1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TẠ THỊ DIỆU LÊ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC THANH
TRA TÀI CHÍNH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HOC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TẠ THỊ DIỆU LÊ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC THANH
TRA TÀI CHÍNH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày19 tháng 8 năm 2013
Tác giả
Tạ Thị Diệu Lê
4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ...............................................................................................................
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI ............................................... 6
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề........... .................................................. 6
1.2. Các khái niệm cơ bản.......................................................................................
1.3. Một số vấn đề về hoạt động thanh tra tài chính trong nhà trường trung học
phổ thông công lập................................................................................................
1.4. Thanh tra sở với việc quản lý công tác thanh tra tài chính các trường trung
học phổ thông công lập ....................................................................................... 28
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý công tác thanh tài chính ở các
trường trung học phổ thông công lập ...................................................................
Kết luận chương 1 ................................................................................................
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC THANH TRA TÀI
CHÍNH Ở CÁC TRƯỜNG TRUN...........G HỌC PHỔ THÔNG CÔNG LẬP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .......................................... 35
2.1. Giới thiệu về quá trình nghiên cứu thực trạng...............................................
2.2. Khái quát tình hình hoạt động tài chính ở các trường trung học phổ thông
công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.....................................................
2.3. Thực trạng công tác thanh tra tài chính ở các trường trung học phổ thông
công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ....................................................
2.4. Thực trạng quản lý công tác thanh tra tài chính tại các trường trung học
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................
PHỤ LỤC
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 về
“Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020” có xác định “Phát triển giáo dục
phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của
toàn dân. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nâng
cao vai trò các tổ chức, đoàn thể chính trị, kinh tế, xã hội trong phát triển giáo
dục. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển”, “Xây dựng xã hội học tập, tạo
cơ hội bình đẳng để ai cũng được học, học suốt đời, đặc biệt đối với người
dân tộc thiểu số, người nghèo, con em diện chính sách”. Và đề ra giải pháp để
tăng nguồn lực đầu tư và đổi mới cơ chế tài chính giáo dục, đó là “Tiếp tục
đổi mới cơ chế tài chính giáo dục nhằm huy động, phân bổ và sử dụng hiệu
quả hơn các nguồn lực của nhà nước và xã hội đầu tư cho giáo dục; nâng cao
tính tự chủ của các cơ sở giáo dục, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm
đối với Nhà nước, người học và xã hội”.
Trong hoạt động quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng, kiểm
tra, thanh tra là chức năng quan trọng giúp cho nhà quản lý xác định hệ quản
lý đang ở tình trạng nào để có giải pháp điều chỉnh cho phù hợp; kiểm tra,
thanh tra còn là cầu nối giữa nhà quản lý và đối tượng bị quản lý, là nơi diễn
ra quá trình thu nhận thông tin để hệ vận động và phát triển. Do đó, việc
nghiên cứu hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra là yêu cầu có tính cấp thiết
và liên tục.
Trong cơ chế thị trường hiện nay ở Việt Nam, sự nghiệp GDĐT đang
phát triển theo hướng xã hội hóa và đa dạng hóa mục tiêu, chương trình, loại
các cơ quan quản lý cần nghiên cứu, đặt vấn đề để giải quyết nghiêm túc các
vấn đề QLTC và nâng cao công tác QLTC của nhà trường.
Vì vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải pháp quản lý công tác
thanh tra tài chính ở các trường trung học phổ thông công lập trên địa bàn
8
thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, chuyên
ngành Quản lý giáo dục.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác thanh tra tài chính ở các
trường THPT công lập trên địa bàn TP.HCM, từ đó góp phần nâng cao hiệu
quả QLTC trên địa bàn.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quản lý công tác thanh tra tài chính ở các
trường THPT công lập.
- Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp quản lý công tác thanh tra tài chính
ở các trường THPT công lập trên địa bàn TP.HCM.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xác định và thực hiện được các giải pháp quản lý mang tính khoa
học, khả thi thì có thể nâng cao hiệu quả công tác thanh tra tài chính ở các
trường THPT công lập trên địa bàn TP.HCM.
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý công tác thanh tra tài chính ở
trường THPT công lập
- Nghiên cứu thực trạng quản lý công tác thanh tra tài chính ở các
trường THPT công lập trên địa bàn TP.HCM.
