i
LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian hai năm được học tập, nghiên cứu về chuyên ngành quản lý giáo
dục tại trường đại học Vinh (khóa 19; 2011 – 2013), bản thân tôi đã được các thầy
giáo, cô giáo tận tâm giảng dạy, trang bị cho tôi những kiến thức quý báu để phục
vụ cho công tác của mình.
Với tình cảm trân trọng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với nhà trường,
Ban Giám Hiệu trường Đại học Vinh, phòng đào tạo sau đại học, ban chủ nhiệm
khoa, các thầy cô giáo khoa QLGD trường Đại học Vinh đã quan tâm giúp đỡ và tạo
điều kiện tốt cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn. Đặc biệt tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Hường, Người đã trực tiếp giúp
đỡ, tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn
thành đề tài luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, những người bạn đã có nhiều động viên,
quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do thời gian và năng lực có hạn nên chắc
rằng luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định. Vì vậy,
rất mong nhận được những góp ý, chỉ dẫn của quý thầy, cô và các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Nghệ An, tháng 06 năm 2013
Tác giả
Lô Văn Thiệp
ii
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu.
1. Lý do chọn đề tài. ............................................................................................ 1
3.2. Một số giải pháp quản lí hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở
huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. ...........................………………………........ 69
Giải pháp 1: Kế hoạch hóa quản lí HĐDH và tăng cường kiểm tra, giám sát
việc thực hiện quy chế chuyên môn của giáo viên và Tổ chuyên môn. .......... 69
Giải pháp 2: Bồi dưỡng phẩm chất, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư
phạm cho CBGV; .................................................................................... 74
Giải pháp 3: Chỉ đạo và thực hiện đổi mới PPDH, tăng cường ứng dụng CNTT
trong quá trình dạy học; ................................................................................ 78
Giải pháp 4: Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra và đánh giá kết quả dạy học;
......................................................................................................................... 82
Giải pháp 5: Tăng cường CSVC và sử dụng CSVC, trang thiết bị dạy học; ..85
Giải pháp 6: Đẩy mạnh công tác XHHGD, phát huy tiềm năng XHHGD cho
hoạt động dạy học. ......................................................................................... 88
3.3. Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp được đề xuất ...... 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ …………………………………………....... 93
1. Kết luận ........................................................................................................... 93
2. Kiế nghị .......................................................................................................... 94
2.1.
Đối vơi Bộ GD&ĐT ................................................................................ 94
2.2.
Đối với Sở GD&ĐT Nghệ An .................................................................. 95
2.3.
Đối với Huyện ủy- HĐND- UBND huyện Con Cuông ........................... 95
2.4.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
Bồi dưỡng thường xuyên
Cán bộ quản lí;
Cán bộ giáo viên, nhân viên;
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
Công nghệ thông tin;
Cơ sở vật chất;
Cần thiết;
Chuyên môn;
Chưa cần thiết;
Ban giám hiệu;
Đồ dùng dạy học;
Giáo dục và Đào tạo;
Giáo viên;
ĐDDH:
GD&ĐT:
GV:
HT:
HĐDH:
HĐGD:
KT:
KKT:
KTH:
KTX:
KHTN:
KHXH:
PHT:
PPCT:
QLGD:
RKT:
RTX:
THCS:
TTCM:
TX:
XHHGD
XHCN:
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
2.11
2.12
2.13
2.14
2.15
Đội ngũ CBGVNV các trường THCS huyện Con Cuông
Thống kế xếp loại chuyên môn của GV qua thanh tra..
Tình hình CSVC các trường THCS huyện Con Cuông
Thiết bị dạy học các trường THCS huyện Con Cuông.
Chất lượng giáo dục.
Thống kê số lượng học sinh giỏi khối lớp 9 hàng năm
Quản lí việc thực hiện kế hoạch chương trình dạy học.
Quản lí phân công giảng dạy cho GV.
