BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I
- -----------------
HỒ VĂN LỢI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
CANH TÁC SẮN TRÊN ðẤT DỐC TẠI TÂY NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN THẾ HÙNG
HÀ NỘI - 2007
LỜI CAM ðOAN
- Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn
này ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn ñều ñã ñược ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả
Hồ Văn Lợi
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………i
1.
Lời cam ñoan
i
Lời cám ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt
v
Danh mục bảng
vi
Danh mục hình
viii
MỞ ðẦU
1
2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn tại Việt Nam
24
2.4. Thực trạng trồng sắn ở vùng Tây Nguyên
28
3.
30
NỘI DUNG, ðỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu
30
3.2. ðối tượng và vật liệu nghiên cứu
30
3.3. Phương pháp nghiên cứu
30
4.
35
46
4.2.3. ðường kính thân
49
4.3. Ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật canh tác ñến các yếu tố
cấu thành năng suất
52
4.3.1. Số củ/gốc
52
4.3.2. Khối lượng củ/gốc
53
4.3.3. ðường kính củ
54
4.3.4. Năng suất
56
4.3.5. Hàm lượng tinh bột
59
4.6.2. Kết quả mô hình vùng Ea Kar
76
5.
81
KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ
5.1. Kết luận
81
5.2. ðề nghị
82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
83
PHỤ LỤC
88
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
:
Viện nghiên cứu nông nghiệp nhiệt ñới quốc tế
IRAT
:
Viện nghiên cứu cây nhiệt ñới của Pháp
Sau TN
:
Sau thí nghiệm
SPSS
:
Phần mền xử lý thông kế SPSS
STT
:
Số thứ tự
Tntb
:
Ẩm ñộ trung bình
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………v
DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1.
Kết quả của sự phát triển củ sau 16 tuần lễ
7
2.2.
Ảnh hưởng của chế ñộ mưa ñến năng suất sắn
8
2.3.
Tình hình sản xuất sắn của Việt Nam giai ñoạn 2000 - 2006
25
2.4.
Diễn biến tiêu dùng sắn trong nước qua các năm
38
4.5.
Các loại ñất chính huyện Ea Kar
40
4.6.
Diện tích ñất theo các ñộ dốc và tầng dày huyện Ea Kar
41
4.7.
Các ñặc trưng khí hậu tại Ea Kar
42
4.8.
Ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật canh tác ñến tỉ lệ mọc của
hom sắn sau 20 ngày trồng (%) và tỉ lệ sống của cây sắn sau 40
ngày trồng
4.9.
45
4.15. Ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật canh tác ñến hàm lượng
tinh bột trong củ sắn
59
4.16. Chi phí cho cây trồng chính và cây trồng xen huyện ðak Song
60
4.17. Chi phí cho cây trồng chính và cây trồng xen huyện Ea Kar
60
4.18. Thu nhập từ cây sắn và cây ñậu ñen
61
4.19. Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng sắn
63
4.20. Năng suất chất xanh của cây trồng xen
64
4.21. Ảnh hưởng các biện pháp kỹ thuật canh tác sắn ñến lượng ñất bị
xói mòn
66
75
4.30. Một số tính chất ñất trước và sau thí nghiệm của các mô hình
trồng sắn ở ðak Song
76
4.31. Một số chỉ tiêu sinh trưởng và yếu tố cấu thành năng suất của
các mô hình trồng sắn ở Ea Kar
4.32. Năng suất và hiệu quả kinh tế của các mô hình trồng sắn ở Ea Kar
77
79
4.33. Một số tính chất ñất trước và sau thí nghiệm của các mô hình
trồng sắn ở Ea Kar
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………vii
80
DANH MỤC HÌNH
4.1.
Diễn biến lượng mưa tại ðak Song và Ea Kar
44
4.2.