- Đề xuất và thăm dò tính cần thiết, khả thi một số giải pháp quản lý
thanh tra tài chính ở các trường THPT công lập trên địa bàn TP.HCM.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
bố trí trong 3 chương:
10
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác thanh tra tài chính tại
các trường THPT công lập
- Chương 2: Thực trạng quản lý công tác thanh tra tài chính ở các
trường THPT công lập trên địa bàn TP.HCM
- Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác thanh tra tài chính ở các
trường THPT công lập trên địa bàn TP.HCM
11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngày 29 tháng 10 năm 1988, Bộ Giáo dục (ngày nay là Bộ GDĐT) đã
ban hành Quyết định số 1019/QĐ ban hành quy định về tổ chức và hoạt động
hệ thống thanh tra giáo dục. Trải qua gần 25 năm hoạt động và phát triển,
thanh tra giáo dục đã từng bước phát triển vững mạnh với một hệ thống các
văn bản quy phạm pháp luật ngày càng cụ thể, chặt chẽ. Trong những năm
gần đây, thanh tra giáo dục hoàn thiện về nhiều mặt không chỉ quan tâm đến
các vấn đề liên quan đến hoạt động chuyên môn giáo dục mà còn quan tâm
đến sự ổn định trong hoạt động tài chính tại các cơ sở giáo dục.
Thực hiện Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg ngày 08/9/2006 của Thủ tướng
Chính phủ về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục, Bộ
- Quyết định số 32/2006/QĐ-BTC ngày 06 tháng 6 năm 2006 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính về ban hành Quy chế về hoạt động thanh tra, kiểm tra tài
chính.
- Quyết định số 64/2006/QĐ-BTC ngày 08 tháng 11 năm 2006 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính về Ban hành Quy trình thanh tra tài chính.
Đồng thời hoạt động TTTC chủ yếu là dựa vào các văn bản quy phạm
pháp luật quy định, hướng dẫn việc thực hiện hoạt động tài chính, kế toán áp
dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp như:
- Luật Ngân sách năm 2002;
- Luật Kế toán năm 2003;
- Nghị định số 128/2004/NĐ-CP ngày 21/5/2004 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán áp dụng
trong lĩnh vực kế toán nhà nước;
- Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính
phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ
chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập;
13
- Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Bộ Tài
chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4
năm 2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực
hiện nhiệm vụ, tố chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp
công lập;
- Và các văn bản khác hướng dẫn hoạt động tài chính, kế toán ở các
đơn vị sự nghiệp GDĐT, như: văn bản hướng dẫn thu chi học phí, thông tư
quy định chế độ công tác phí, chi trả lương làm thêm ngoài giờ, công khai tài
chính, tự kiểm tra tài chính, ...
Trước năm học 2008-2009, hoạt động TTTC được thực hiện dưới hình
- Tạ Duy Đăng với “Cẩm nang kế toán trường học”, 2003;
Và nghiên cứu về hoạt động thanh tra, kiểm tra tài chính như:
- Quang Anh – Hà Đăng đã nghiên cứu và xuất bản cuốn “Những điều
cần biết trong hoạt động thanh tra-kiểm tra ngành GDĐT”, 2003.
- Tăng Bình – Thu Huyền – Ái Phương với “Tra cứu các tình huống về
tổ chức hoạt động thanh tra, kiểm tra tài chính và những quy định mới nhất về
lập dự toán, quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước”, 2013.
Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ kinh tế hay thạc sỹ chuyên ngành
Quản lý giáo dục nghiên cứu về hoạt động QLTC, thanh tra toàn diện ở các
trường THPT công lập có đề cập đến vấn đề hoạt động tài chính cũng như
hoạt động thanh tra toàn diện nhà trường. Tuy nhiên, vẫn chưa có đề tài nào
nghiên cứu sâu về quản lý công tác TTTC ở các THPT công lập trên địa bàn
TP.HCM. Do vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu TTTC ở các trường THPT công
lập trên địa bàn TP.HCM là việc làm rất cần thiết.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Tài chính
1.2.1.1. Khái niệm tài chính
15
Theo từ điển Tiếng Việt: Tài chính là việc quản lý thu, chi tiền bạc
trong một tổ chức xã hội hay một nước [11, tr.751].
Theo tác giả Dương Đăng Chinh về khái niệm tài chính: Tài chính thể
hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội. Nó
phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối nguồn
tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng
các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội [8, tr.15].