Quản lí việc chuẩn bị kế hoạch bài dạy của GV.
Quản lí việc chuẩn bị kế hoạch bài dạy trên lớp của GV.
Quản lí sinh hoạt tổ chuyên môn.
Quản lí đổi mới PPDH
Quản lí hoạt động bồi dưỡng GV.
Quản lí hoạt động kiểm tra, đánh giá két quả học tập HS
Quản lí CSVC, trang thiết bị, phương tiện dạy học.
Tổng hợp kết quả thăm dò tính cần thiết và khả thi của
35
36
37
38
41
43
44
giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kỹ năng
cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân
cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công
dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên, hoặc đi vào cuộc sống lao động tham
gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [31].
Dạy học là hoạt động trung tâm của m ỗ i nhà trường, đội ngũ G V là lực
lượng quyết định chất lượng dạy và học. Nhiệm vụ của người GV là giáo dục,
giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lí, chương trình giáo dục để giúp HS phát huy tính
tích cực, chủ động sáng tạo, vận dụng kiến thức vào thực tiễn và hình thành những
tình cảm đạo đức tốt đẹp. Thời đại ngày nay, thời đại của công nghệ thông tin và
nền kinh tế tri thức thì sứ mạng của người GV càng nặng nề hơn bao giờ hết.
Người thầy không chỉ chuyển tải thông tin cho học sinh mà còn phải tổ chức,
điều khiển, hướng dẫn H S chủ động chiếm lĩnh tri thức. Vì vậy, vấn đề nâng cao
chất lượng giảng dạy của đội ngũ GV hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến
chất lượng giáo dục, đào tạo.
Yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, đổi mới hoạt động Giáo dục đòi hỏi
phải đổi mới hoạt động quản lý. Đổi mới quản lý trường học trở thành đòi hỏi cấp
bách, trong đó quản lí của Hiệu trưởng đối với hoạt động giáo dục của giáo viên là
vấn đề cơ bản, có tác động trực tiếp để nâng cao chất lượng giáo dục. Hoạt động
giáo dục của giáo viên mang tính độc lập song không thể thực hiện một cách
đơn lẻ mà là sự hợp tác lao động trong đội ngũ giáo viên. Để nâng cao chất lượng,
Hiệu trưởng các trường học nói chung và trường THCS nói riêng phải có những
giải pháp quản lý hoạt động dạy học phù hợp với điều kiện thực tế ở nhà trường
2
phổ thông. Công tác quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng có ý nghĩa rất
quan trọng và là một trong những nội dung cơ bản của quản lý trường học. Người
Hiệu trưởng có tâm, có tầm, có tinh thần trách nhiệm cao, biết cách quản lý toàn
3.2.
Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lí hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở
huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
4. Giả thuyết khoa học
Hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ở các trường THCS huyện Con Cuông sẽ
được nâng cao nếu đề xuất và thực hiện các giải pháp quản lý có tính khoa học, tính
khả thi.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở trường trung
học cơ sở.
5.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá, thực trạng về quản lý hoạt động dạy học ở
các trường THCS huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
5.3. Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý hoạt
động dạy học ở các trường THCS huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
6- Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động dạy
học ở các trường Trung học cơ sở.
7. Các phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp, phân
loại, hệ thống hóa các tài liệu liên quan nhằm xác lập cơ sở lý luận của đề tài nghiên
cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm: quan sát sư phạm, phương
pháp chuyên gia; điều tra (Điều tra bằng An-két; bằng phỏng vấn, trao đổi), phương
pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động, tổng kết kinh nghiệm giáo dục nhằm xác lập
cơ sở thực tiễn của đề tài.
7.3. Phương pháp thống kê toán học, tính tỷ lệ % để nhằm phân tích, xử lý số
liệu thu được qua điều tra.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở nước ngoài.
Trong lịch sử phát triển của giáo dục, từ thời cổ đại, ở các nước trên thế giới
nói chung và Việt Nam nói riêng, vấn đề dạy học đã được nhiều nhà triết học đồng
thời là nhà giáo dục ở cả phương Đông và phương Tây đề cập đến và đã thể hiện rõ
về những quan niệm, tư tưởng và đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị
theo cùng năm tháng đến hôm nay và mai sau để các thế hệ sau này tiếp tục nghiên
cứu, vận dụng, phát triển. Ngược thời gian, chúng ta cùng tìm hiểu lịch sử nghiên
cứu vấn đề, những quan niệm của các nhà triết học, nhà giáo dục học của một số
nước trên thế giới và Việt Nam.
Ở phương Tây, từ trước công nguyên, Xôcrat (469 - 339) đã quan niệm giáo
dục phải giúp con người tìm thấy và tự khẳng định chính bản thân mình. Ông cho
rằng để nâng cao hiệu quả dạy học cần có phương pháp giúp thế hệ trẻ từng bước tự
khẳng định, tự phát hiện tri thức mới mẻ, phù hợp với chân lí.
Đối với Platon (429 - 347 TCN) xác nhận vai trò tất yếu của giáo dục trong xã
hội, tính quyết định của chính trị đối với giáo dục.
Ở Phương Đông, nhà giáo dục học vĩ đại người Trung Hoa – Khổng Tử (551479 TCN) rất coi trọng mặt suy nghĩ tích cực của người học, quan niệm phương
pháp dạy học (PPDH) là dùng cách gợi mở, đi từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức
tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, phải hình thành nền nếp,
thói quen trong học tập. Tạo động lực thúc đẩy để người học tích cực tham gia học
tập, ham học hỏi, tìm tòi, khám phá những cái mới, biết vận dụng những gì đã học
được vào cuộc sống.
Đến cuối thế kỉ XVI, khi mà chủ nghĩa tư bản bắt đầu xuất hiện, vấn đề dạy
6
học và quản lý dạy học đã được nhiều nhà giáo dục thực sự quan tâm, nổi bật nhất
trong vấn đề này đó là Cômenxki (1952 - 1670). Ông đã đưa ra các nguyên tắc dạy
đội ngũ, chất lượng dạy và học, các nhà nghiên cứu đều cho rằng trong những
nhiệm vụ của HT thì nhiệm vụ hết sức quan trọng là xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ
GV. HT phải biết lựa chọn đội ngũ GV bằng nhiều nguồn khác nhau và có kế hoạch
bồi dưỡng họ trở thành những GV tốt có đủ phẩm chất và năng lực theo những tiêu
chí và các tiêu chuẩn nhất định bằng những biện pháp khác nhau; Chất lượng đội
ngũ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào
tạo HS. Người thầy có phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình, tâm huyết với nghề, có
phương pháp và năng lực chuyên môn vững vàng thì chắc chắn sẽ đào tạo ra được
các lớp thế hệ HS có đủ đức, đủ tài để cống hiến, xây dựng quê hương, đất nước.
Đối với công tác dự giờ, thăm lớp đồng nghiệp lẫn nhau thì việc tổ chức dự
giờ và phân tích sư phạm bài dạy của GV, tác giả V.A.Xukhomlinxki đã thừa nhận
tầm quan trọng của biện pháp này và chỉ rõ thực trạng yếu kém của việc phân tích
sư phạm bài dạy, cho dù hoạt động dự giờ và góp ý với GV sau giờ dự của HT diễn
ra thường xuyên. Từ thực trạng đó, tác giả đã đưa ra nhiều cách phân tích sư phạm
bài dạy của GV nhằm hướng tới mục đích, mục tiêu, cách thức tổ chức HĐDH phù
hợp với đặc trưng, đặc thù bộ môn, tâm sinh lý lứa tuổi HS từng cấp học, bậc học.
Ở Việt Nam:
Trước hết phải nói đến tư tưởng, quan điểm về giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí
Minh (1890 - 1969). Bằng việc kế thừa những tinh hoa của các tư tưởng giáo dục
tiên tiến và vận dụng sáng tạo phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, Người
đã để lại cho chúng ta những nền tảng lý luận về vai trò giáo dục, định hướng phát
triển giáo dục, mục đích dạy học, các nguyên lý dạy học, các phương thức dạy học,
vai trò của quản lý và cán bộ QLGD, phương pháp lãnh đạo và quản lý. Hệ thống
các tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục có giá trị cao trong quá trình
phát triển lý luận dạy học, lý luận giáo dục của nền giáo dục cách mạng Việt Nam
và những tư tưởng, quan niệm của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đã có
nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục Việt Nam nghiên cứu về quản lý nhà trường. Cố
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng yêu cầu: “Ngành giáo dục và đào tạo phải vũ
định: “Việc quản lý hoạt động dạy và học (hiểu theo nghĩa rộng) là nhiệm vụ quản
lý trung tâm của nhà trường” và “Người hiệu trưởng phải luôn luôn kết hợp một
cách hữu cơ quá trình dạy và học” [18].
9
Tác giả Hoàng Tâm Sơn thì quan tâm đến việc tổ chức các hoạt động khoa học
cho GV để phát huy yếu tố nội lực của chính đội ngũ [33]. Tác giả Nguyễn Văn Lê
tập trung nghiên cứu công tác bồi dưỡng đội ngũ GV về tư tưởng chính trị, về
chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao năng lực giảng dạy cho họ [25].
Năm 2001, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã cho xuất bản tuyển tập
“Giáo dục học- Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” của cố giáo sư Hà Thế Ngữ
(1929 - 1990). Trong công trình này, thông qua việc trình bày về đối tượng nghiên
cứu và cấu trúc của khoa học QLGD, các khái niệm cơ bản của lí luận QLGD,
những nguyên tắc QLGD và những qui luật giáo dục, tác giả đã giới thiệu nhiều tri
thức về phương pháp luận nghiên cứu hiệu quả giáo dục và dạy học.
Đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là mục tiêu phải đạt được
của HĐDH và quản lý HĐDH. Trong các nhà trường, đây là công việc chiếm một
thời gian lớn và khó khăn nhất của người HT, bởi làm chất lượng không phải một
sớm, một chiều là có thể thực hiện được ngay mà là cả một quá trình lâu dài, thường
xuyên, bền bỉ và phải có kế hoạch khoa học và một lộ trình hợ lý. Cùng với sự phát
triển và hội nhập, hiện nay nhiều nhà QLGD đã thể hiện luận văn thạc sỹ nghiên
cứu về vấn đề quản lý trường học, chủ yếu là công tác quản lý của HT ở trường học
nói chung và các trường THCS nói riêng, để tìm ra các biện pháp quản lý đạt hiệu
quả. Các nhà nghiên cứu đã quan tâm nhiều đến việc nâng cao trình độ nghiệp vụ
quản lý của HT, CBQL và đưa ra các giải pháp chung nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học ở các trường THCS trên địa bàn các huyện, tỉnh, thành phố trên cả nước.
Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã nêu lên vai trò của người
CBQL và GV trong thời kì CNH,HĐH đất nước và đối với sự nghiệp phát triển
Học là một hoạt động trong đó HS là chủ thể, khái niệm khoa học là đối tượng
chiếm lĩnh tri thức. Học là quá trình tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh tri thức dưới sự
điều khiển sư phạm của GV.
“Học là thừa hưởng những giá trị mà thế hệ trước để lại”. Những giá trị đó là
nguyên liệu, người học phải chế biến những giá trị đó theo những qui trình nhất
định, biến nó thành tài sản cá nhân. Trong quá trình chế biến đó, nhân cách con
người đuợc hình thành và phát triển. Học tập ở HS phổ thông không phải là nhồi
nhét, phải làm sao việc học trở thành một bộ phận của đời sống tâm hồn phong phú
của HS, là nhu cầu của chúng, có tác dụng thúc đẩy làm cho trí tuệ HS thêm giàu
11
có. “Học tốt” có nghĩa là người học biết tận dụng, nghiên cứu, khai thác thêm
những kiến thức qua sự giảng dạy và hướng dẫn của GV từ đó mà tự lực tổ chức
việc lĩnh hội kiến thức của bản thân.
Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là quá trình tác động
qua lại giữa thầy và trò nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, kinh nghiệm
xã hội, kỹ năng, kỹ xảo, hoạt động nhận thức thực tiễn, trên cơ sở đó hình thành thế
giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng các phẩm chất của cá nhân
người học.
Tóm lại: Dạy học là một quá trình, trong đó dưới tác động chủ đạo (Tổ chức,
điều khiển, lãnh đạo) của thầy, HS tự giác, tích cực tổ chức tự điều khiển hoạt động
nhận thức, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học. Để đạt được mục đích dạy
học, người dạy và người học đều phải phát huy các yếu tố chủ quan của cá nhân
(phẩm chất, năng lực); để xác định nội dung, lựa chọn phương pháp, tìm kiếm các
hình thức, nội dung được thực hiện tuân theo sự quản lý, điều hành của các cấp
QLGD, theo kế hoạch thống nhất, có sự tổ chức và được kiểm tra đánh giá. Nói
cách khác, trong quá trình dạy học xuất hiện sự lao động chung của nhóm: Người
quản lý, người dạy và người học. Mối quan hệ giữa các HĐDH là mối quan hệ biện
phát triển, quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển các hoạt động xã
hội. Xã hội loài người trải qua nhiều chế độ chính trị xã hội khác nhau, mỗi chế độ
khác nhau, có một phương thức sản xuất khác nhau, phương thức sản xuất sau phát
triển hơn phương thức sản xuất trước, con người thế hệ sau tiến bộ và văn minh hơn
thế hệ trước, nó kéo theo trình độ quản lý ngày càng cao làm cho năng suất lao động
ngày càng tăng, làm cho xã hội ngày càng phát triển tiến bộ. Vậy quản lý là một
dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với lịch sử phát triển của loài
người. Quản lý là một dạng lao động đặc biệt điều khiểu các hoạt động lao động, nó
có tính khoa học và nghệ thuật cao, nhưng đồng thời nó là sản phẩm có tính lịch sử,
tính đặc thù của xã hội.
Theo yếu tố chính trị xã hội: Quản lý còn là sự kết hợp giữa tri thức với lao
động, quản lý còn được xem là tổ hợp các cách thức, phương pháp tác động vào đối
tượng để phát huy khả năng của đối tượng nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
- Theo yếu tố hành động: Quản lý là quá trình điều khiển, chủ thể quản lý điều
13
khiển đối tượng quản lý để đạt tới mục tiêu đặt ra.
- Thuật ngữ quản lý (từ Hán Việt) nêu rõ bản chất của hoạt động này trong
thực tiễn, nó gồm hai mặt tích hợp vào khâu từ “Quản” và từ “Lý”.
- “Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. “Lý”
là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Như vậy “Quản lý” là sự trông coi,
chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển.
- Có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nội dung, thuật ngữ
“quản lý”.
Theo những cách tiếp cận khác nhau, khái niệm quản lý được các nhà khoa
học định nghĩa một cách khác nhau. Chính sự đa dạng về cách tiếp cận dẫn đến sự
phong phú về các quan niệm quản lý. Sau đây xin đưa ra một vài khái niệm như sau:
- Khái niệm quản lý của các tác giả nước ngoài:
- Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua
những nỗ lực của người khác.
- Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự
khác nhau cùng chung một tổ chức.
- Quản lý là những tác động có mục đích lên những tập thể người, thành tố cơ
bản của hệ thống xã hội.
- Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.
Từ những điểm chung của các định nghĩa trên ta có thể hiểu: Khi nói đến khái
niệm Quản lý chúng ta đề cập đến năm yếu tố: Chủ thể quản lý, khách thể quản lý,
mục tiêu, phương pháp và công cụ quản lý. Để xác định chủ thể quản lý ta trả lời
câu hỏi “ ai quản lý”; có thể là một người hoặc một tập thể người. Để xác định
khách thể quản lý ta trả lời câu hỏi “ quản lý ai; quản lý cái gì và quản lí vấn đề gì”.
Ngày nay, quản lý được xác định là một trong năm nhân tố phát triển KT-XH:
Nguồn vốn, nhân lực, tài nguyên, công nghệ và quản lý, trong đó quản lý có vai trò
mang tính quyết định sự thành công.
Ta có thể khái quát rằng: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng
đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các
tiềm năng, các cơ hội của tổ chức, làm cho hệ thống vận hành đạt được mục tiêu đã
15
đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
1.2.2.2. Quản lí giáo dục
Đề cập đến khái niệm QLGD, các nhà nghiên cứu lý luận giáo dục đưa ra
nhiều quan điểm khác nhau, có thể nêu một số quan điểm sau:
Theo M.I. KônđaKốp: “QLGD là tập hợp những biện pháp kế hoạch hoá
nhằm đảm bảo vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để
tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng” [22].
+ Theo PGS.TS Trần Kiểm: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý
quản lý nhà trường cũng được chuyên biệt hóa.
Theo PGS.TS Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối
giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành
theo nguyên lý giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và
từng học sinh” [17].
Theo PGS.TS Thái Văn Thành: Quản lý nhà trường là quản lý vi mô, nó là một
hệ thống con của quản lý vĩ mô. QLGD, quản lý nhà trường có thể hiểu là một
chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ
chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ GV và HS, đến những lực
lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối
hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận
hành tối ưu để đạt được những mục tiêu dự kiến. Quản lý nhà trường bao gồm hai
loại: Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường, tác
động của những chủ thể quản lý trên, trong nhà trường [34].
Theo tiến sĩ Nguyễn Phúc Châu thì cho rằng: Với hai cấp độ về quản lý giáo
dục, quản lý nhà trường cũng được nhìn nhận từ hai góc độ:
- Thứ nhất: Quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa hoạt động của các cơ
quan quản lý Giáo dục như: Bộ Giáo dục và Đào Tạo, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT
và các cấp chính quyền (Đơn vị hành chính từ Trung Ương đến địa phương) đối với
một cơ sở Giáo Dục (nhà trường) cụ thể nào đó.
- Thứ hai: Quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa hoạt động của chủ thể
quản lý một cơ sở giáo dục (HT hoặc người có chức vụ tương đương như HT). Đối
với các hoạt động của cơ sở giáo dục mà họ được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý.
17
Do đó, quản lý nhà trường được hiểu theo góc độ thứ hai. Cụ thể quản lý nhà
trường là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có khoa học, có hệ thống
và hợp quy luật) của chủ thể quản lý nhà trường (Hiệu trưởng) đến khách thể quản
18
Quản lý hoạt động dạy học chính là điều khiển quá trình dạy học, cho quá trình
đó vận hành có khoa học, có tổ chức theo những quy luật khách quan và được sự chỉ
đạo, giám sát thường xuyên nhằm thực hiện mục tiêu dạy học.
Quản lý HĐDH là quá trình người HT, lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, kiểm
tra hoạt động dạy của GV, học tập của HS nhằm thực hiện được mục tiêu đã đề ra.
Trong toàn bộ quá trình quản lý nhà trường thì quản lý HĐDH của người HT là một
trong những hoạt động quan trọng nhất. Người HT phải biết tổ chức điều hành các
hoạt động, tạo điều kiện để cho GV và HS thực hiện tốt quá trình dạy học, hướng
dẫn, áp dụng hài hòa các phương pháp, sử dụng tốt các phương tiện và điều kiện
CSVC hiện có, áp dụng linh hoạt các hình thức dạy học, kết hợp phương thức kiểm
tra, đánh giá kết quả dạy học tốt nhất để mới nâng cao chất lượng dạy học.
1.2.3. Giải pháp, giải pháp quản lý hoạt động dạy học
1.2.3.1. Giải pháp
Giải pháp là: “Cách giải quyết một vấn đề, tìm giải pháp cho từng vấn đề”. Như
vậy, giải pháp là cách thức giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó, là cách thức tác động
nhằm làm thay đổi chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định
nhằm đạt được mục đích, kế hoạch đề ra. Giải pháp càng thích hợp, càng tối ưu, càng
giúp giải quyết nhanh chóng vấn đề đặt ra. Để có giải pháp khả thi, phù hợp phải được
xuất phát từ những cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn tin cậy.
1.2.3.2. Giải pháp quản lý HĐDH
Giải pháp quản lý HĐDH là hệ thống cách thức tác động của chủ thể quản lý
vào các hoạt động dạy và học, làm cho quá trình này diễn ra đúng mục tiêu dự kiến.
Giải pháp quản lý HĐDH bao gồm các tác động hướng đích vào các thành tố cấu
trúc quá trình dạy học; quản lý về chương trình; quản lý quá trình truyền thụ kiến
thức của GV, việc thực hiện chương trình dạy học, kế hoạch của nhà trường, các tổ
19
20
8. Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục.
9. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Trường THCS có vị trí, chức năng và nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong hệ
thống và sự nghiệp giáo dục. Trường THCS Giáo dục học sinh có độ tuổi từ 11 đến
15. Lứa tuổi “chưa phải là người lớn nhưng không còn là trẻ con”, lứa tuổi biết rung
động trước cái đẹp, trước bạn khác giới. Lứa tuổi hiếu động, thích khám phá bản
thân, khám phá sự vật hiện tượng xung quanh. Do đó trường THCS là môi trường
giáo dục, bồi đắp kiến thức phổ thông cho các em định hướng phát triển hoàn thiện
nhân cách bản thân, tạo tiền đề để các em có thể tiếp tục học lên THPT hoặc đi vào
cuộc sống.
1.3.2. Đặc điểm, bản chất hoạt động dạy học
1.3.2.1. Đặc điểm của HĐDH ở trường THCS
Khác với bậc học Tiểu học, về hoạt động dạy và học ở bậc học THCS là mỗi
bộ môn trong một lớp, hoặc một khối sẽ được một GV trực tiếp giảng dạy đúng
chuyên môn được đào tạo ở trường sư phạm. Do vậy, HS trong một lớp sẽ chịu tác
động của nhiều GV trong những bộ môn khác nhau. Nội dung, phương pháp dạy và
học cũng có những thay đổi cụ thể.
1.3.2.2. Bản chất của hoạt động dạy học
Bản chất của HĐDH là hoạt động nhận thức độc đáo của người học dưới vai
trò tổ chức nhận thức của GV nhằm thực hiện tốt các mục tiêu về giáo dục và đào
tạo của nhà trường. HĐDH có tính hai mặt:
Dạy và học là loại hình hoạt động hai chiều, nó đòi hỏi nhất thiết phải có tác
động qua lại giữa GV và HS. Tác động này diễn ra trong những điều kiện nhất định
(điều kiện vật chất – học tập, điều kiện vệ sinh, điều kiện tâm lí, đạo đức, thẩm mĩ).
Dạy và học không thể thiếu hoạt động đồng thời của GV và HS, không thể thiếu sự
tác động qua lại biện chứng giữa đôi bên. Nếu sự tích cực truyền đạt của GV mà
không có sự tích cực tiếp thu kiến thức của HS, nếu GV không bảo đảm động viên