Năng suất và hiệu quả kinh tế của các mô hình trồng sắn
79
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………viii
1. MỞ ðẦU
1.1. Tính cấp thiết của ñề tài
Cho ñến nay sắn vẫn là cây lương thực cần thiết ñối với người và gia
súc, là nguyên liệu quan trọng cho nhiều ngành công nghiệp.
Tây Nguyên, với ñiều kiện diện tích ñất ñai rộng lớn, khí hậu thuận lợi
cho trồng trọt nên ngoài việc phát triển cây công nghiệp, ñây còn là nơi có
tiềm năng phát triển cây sắn với qui mô lớn. Sắn là cây chịu hạn tốt, năng suất
sinh vật khá cao, thích hợp với hầu hết các loại ñất ñồi. Tuy nhiên, sắn là cây
ñược trồng thưa, tán mỏng, rễ ăn nông, ít có tác dụng chống xói mòn ñất; Về
hàm lượng dinh dưỡng, cây sắn trả lại cho ñất không ñáng kể nhưng lại hút từ
ñất một lượng dinh dưỡng lớn. Trong khi ñó ñịa hình Tây Nguyên chủ yếu là
ñồi núi, ñộ dốc cao, lượng mưa tập trung, cường ñộ mưa lớn nên mức ñộ xói
mòn xảy ra ở ñây rất mạnh làm suy thoái ñộ phì nhiêu của ñất, ảnh hưởng xấu
tới sinh trưởng phát triển và năng suất nhiều loại cây trồng trong ñó có cây
sắn. Tập quán canh tác sắn của người dân Tây Nguyên chủ yếu theo kiểu bóc
lột ñộ phì nhiêu tự nhiên của ñất. Việc bồi dưỡng ñất bằng các yếu tố phân
bón vẫn còn khá khiêm tốn, nên xu hướng sụt giảm ñộ phì nhiêu ñất ñã và
ñang diễn ra ở mức báo ñộng.
Việc nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp chống thoái hóa bạc màu,
bảo vệ ñộ phì nhiêu ñất trồng sắn ñã ñược tiến hành rất có hiệu quả trên thế
giới cũng như nhiều ñịa phương ở nước ta. Song ñối với vùng Tây Nguyên về
lĩnh vực này chưa ñược các nghiên cứu ñầy ñủ. Vai trò khoa học kỹ thuật
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cây sắn - giới thiệu chung
2.1.1. Nguồn gốc và phân loại
Cây sắn có tên khoa học là Manihot esculenta Crantz. Nhiều tài liệu
nghiên cứu cho biết sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt ñới của Châu Mỹ La Tinh
(Crantz, 1976), và ñược trồng cây ñây khoảng 5000 năm (CIAT, 1993) [10].
Các nghiên cứu về nguồn gốc cây sắn cho rằng trung tâm phát sinh cây
sắn ñược giả thuyết tại ñông bắc Braxin thuộc khu vực sông Amazon, nơi có
nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại. Trung tâm phát sinh phụ có thể là
Mêxico, Trung Mỹ và ven biển phía Bắc Nam Mỹ, bằng chứng là những di
tích khảo cổ ở Venezuela niên ñại 2.700 trước công nguyên, những lò nướng
bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía bắc Columbia niên ñại khoảng 1.200
trước công nguyên, những hạt tinh bột trong phân hóa thạch ñược phát hiện
tại Mêxico có tuổi khoảng năm 900 ñến năm 200 trước công nguyên (Rogers
1963, 1965).
Theo tài liệu của Phạm Văn Biên và Hoàng Kim, (1996) cây sắn ñược
người Bồ ðào Nha ñưa ñến trồng ở Châu Phi vào thế kỷ XVI, ở Châu Á sắn
ñược trồng ñầu tiên ở ấn ðộ vào khoảng thế kỷ thứ XVII (P.G. RayJendron et
al, 1995) và ñược ñưa ñến Srilanka ñầu thế kỷ XVIII, sau ñó sắn ñược trồng ở
Trung Quốc, Myanma và các nước Châu Á vào khoảng thế kỷ XVIII ñầu thế
kỷ XIX và du nhập vào Việt Nam vào khoảng giữa thế kỷ XVIII [10].
Về phân loại có nhiều ý kiến khác nhau, ñến nay ñã thống nhất rằng:
cây sắn trồng (Manihot Esculenta Crantz) thuộc lớp 2 lá mần, chi Manihot, họ
thầu dầu (Euphobiaceae), bộ ba mảnh vỏ Euphobiales. Tất cả các loài trong
chi ñều có số lượng nhiễm sắc thể 2n = 36.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………3
2.1.2. ðặc ñiểm hình thái và ngoại hình lý tưởng của cây sắn
Lá ñơn, lá phân thùy sâu, lá mọc so le xếp trên thân có hình xoắn ốc. Lá
chóng rụng. Dạng lá, tai lá, màu sắc lá non, màu sắc cuống lá là những ñặc
tính quan trọng ñể nhận biết giống. Mặt trên lá có rất nhiều khí khổng, với số
lượng khổng 700 lổ/mm2, những ñặc tính này giúp cho cây sắn có khả năng
quang hợp cao và rất hiệu quả, ñặc biệt có khả năng quang hợp tốt trong ñiều
kiện khô hạn kéo dài.
2.1.2.4. Hoa – Quả
Hoa sắn là hoa ñơn tính, hoa ñực và hoa cái nằm trên cùng chùm hoa.
Hoa cái thường ít, mọc ở dưới cụm hoa và nở trước. Hoa ñực có số lượng
nhiều hơn. Hoa ñực nhỏ hơn hoa cái và mọc ở phía trên và nở sau. Một số
nghiên cứu cho rằng có một số giống sắn có hoa lưỡng tính (Ninnan và
Abraham, 1972) [7], cũng không phải các giống sắn ñều có hoa. Tập tính ra
hoa của sắn phụ thuộc rất nhiều vào ñặc tính giống và ñiều kiện sinh thái nơi
trồng.
Ở nước ta, sắn trồng ở miền Nam thường có nhiều hoa hơn ở miền Bắc.
ðặc biệt vùng ðức Trọng (Lâm ðồng), sắn rất dễ ra hoa và tỷ lệ ñậu hoa cao
hơn các vùng khác (Phạm Văn Biên và Hoàng Kim, 1996) [10].
Quả sắn là loại quả mọng, quả chia 3 ngăn, mỗi ngăn có một hạt. Vỏ
hạt cứng, khó thấm nước, hạt có dầu nên khó bảo quản. Hạt sắn ñược quan
tâm nhiều trong công tác chọn giống.
Tỷ lệ mọc của hạt bị giảm nhiều khi thời gian lưu trữ tăng và giữ hạt ở
nhiệt ñộ 20 - 300C tốt hơn ở nhiệt ñộ thấp hơn (P. Silvestrre và Marrandcan,
1978 [7].
2.1.3. Sinh thái cây Sắn
Sắn ñược coi là cây dễ tính, có khả năng thích ứng lớn với các ñiều
kiện rất khác nhau và thường bất lợi cho các loại cây trồng khác.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………5
Bảng 2.1. Kết quả của sự phát triển củ sau 16 tuần lễ
Giờ chiếu sáng/ngày
Trọng lượng củ (g)
Trọng lượng cây (g)
8
75
18
14
30
47
20
35
41
Nguồn: Lowe và cộng sự, 1976
Người ta chưa rõ ảnh hưởng của chu kỳ ánh sáng ñến sự ra hoa. Theo
Brulin (1977) ngày dài thúc ñẩy sự phân hoá hoa. Tuy nhiên những thông tin
về vấn ñề này xuất phát từ sự quan sát ñược thực hiện trong ñiều kiện sản xuất
Bốc
nước
nước
thoát hơi
thừa
thiếu
nước
(mm)
(mm)
ETP
(mm)
12
917
922
886
0
12
929
988
910
0
12
1.158
1.034
691
123
18
2.020
1.757
993
14,0
41,2
14,9
Số
tháng
thiếu
nước
(tháng)
7
8
7
10
7
13
Qua bảng trên cho thấy rõ một ñiều là: sắn có thể cho năng suất cao
mặc dù lượng bốc hơi nước nhiều hơn mưa. Có lẽ không phải là thiếu nước
nhiều quan trọng hơn mà là số lần thiếu, số tháng thiếu nước ảnh hưởng lớn
hơn ñến năng suất sắn. Năng suất cao nhất trong trường hợp số tháng thiếu
nước so với thời gian sinh trưởng thấp nhất.