Vậy, tài chính là việc quản lý sự vận động của hoạt động thu, chi tiền
bạc trong mọi chủ thể xã hội.
nước phục vụ cho hoạt động của các chủ thể ở khu vực đó. Tài chính phi nhà
nước gồm có: Tài chính các tổ chức xã hội và các quỹ có cùng tính chất; tài
chính các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm thuộc sở
hữu tư nhân; tài chính hộ gia đình [8, tr.52].
b) Phân loại theo mục đích sử dụng các nguồn tài chính cho lợi ích
công hay lợi ích tư, hệ thống tài chính được phân chia thành tài chính công và
tài chính tư.
- Tài chính công phục vụ cho lợi ích chung của toàn xã hội, của toàn
quốc, cả cộng đồng, không vì mục tiêu lợi nhuận. Thuộc về tài chính công có:
Ngân sách nhà nước; tài chính các cơ quan hành chính nhà nước, tài chính các
đơn vị sự nghiệp nhà nước; các quỹ tài chính nhà nước khác [8, tr.53].
- Tài chính tư phục vụ cho lợi ích của một nhóm người, một tập thể,
một tổ chức, lợi ích của kinh tế tư nhân, hộ gia đình. Thuộc về tài chính tư
gồm có: tài chính các doanh nghiệp; các ngân hàng thương mại, các công ty
bảo hiểm thuộc mọi loại hình sở hữu; tài chính các hộ gia đình; tài chính các
tổ chức xã hội [8, tr. 53].
1.2.1.4. Các hoạt động tài chính trong trường phổ thông
a) Xây dựng kế hoạch tài chính và lập dự toán
Hàng năm, Hiệu trưởng phải chỉ đạo xây dựng KHTC cho đơn vị. Phải
xác định việc thu chi trong nhà trường, như: thu những nguồn nào?; thu vào
thời gian nào?; chi những nội dung nào?, chi bao nhiêu?, … Việc lập KHTC
phải phù hợp với nhiệm vụ năm học và điều kiện của nhà trường. Việc lập
17
KHTC phải diễn ra cùng với việc lập dự toán. Hiệu trưởng chỉ đạo người phụ
trách kế toán lập dự toán theo năm tài chính. Hiệu trưởng có trách nhiệm
kiểm tra và tham gia vào việc lập dự toán.
Những căn cứ để lập dự toán:
- Sử dụng tài sản đúng mục đích, có hiệu quả.
- Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí;
- Công bằng trong đơn vị; khuyến khích tăng thu, tiết kiệm chi, thu hút
và giữ được những người có năng lực trong đơn vị.
Nguyên tắc, nội dung và phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ:
- Quy chế chi tiêu nội bộ do thủ trưởng đơn vị sự nghiệp ban hành sau
khi tổ chức thảo luận rộng rãi dân chủ, công khai trong đơn vị và có ý kiến
thống nhất của tổ chức công đoàn đơn vị.
- Quy chế chi tiêu nội bộ phải gửi cơ quan quản lý cấp trên (đối với
trường THPT công lập là Sở GDĐT) để theo dõi, giám sát thực hiện; gửi
KBNN nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch để làm căn cứ kiểm soát chi.
- Nội dung quy chế chi tiêu nội bộ bao gồm các quy định về chế độ,
tiêu chuẩn, định mức, mức chi thống nhất trong đơn vị, đảm bảo hoàn thành
nhiệm vụ được giao, phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị, sử dụng kinh
phí tiết kiệm có hiệu quả và tăng cường công tác quản lý.
- Đối với nội dung chi thuộc phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ
(chi quản lý, chi nghiệp vụ thường xuyên) đã có chế độ tiêu chuẩn, định mức
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, thủ trưởng đơn vị được quyết
định mức chi quản lý và chi nghiệp vụ cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quy định (đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm
một phần chi phí hoạt động).
19
- Đơn vị sự nghiệp không được dùng kinh phí của đơn vị để mua sắm
thiết bị, đồ dùng, tài sản trang bị tại nhà riêng hoặc cho cá nhân mượn dưới
bất kỳ hình thức nào (trừ điện thoại công vụ tại nhà riêng theo chế độ quy
định).
