đào tạo tại nơi làm việc có nhiều ưu điểm như: có khả năng đào
tạo nhiều người cùng một lúc ở tất cả các phân xưởng; thời gian đào tạo ngắn;
không đòi hỏi điều kiện về trường lớp, giáo viên chuyên trách, bộ máy quản lý,
thiết bị học tập riêng nên tiết kiệm chi phí đào tạo; trong quá trình học tập,
người học còn được trực tiếp tham gia vào quá trình lao động, điều này giúp họ
dưới nhiều hình thức khác nhau tùy theo điều kiện, quan điểm ở từng vùng, lãnh
thổ và khu vực.
1.2.3. Hoạt động liên kết giữa trường DN với CSSX và các mức độ liên kết.
1.2.3.1. Hoạt động liên kết giữa trường DN với CSSX.
Liên kết là sự kết hợp giữa hai hay nhiều pháp nhân kinh tế, để tạo ra một
pháp nhân mới có đủ sức mạnh tổng hợp về khả năng tài chính [2].
Liên kết đào tạo là sự hợp tác giữa các bên để tổ chức thực hiện các chương
trình đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học [2].
Liên kết đào tạo nghề là sự hợp tác, phối hợp giữa các trường dạy nghề và
các cơ sở sản xuất để cùng nhau thực hiện những công việc nào đó của quá trình
đào tạo nhằm góp phần phát triển sự nghiệp đào tạo nhân lực cho đất nước đồng
21
thời mang lại lợi ích cho mỗi bên. Do vậy, quan hệ giữa trường dạy nghề và các
cơ sở sản xuất là quan hệ cung - cầu, quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nhân lực.
Hoạt động liên kết giữa nhà trường và CSSX trong đào tạo nghề đang được
hiểu với nhiều ý nghĩa, khía cạnh khác nhau ở những mức độ khác nhau. Trong
phạm vi luận văn này, khái niệm “liên kết” được hiểu là mối quan hệ tương tác
giữa nhà trường và CSSX, hợp thành một hệ thống ĐTN thống nhất và phù hợp,
trong đó chức năng của hệ thống được tích hợp từ hai bộ phận tạo thành là nhà
trường và CSSX nhằm nâng cao chất lượng ĐTN [2].
1.2.3.2. Các mức độ liên kết.
Trong thực tế, liên kết đào tạo giữa nhà trường và các cơ sở sản xuất có
nhiều mức độ khác nhau tuỳ thuộc và yêu cầu vào khả năng của mỗi bên. Các
mức độ có thể kể đến là:
- Liên kết toàn diện là sự tham gia của các cơ sở sản xuất với các trường
dạy nghề trong mọi lĩnh vực, mọi khâu của quá trình đào tạo. Với mức độ liên
kết này, các cơ sở sản xuất tham gia đầu tư trang thiết bị cho các trường dạy
nghề hoặc tổ chức các phân xưởng đào tạo để trường dạy nghề và cơ sở sản xuất
- Theo góc độ chính trị – xã hội: Quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với lao
động. Sự phát triển bao gồm 3 yếu tố: Tri thức - Sức lao động - Quản lý.
- Theo góc độ hành động: Quản lý là quá trình điều khiển - chủ thể quản lý
điều khiển người dưới quyền và các đối tượng khác để đạt tới đích đặt ra.
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới
đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Quản lý là quá trình tác động có ý thức vào một bộ máy bằng cách vạch ra
mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động vào bộ máy để bộ máy
đạt tới mục tiêu đã xác định.
Tựu trung lại, quản lý là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và
kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu. Bao gồm:
+ Quản lý là hoạt động phối hợp nhiều người, nhiều yếu tố;
+ Định hướng các hoạt động đó theo một mục tiêu nhất định;
23
+ Kiểm soát được tiến trình của hoạt động trong quá trình tiến tới mục tiêu.
1.2.4.2. Quản lý hoạt động liên kết giữa trường dạy nghề với cơ sở sản xuất.
Quản lý hoạt động liên kết giữa nhà trường với CSSX là toàn bộ quá
trình xác định nhu cầu, đề ra mục tiêu, nội dung, trách nhiệm,... và được tác
động bởi các biện pháp phù hợp. Là quá trình cải tiến liên tục mọi khâu
trong chu trình liên kết theo sơ đồ dưới đây. Mỗi khâu đều cần được nghiên
cứu kỹ lưỡng và tác động hợp lý, việc thực hiện tốt khâu này sẽ là tiền đề để
thực hiện các khâu tiếp theo, ngược lại, thực hiện tốt các khâu tiếp theo sẽ là
cơ sở để đánh giá mức độ và chất lượng của các khâu tiền đề. Giữa các khâu có
mối quan hệ ràng buộc và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Cần phải có thông tin
chính xác về trực trạng của các khâu để có các biện pháp điều chỉnh, điều khiển
hợp lý để tăng cường liên kết giữa hai bên nhà trường với CSSX. Sẽ đạt được
hiệu quả cao nếu nhà lãnh đạo của cả trường nghề và CSSX đều ý thức tốt việc
quản lý mối quan hệ liên kết cần theo các chu trình bằng các cách thức hợp
các thành tố này luôn có sự tác động qua lại với nhau và nhờ đó chủ thể quản
lý thực hiện các nội dung nhiệm vụ quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý.
Để đạt được mục tiêu quản lý bao giờ chủ thể quản lý cũng phải sử dụng các
công cụ, phương tiện, phương pháp, biện pháp để tác động lên đối tượng quản
lý. Vậy giải pháp quản lý hoạt động liên kết giữa trường DN với CSSX được
hiểu như thế nào?
Theo tác giả, Giải pháp quản lý hoạt động liên kết giữa trường dạy nghề
với cơ sở sản xuất là những điều kiện, cách thức tác động lên mối quan hệ hợp
tác giữa trường dạy nghề với CSSX trong đào tạo và các yếu tố ảnh hưởng đến
quá trình hợp tác đó để đạt được mục tiêu là tìm ra những giải pháp tốt nhất, khả
thi nhất nhằm quản lý hoạt động liên kết giữa trường DN với CSSX trong đào tạo
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề.
1.3. Một số vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động liên kết giữa trường dạy
nghề với cơ sở sản xuất.
1.3.1. Các nội dung liên kết giữa trường DN và CSSX trong lĩnh vực ĐTN.
1.3.1.1. Liên kết về tổ chức đào tạo.
25
Nội dung liên kết phổ biến giữa các trường dạy nghề và cơ sở sản suất
hiện nay là liên kết trong việc tổ chức đào tạo, tức là việc đào tạo (dạy nghề) cho
học viên sẽ được thực hiện bởi cả hai chủ thể là nhà trường và CSSX. Nội dung,
thời gian đào tạo mà mỗi chủ thể phải thực hiện tuỳ thuộc vào sự thoả thuận,
phân công ban đầu. Chương trình đào tạo của từng nghề, nguồn lực về tài chính,
nhân sự, cơ sở vật chất… của từng chủ thể là căn cứ để phân chia công việc mà
nhà trường hay CSSX phải thực hiện trong toàn khoá đào tạo. Thông thường,
việc đào tạo lý thuyết sẽ do nhà trường thực hiện còn phía CSSX sẽ đảm nhận
việc dạy thực hành. Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi bên trong quá
trình liên kết, việc tổ chức đào tạo sẽ có những biểu hiện cụ thể khác nhau hay
nói cách khác là hình thức đào tạo sẽ khác nhau.