Mặc dù số liệu chưa chính xác nhưng có lẽ sự luân phiên những thời
gian mưa nhiều và khô hạn dẫn ñến sự kìm hãm sinh trưởng tiếp theo sự tăng
tốc ñộ sinh trưởng của thân lá tạo những ñiều kiện bất thuận nhất cho năng
suất cao. Trong thực tế, sắn ít ñược tưới nước. Những thí nghiệm tưới nước
cho sắn, năng suất thường tăng lên rất nhiều [7].
2.1.2.4+ Yếu tố thổ nhưỡng và phân bón
- Thổ nhưỡng
Người ta thường trồng sắn trên những loại ñất rất khác nhau như: phù
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………9
khác tuỳ theo ñiều kiện môi trường mà khả năng hút N, P và nhất là K bị thay
ñổi mạnh mẽ. Vì vậy lấy ñi nhiều khoáng chất không nhất thiết là sẽ cho năng
suất cao, và ở ñất tốt, cây sắn lấy ñi một lượng thừa thãi các yếu tố ña lượng,
nhất là kali (P.Silvestre, M.Arraudeau, 1986) [7]. Khi trả lại cho ñất thân,
cành, lá... trung bình 1 tấn củ tươi lấy ñi một lượng chất khoáng tương ñương:
N = 2 kg, P2O5 = 1 kg; K2O = 4,5 kg; CaO = 0,7 kg; MgO = 0,5 kg.
Vai trò của các chất khoáng trong từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển
của cây sắn.
+ ðạm: Cần thiết cho sự cấu thành vật chất sống (Protein). Các bộ phận
như thân, cành, lá, (nhất là lá non) rất giàu ñạm.
Nhìn chung cây sắn phản ứng rất mạnh với phân ñạm, tới một lượng tối
thích nào ñó còn phụ thuộc vào mức ñộ cung cấp các dinh dưỡng khác. Cao
hơn mức tối thích, ñạm thúc ñẩy sự phát triển thân lá, hạn chế sự phát triển
của củ, tăng tỷ lệ HCN (Acid Cyanhydric) của cả củ và cây, ñồng thời làm
giảm hàm lượng tinh bột trong củ.
Thời gian ñòi hỏi nhiều nhất của cây sắn là lúc phát triển cành, lá,
thường là sau thời kỳ chiếm chỗ, vì vậy phải bón ñạm khi trồng và ñặc biệt là
bón thúc.
+ Lân: Là một trong những thành phần quan trọng của tế bào sống, ñặc
biệt các trong thành phần Nucleoprotein và phospholipid. Lân giúp cho quá
trình phosphorin hoá cabohydrat diễn ra nhanh và hiệu quả hơn và biến chúng
thành tinh bột. ðó là những chất hết sức quan trọng cho cây sắn nhưng chỉ
cần một lượng nhỏ và cây sắn có thể sử dụng tốt lượng lân dự trữ nhỏ trong
cây trong lúc các cây trồng khác thì nhất thiết phải bón.
+ Kali: ðóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hydratcacbon từ
thân lá về rễ (củ), ñây chính là lý do quan trọng nhất của việc bón kali cho cây
là bảo tồn ñộ phì nhiêu của ñất và chống xói mòn với mục ñích tăng cường
tính bền vững của sản xuất sắn ở Châu Á.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………11
Tại Châu Á, sắn ñược xem là ñiểm sáng trong tương lai trong việc sản
xuất Ethanol, là sản phẩm thay thế cho nguyên liệu hoá thạch, công nghiệp
tinh bột và sản xuất thức ăn gia súc [35].
Với mục tiêu là cải tiến tiêu chuẩn sống và quản lý bền vững nguồn tài
nguyên thiên nhiên của vùng Châu Mỹ La Tinh và Caribbean, ñây là nơi sắn
ñóng vai trò quan trọng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp. Tổng quan,
chuyển giao, chia sẽ kỹ thuật, thông tin và các kiến thức khoa học giữa các cơ
quan nghiên cứu quốc gia, tư nhân và nhóm nông dân. Một phương pháp ñổi
mới là phát triển vật liệu nhân nhanh giống sắn, là phương pháp dùng 1 chồi
và 2 chồi rút ngắn thời gian trồng khi kết hợp việc sử dụng ñồng ruộng và nhà
lưới, phương pháp này ñã ñược kiểm nghiệm và cho kết quả rất tốt ở 3 vùng
khác nhau (Columbia, Negeria và Nam phi). Phương pháp này ñã chứng minh
cho chiến lược sản xuất giống sắn lớn trong thời gian ngắn là có ý nghĩa. Tuy
nhiên, Tổ chức hỗ trợ nghiên cứu phát triển sắn của Châu Mỹ La Tinh và
Caribe (CLAYUCA) tiếp tục ñánh giá ảnh hưởng của việc nhân giống nhanh
trên qui mô nhỏ ñến năng suất sắn, kết quả sơ bộ ñã chứng tỏ việc nhân giống
này có lẽ là không có ý nghĩa. Do vậy về cơ bản có thể thực hiên việc nhân
giống sắn nhanh, ñặc biệt là khi nông dân ñang cần mở rộng việc trồng các
giống sắn mới [36].
Từ năm 1981, chương trình canh tác sắn Châu Á ñã hình thành một
mạng lưới các nhà nông học sắn ở các quốc gia khác nhau thuộc Châu Á,
những nhà khoa học trong các chương trình quốc gia ñã tiến hành các thí
nghiệm về quản lý ñất và nông học trong sự hợp tác với CIAT, nhấn mạnh
chủ yếu vào sự duy trì ñộ phì nhiêu của ñất và chống xói mòn. Kết quả của
trọng trong công việc của trung tâm sắn và thức ăn gia súc tại Châu Á, là
chuyển giao công việc nghiên cứu ñến các hộ sản xuất nhỏ [30].
Trong nghiên cứu chuyên sâu về chăm sóc sắn và ảnh hưởng ñối với
khả năng sản xuất của ñất trong khu vực Châu Á theo Howeler [20] cho rằng:
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………13
Nhu cầu dinh dưỡng cần thiết của ñất sắn cho một ñơn vị sản xuất chất khô
thấp hơn rất nhiều so với hầu hết các loại cây trồng khác ngoài trừ kali. Thực
tế, sắn là loại cây trồng sử dụng các chất dinh dưỡng của ñất rất cao, ñặc biệt
là kali trong ñiều kiện ở dưới mức thích hợp. Cũng theo Howeler việc tiếp tục
trồng sắn mà không bón phân thì chắc chắn sẽ gây nên cạn kiệt dinh dưỡng
ñất, nhưng ñiều này có thể ñược khắc phục bằng cách bón phân cân ñối.
Ngoài ra, trồng với mật ñộ thấp là nguyên nhân cho xói mòn ñất tăng,
ñiều này không những làm tổn hại về mặt lý tính ñối với sắn mà còn làm trôi
ñi hầu hết ñộ phì của ñất (bao gồm cả dinh dưỡng trong ñất và cả lượng phân
bón vào). ðể khắc phục xói mòn nên trồng thành luống theo ñường ñồng
mức, mật ñộ dày, bón phân cân ñối sẽ ngăn cản ñược xói mòn ñất.
- Hàng năm sắn lấy ñi một lượng dinh dưỡng khá lớn bao gồm các
nguyên tố ña lượng và vi lượng. Theo Howeler [16], trên một ñơn vị sản
phẩm thì sắn hút N và P ít hơn các cây trồng khác, nhưng cứ tiếp tục trồng sắn
qua nhiều vụ sẽ dẫn ñến giảm ñi các chất dinh dưỡng có trong ñất và tất nhiên
năng suất sẽ giảm ñi rất nhanh. Như vậy sắn là cây trồng rất khó giải quyết,
nếu áp dụng kỹ thuật canh tác thích hợp. Nó có thể phát triển tốt như các loại
cây trồng khác.
Trồng sắn trên ñất dốc có thể gây xói mòn nghiêm trọng nếu cây trồng
này không ñược quản lý thích hợp, tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy: sự
xói mòn có thể ñược hạn chế ñáng kể bằng các kỹ thuật canh tác thông dụng
như ít cày bừa, trồng theo ñường ñồng mức với mật ñộ dày, bón phân, trồng
việc duy trì năng suất cao. Công thức trồng xen tương tự ñối với loài
Tephrosia candida cũng có hiệu quả ở miền Nam Việt Nam.
Trong chương trình nghiên cứu sắn và triển khai những tiến bộ trồng
sắn tại Thái Lan ñã nghiên cứu 3 vấn ñề lớn từ năm 1965 - 2000.
Thứ nhất: Các phương pháp canh tác như thử nghiệm và phát triển tất
cả những yếu tố trong sản xuất sắn truyền thống như khâu chuẩn bị ñất, thời
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………15
vụ trồng, tuổi thu hoạch, khoảng cách, mật ñộ và phương pháp trồng, kích
thước hom trồng, kiểm soát cỏ dại...
Thứ hai: Sắn và hệ thống cây trồng cơ bản ñã chứng tỏ khả năng ứng
dụng trồng xen sắn với các cây trồng ngắn ngày như ñậu ñen, ñậu ñỏ, lạc, ñậu
tương, ngô...
Thứ ba: Bảo tồn ñất trồng sắn và duy trì ñộ phì như thí nghiệm và phát
triển các tập quán sản xuất mà nó vừa giảm trôi ñất do xói mòn và duy trì
năng suất sắn cao. Theo Anuchit Tongglum, Preecha Surijapan and Reinhardt
H. Howeler [23]. Cũng tại Thái Lan từ năm 1970 việc nghiên cứu hiệu quả sử
dụng ñất và phục hồi ñộ phì ñất thông qua cây trồng xen ñã ñược thực hiện
như trồng xen sắn với lạc, với ñậu ñen, ñậu tương... Từ năm 1976 - 1978 ñể
cải tiến hệ thống sắn trồng xen ñã thực hiện các thử nghiệm, trồng 1, 2 hoặc 3
hàng cây trồng xen giữa hai hàng sắn (1 m x 1 m) kết quả cho thấy công thức
trồng hai hàng cây trồng xen giữa hai hàng sắn là công thức tốt nhất (Charoen
rath, 1983). 1982 - 1983 nghiên cứu về khoảng cách trồng giữa sắn với cây
trồng xen và sắn trồng thuần cho thấy hệ thống sắn trồng xen cho hiệu quả tốt
nhất (Tongglum, 1990).
Tại Indonesia, ñã áp dụng việc giảm thiếu tác ñộng trong làm ñất canh
tác ñã giảm ảnh hưởng của xói mòn, mặc dù nó không có ý nghĩa về mặt năng
suất khi so sánh với phương pháp làm ñất kỹ, nhưng kiểm soát cỏ dại thì khó