c) Hoạt động thu
sách nhà nước, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức có sử dụng
kinh phí ngân sách nhà nước và đơn vị sự nghiệp, tổ chức không sử dụng kinh
phí ngân sách nhà nước gồm:
- Bảng cân đối tài khoản;
- Báo cáo thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất, kinh
doanh;
- Thuyết minh báo cáo tài chính;
- Các báo cáo khác theo quy định của pháp luật, gồm: tổng hợp tình
hình kinh phí và quyết toán kinh phí sử dụng; báo cáo chi tiết kinh phí hoạt
động; báo cáo chi tiết kinh phí dự án; bảng đối chiếu dự toán kinh phí ngân
sách tại KBNN; bảng đối chiếu tình hình tạm ứng và thanh toán tạm ứng kinh
phí ngân sách tại KBNN; báo cáo tình hình tăng, giảm tài sản cố định; báo
cáo số kinh phí chưa sử dụng đã quyết toán năm trước chuyển sang.
g) Thực hiện lưu trữ sổ sách kế toán
Căn cứ Điều 1, Điều 4 Quyết định số 218/2000/QĐ-BTC ngày 29 tháng
12 năm 2000 của Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ lưu trữ tài liệu kế
toán. Tài liệu kế toán của niên độ kế toán đã kết thúc và không còn sử dụng
để ghi sổ kế toán trong niên độ kế toán tiếp theo, đưa vào lưu trữ chậm nhất là
12 tháng kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán.
21
Tài liệu kế toán phải bảo quản, lưu trữ theo quy định của Chế độ này là
bản chính các tài liệu kế toán được ghi chép trên giấy, có giá trị pháp lý về kế
toán, bao gồm: (i) Chứng từ kế toán, gồm: Chứng từ gốc và chứng từ ghi sổ;
(ii) Sổ kế toán, gồm: Sổ kế toán chi tiết, thẻ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng
hợp; (iii) Báo cáo tài chính; (iv) Tài liệu khác liên quan đến kế toán, là các tài
liệu ngoài các tài liệu nói trên, được dùng làm căn cứ để lập chứng từ kế toán;
các tài liệu liên quan đến hoạt động kinh tế (như hợp đồng kinh tế, hợp đồng
ngành:
- Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện
chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
- Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong
việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn, kỹ thuật,
quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó.
Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân thông quan Ban
thanh tra nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ
quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà
nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước.
1.2.2.2. Thanh tra giáo dục
a) Khái niệm thanh tra giáo dục
- Thanh tra giáo dục là thanh tra chuyên ngành, là việc điều tra, xem xét
tại chỗ, làm rõ những sự việc làm đúng, làm sai của các cơ sở giáo dục trong
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong lĩnh vực giáo dục nhằm thực hiện
mục tiêu đã đặt ra.
Thanh tra giáo dục nhằm phát hiện thực trạng, phòng ngừa, ngăn chặn
các hành vi sai phạm trong hoạt động GDĐT. Mặt khác, thanh tra giáo dục
23
cũng phát huy nhân tố tích cực, đồng thời giúp đối tượng thanh tra hoàn thành
tốt nhiệm vụ và chỉ thực hiện biện pháp xử lý khi cần thiết.
- Hoạt động thanh tra giáo dục sẽ giúp các đối tượng thanh tra nhận
thức một cách đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, nhận thức được vai trò
quan trọng của chính sách phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay, từ đó
kết luận, kiến nghị thanh tra, kiểm tra; các quyết định xử lý sau thanh tra,
kiểm tra.
- Xử lý theo thẩm quyền, hoặc kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính.
- Phát hiện, lập biên bản các hành vi vi phạm hành chính, đình chỉ,
quyết định theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền quyết định
xử phạt vi phạm hành chính.
- Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc xây dựng và thực hiện chương
trình, kế hoạch thanh tra, kiểm tra; việc chấp hành các quy định về công tác
thanh tra, kiểm tra của các cơ quan trong phạm vi quản lý của mình.
- Kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc
ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với quy định của pháp luật
và yêu cầu quản lý nhà nước về lĩnh vực tài chính.
1.2.3. Quản lý; quản lý công tác thanh tra tài chính
1.2.3.1. Quản lý
Quản lý được hiểu khác nhau tùy theo cách tiếp cận khác nhau của các
nhà nghiên cứu. Sau đây là 1 số quan niệm về quản lý:
- Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là việc trông nom, coi sóc giữ gìn
việc gì” [11, tr.751].
- Theo nhà quản lý Mary Parker Follet (1868-1933): Quản lý là nghệ
thuật đạt mục tiêu thông qua con người [10, tr.17].
25
- Theo Henry Fayol (1841-1925): Quản lý là một tiến trình bao gồm tất
cả các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nỗ lực của mỗi
thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức
nhằm đạt mục tiêu đã định trước [10, tr.17].
Về quản lý còn có nhiều khái niệm khác: