TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
TRẰN THỊ HẢO
VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI ĐỐI VỚI
Sự PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ MẪU
GIÁO
KHOÁ LUÂN TỐT NGHIÊP ĐAI HOC
Chuyên ngành: Tâm lý học
Người hướng dẫn khoa học TS.GVC. NGUYỄN
ĐÌNH MẠNH
HÀ NỘI- 2015
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tói thầy giáo Nguyễn Đình Mạnh - TS. Giảng viên
chính tổ Tâm Lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2 - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp em thực hiện tốt đề tài.
Em xin cảm ơn Ban Giám hiệu trường, các cô giáo Trường Mầm non Hoa Sen Thành phố Vĩnh Yên đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và
thực hiện đề tài.
Với điều kiện thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế, chắc chắn đề tài sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được sự đóng góp của quý thầy cô và các
bạn đồng nghiệp để đề tài này thực sự có chất lượng và hữu ích.
LỜI CẢM ƠN
Em xỉn chân thành cảm 0'n!
Hà Nội, tháng 04 năm 2015 Sinh viên
Trần Thị Hảo
Mỗi dân tộc đều có một kho tàng phong phú trò chơi trẻ em được tích
luỹ từ thế hệ này đến thế hệ khác. Nhà tâm lý học nổi tiếng người pháp Henriwallon (1879-1962) khi nghiên cứu tâm lý trẻ em cũng đã xem trò chơi của trẻ
là một hình thức xã hội đáng quan tâm, mà trò chơi đóng vai theo chủ đề chiếm
một vị trí quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Với ttẻ mẫu giáo
vui chơi là hoạt động chủ yếu, qua các ừò chơi đóng vai theo chủ đề trẻ được
đóng vai nhân vật mình yêu thích, được làm công việc như người lớn, trẻ sẽ
cảm thấy mình đã lớn có say mê hứng thú hơn khi tham gia các hoạt động.
Trong khi chơi ừò chơi, ừẻ sẽ phải dùng ngôn ngữ để giao tiếp với các bạn
cùng chơi, trẻ học theo ngôn ngữ của ngưòi lớn,của bạn chơi trong các chủ đề
khác nhau,qua đó, trẻ lĩnh hội được nhiều vốn từ hơncho riêng bản thân mình,
vì thế mà các chức năng tâm lý, nhân cách của trẻ được hình thành và ngày
càng hoàn thiện, đặc biệt là ngôn ngữ sẽ phát triển bền vững. Như vậy, việc
phát triển ngôn ngữ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề rất có hiệu quả.
Vấn đề xây dựng và tổ chức đóng vai theo chủ đề ở các trường mầm non
có ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ của ttẻ. Trong khi đó, việc tổ chức
cho ttẻ đóng vai theo chủ đề để phát triển ngôn ngữ cho ttẻ chưa thật sự được
trú trọng cũng như chưa thực sự đạt hiệu quả cao. Cùng với đó, việc nghiên
cứu vai trò của trò hoạt động vui chơi mà trọng tâm là trò chơi đóng vai theo
chủ đề đối với trẻ mẫu giáo ở Việt Nam còn chưa có công trình nghiên cứu cụ
thể.
Với tất cả các lý do trên tôi đã chọn đề tài: “Vai trò của hoạt động vui
choi đổi vói sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo”.
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.
Mục đích nghiền cứu
Nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua trò
Trẻ mẫu giáo nhỡ Trường mầm non Hoa Sen - Thành phố Vĩnh Yên.
3.2.
Đổi tượng nghiên cứu
Vai trò của hoạt động vui chơi đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
mẫu giáo nhỡ.
4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
4.1.
Khách thể nghiên cứu
* 90 trẻ mẫu giáo nhỡ, lớp 5 tuổi A và 5tuổi B Trường mầm non Hoa
Sen - Thành phố Vĩnh Yên.
4.2.
Đổi tượng
Chỉ nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ thông quatrò chơi đóng vai theo
chủ đề.
5. Giả thuyết nghiên cứu của đề tài
Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ ở lớp 5 tuổi A, 5 tuổi B trường Mầm non
Hoa Sen còn phát triển trung bình, có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng
trên trong đó nội dung và hình thức của tổ chức ừò chơi đóng vai theo chủ đề
có ảnh hưởng quan trọng. Bằng sự đổi mới nội dung và phương pháp tổ chức
ừò chơi đóng vai theo chủ đề, có thể giúp cho ngôn ngữ của trẻ nhanh chóng
được phát triển.
6. Phương pháp nghiền cứu
ừò chơi đóng vai theo chủ đề. Trên cơ sở đó đưa ra nhận xét, đánh giá về sự
phát triển vốn từ, cũng như cách phát âm, hay khả năng diễn đạt, khả năng sử
dụng ngữ pháp của trẻ.
6.5.
Phương pháp thực nghiệm tác động
Đe tài đã sử dụng phương pháp thực nghiệm tác động như sau:
Chia thành hai nhóm gồm: lớp 5 tuổi A và 5 tuổi B có số lượng trẻ bằng
nhau và có chất lượng ngôn ngữ tương đương nhau.
Nhóm thực nghiệm được tác động bằng trò chơi đóng vai theo chủ đề và
phương pháp tổ chức riêng.
Nhóm đối chứng được dạy bằng nội dung và phương pháp tổ chức trò
chơi đóng vai theo chủ đề như Trường mầm non Hoa Sen vẫn dạy.
Sau một thời gian thực nghiệm tác động xem sự phát triển ngôn ngữ của
trẻ nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng có gì khác nhau không?
Cấu trúc khoá luân Phần 1: Mở đầu Phần 2: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chương 2: Khảo sát thực trạng
Chương 3: Thực nghiệm tác động Phần 3: Kết luận và kiến nghị
PHÀN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐÈ TÀI
•
1.1.
Lịch sử nghiên cứu đề tài
Loài người từ thủa sơ khai đã sáng tạo ra ngôn ngữ, một hệ thống tín hiệu
đặc biệt dùng làm phương tiện cơ bản và quan trọng nhất trong giao tiếp giữa
các thành viên trong cộng đồng người. Cũng tò đó, ngôn ngữ được phát triển
mà ngay từ đầu thế kỷ XX, nhà tâm lý học Thuỵ Sỹ J. Paget đã rất quan tâm
đến phương pháp này “thông qua hoạt động vui chơi để tiên hành hoạt động
học tập”, bàn về phương pháp này có thể kể đến L. Vưgôtski, A.p. Uxôva...
Năm 1974, trong tạp chí văn học ở trường học Mát-xcơ- va số 2 (trang 53)
B.c. Giê-nhi-xkai-a đã cho rằng “chúng ta không những phải tạo cho trẻ thì giờ
để chơi mà còn làm cho toàn bộ cuộc sống của trẻ được nuôi dưỡng bằng ừò
chơi”.
Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả quan tâm đến việc sử dụng phương
pháp này trong từng môn học cụ thể. Đó là PGS. TS Nguyễn Ánh Tuyết với
cuốn sách “Giáo dục mầm non những vấn đề lý luận và thực tiễn”, hay “tâm lý
học trẻ em lứa tuổi mầm non”,.» Trong những cuốn sách này tác giả đề cập đến
vai ttò của trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với sự phát triển ngôn ngữ
của trẻ em một cách khái quát, hay các báo cáo khoa học của cố GS. TS
Nguyễn Khắc Viện cũng đã phân tích làm rõ tầm quan trọng của trò chơi đóng
vai theo chủ đề ở lứa tuổi mãu giáo. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu
cụ thể cách thức xây dựng nội dung chương trình, và phương pháp tổ chức
đóng vai theo chủ đề, để qua đó phát triển ngôn ngữ cho ttẻ mẫu giáo nói
chung và trẻ mẫu giáo nhỡ nói riêng.
1.2.
Ngôn ngữ và sự hình thành phát triển ngôn ngữ
1.2.1.
Khái niệm ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ
bản và quan ttọng nhất của các thành viên ttong cộng đồng người. Ngôn ngữ
chúng hơn.
Ấm vị có chức năng nhận cảm và chức năng phân biệt nghĩa. Ví dụ:“Hổ”
là một loài động vật ăn thịt sống trong rừng, còn “Rổ” là một vật dụng dùng để
đựng trong gia đình. Cái làm ta phân biệt được hai nghĩa đó không phải là bộ
phận ngữ âm trùng nhau (ổ) mà do đối lập giữa [h] và [r].
* Hình vị: là một hoặc chuỗi kết hợp vài âm vị, biểu thị một khái niệm. Nó là đơn
vị nhỏ nhất có nghĩa. Chức năng của hình vị là chức năng ngữ nghĩa. Ví dụ
trong phát ngôn “Ngày mai tôi nghỉ học” sẽ có năm hình vị là
“Ngày/mai/tôi/nghỉ/học”.
Hình yị thường có hình thức cấu tạo một âm tiết, tức là mỗi hình vị trùng
với một âm tiết, trên chữ viết mỗi hình vị được viết thành một chữ. Hình vị
trong Tiếng Việt có thể đóng vai trò như một từ nhưng nó không phải là từ vì
từ gồm hình vị và âm tiết.
* Từ là chuỗi kết họp của một hoặc một vài hình yị mang chức năng gọi tên và
chức năng ngữ nghĩa. Ví dụ các từ: Tủ, ghế, đi, cười...
* Câu là chuỗi kết hợp của một hay nhiều từ, chức năng của nó là chức năng
thông báo.
Các đơn vị của ngôn ngữ là âm vị, hình yị, từ, câu, ngữ đoạn, văn bản...
bất cứ thứ tiếng, ngôn ngữ nào,cũng chứa đựng hai phạm trù: phạm trù ngữ
pháp và phạm trù logic. Phạm trù ngữ pháp là một hệ thống các quy định việc
thành lập từ và câu cũng như quy định sự phát âm, phạm trù này ở các thứ
tiếng khác nhau là khác nhau. Phạm trù logic là quy luật, YÌ vậy tuy dùng các
thứ tiếng khác nhau, nhưng các dân tộc khác nhau vẫn hiểu được nhau.
Tóm lại, ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu đặc biệt, dùng làm phương tiện
giao tiếp và công cụ tư duy.
1.2.3.
giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại được, nhất là trẻ em.
Không ai có thể phủ nhận ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con
người. Ngay cả những bộ phận lạc hâu nhất mà người ta đã phát hiện ra cũng
dùng ngôn ngữ để nói chuyện với nhau. Ngoài ngôn ngữ, còn có những
phương tiện giao tiếp khác như cử chỉ, các loại dấu hiệu, kí hiệu khác nhau,
những kết hợp âm thanh của nhạc, màu sắc hội hoạ...
Chính nhờ ngôn ngữ mà con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh
hoạt và lao động, mà ngưòi ta có thể diễn đạt làm cho người khác hiểu được tư
tưởng, tình cảm, trạng thái và nguyện yọng của mình. Có thể hiểu biết lẫn
nhau, con người mớ đồng tâm hiệp lực chinh phục thiên nhiên, chinh phục xã
hội, làm cho xã hội ngày càng tiến lên.
1.3.
Sự hình thành, phát triển ngôn ngữ của cá nhân
1.3.1.
Ngôn ngữ nói
Bắt đầu từ tháng 12 trở đi, ở trẻ sẽ xuất hiện những âm bập bẹ có ý nghĩa
đầu tiên và ngay lập tức trẻ huy động chúng vào giao tiếp với người lớn. Các
âm bập bẹ nhanh chóng mất đi, nhường chỗ chỗ cho các từ tham gia vào cấu
tạo câu trong giao tiếp. Những từ đầu tiên xuất hiện, các kiểu câu đơn giản
gồm hai đến ba từ khiến cho khả năng giao tiếp của trẻ tăng lên. Trẻ tích cực
hơn ừong giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp. Nhu cầu giao tiếp tăng
lên thúc đẩy hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, kết quả là những kỹ năng giao
tiếp ngôn ngữ được hình thành.
1.3.1.
Ngôn ngữ viết
Trẻ mẫu giáo nhỡ là trẻ em trong độ tuổi 4 -5 tuổi. Ở lứa tuổi này đã có
bước phát triển rõ nét hơn so vói mẫu giáo bé với các đặc điểm nổi bật:
* Hoàn thiện hoạt động vui chơi và hình thành xã hội trẻ em.
Ở tuổi mẫu giáo bé, hoạt động vui chơi đã phát triển mạnh, tuy nhiên
đến tuổi mẫu giáo nhỡ thì trò chơi đó mới đạt tới mức chính thức tức là nó biểu
hiện đày đủ nhất đặc điểm của hoạt động vui chơi, nhiều hơn cả là trò chơi
đóng vai theo chủ đề. Trong hoạt động vui chơi, trẻ mẫu giáo nhỡ biểu hiện rõ
rệt tính tự lực, tự do và chủ động, tình cảm, ý chí, nói năng đều tỏ ra tích cực
và chủ động như : Tự chọn chủ đề, nội dung chơi, tự lựa chọn bạn chơi cùng,
tự rút khỏi trò chơi mà mình đã chán và chơi trò mà mình thích, đặc biệt, trẻ
mẫu giáo nhỡ đã biết thiết lập các quan hệ rộng rãi hình thành “Xã hội ttẻ em”.
* Giai đoạn mẫu giáo nhỡ phát triển mạnh tư duy trực quan hình tượng
Trẻ mẫu giáo nhỡ, vốn biểu tượng tăng, lòng ham hiểu biết và lòng ham
hiểu biết tăng lên rõ rệt. Tư duy phát triển, phàn lớn trẻ ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ
đã có khả năng giải các bài toán bằng các “phép thử ngầm trong óc” dựa vào
các biểu tượng, kiểu tư duy trực quan hình tượng đã bắt đầu chiếm ưu thế.
* Sự phát triển đòi sống tình cảm
Ở lứa tuổi mẫu giáo, nhất là mẫu giáo nhỡ, tình cảm của trẻ phát triển
mãnh liệt, đặc biệt là tính đồng cảm và tính dễ xúc cảm với con ngừi và cảnh
vật xung quanh. Đây là thời điểm rất thuận lợi để giáo dục lòng nhân ái cho trẻ.
* Phát triển động cơ hành vi và hình thành hệ thống thứ bậc các động cơ
Cuối tuổi mẫu giáo bé, trong hành vi trẻ đã xuất hiện các động cơ khác
nhau, nhưng các động cơ ấy còn mờ nhạt, tản mạn.
Đến tuổi mẫu giáo nhỡ, các động cơ đã xuất hiện trước đây như muốn
khảng định, muốn được sống và làm việc như người lớn... đều được phát triển
mạnh mẽ đặc biệt là các động cơ đạo đức. Những động cơ xã hội - muốn làm
một cái gì đó cho người khác, mang lại niềm vui cho ngưòi khác bắt đàu chiếm
890
1023
Như vậy, xét về mặt số lượng, trẻ càng lớn vốn tò càng tăng, vốn tò của
trẻ phát triển mạnh ở tuổi lên 3.
Xét về mặt cơ cấu từ loại, số lượng từ là danh từ chiếm số lượng nhiều
nhất (50%), động từ ( 27%), tính từ ( 11%), còn lại là các từ loại khác ( trạng
từ, đại từ, số từ...)
Những từ được các cháu sử dụng chủ yếu là các từ mà các cháu thường
xuyên tiếp xúc, là những từ chỉ những việc làm của các cháu hoặc của mọi
ngưòi xung quanh (ăn, ngủ, tắm, rửa, quét, đi, nằm, bế,cõng...) hoặc là những
tò chỉ hành động của những con vật (Gà mổ thóc, chó cắn, cá bơi, mèo cào...)
1.4.4.
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ
+ Vốn từ: Vốn từ của trẻ mẫu giáo nhỡ tăng lên đến hơn 1000 từ, trong đó,
danh tò, động tò vẫn chiếm ưu thế,
Trẻ mẫu giáo nhỡ 4 -5 tuổi phát âm có tiến bộ hơn so với trẻ mẫu giáo
bé (3 -4 tuổi), trẻ phát âm rõ hơn, dứt khoát hơn, ít ngọng hơn song vẫn hay
sai âm đầu và âm đệm, thanh ngã.
Ở trẻ đã hình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu,
âm tiết... Tuy nhiên dưới tác động của cảm xúc trẻ có thể nghe nhầm, phát âm
nhầm các âm yị “t” = “ch” (ví dụ “tôm to” trẻ mói là “chôm cho”, dễ bị nhoè
các phụ âm như “1” phát âm thành “nh”.
+ Việc nắm vững ngữ pháp của trẻ 4 - 5 tuổi có tiến bộ hơn trẻ 3 - 4 tuổi. Câu
nói của trẻ dài hơn, ít câu cụt hơn. Khi nói câu còn chưa đúng, chưa chuẩn về
hoạt động khác làm cho chúng mang màu sắc độc đáo của tuổi mẫu giáo.
* Đặc điểm của hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo
a. Vui chơi là dạng hoạt động không mang tính bắt buộc, trẻ tham gia nhiệt tình
do chính sức hấp dẫn của trò chơi.
Ví dụ: Trò chơi " khám bệnh " hấp dẫn trẻ là việc bác sĩ đeo ống nghe
vào tai, đặt ống nghe lên ngực người bệnh.
Vậy động cơ của vui chơi nằm ngay trong quá trình hoạt động , nên trò
chơi mang tính tự nguyện rất cao.Đây là tính chất đặc biệt của vui chơi.
b. Đối với trẻ, trò chơi là một dạng hoạt động mang tính tự lập. Trong khi chơi,
trẻ mẫu giáo thể hiện rõ ý thức làm chủ, trẻ hoạt động hết mình, tích cực và
độc lập. Trong hoạt động vui chơi, người lớn chỉ có thể gợi ý, hướng dẫn mà
thôi.
c. Trong trò chơi đóng vai theo chủ đề, đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các
thành viên trong trò chơi với nhau. Trò chơi đối với trẻ mẫu giáo thường phản
ánh một mặt nào đó của xã hội ngưòi lớn xung quanh. Bỏi vậy, để tiến hành
một trò chơi thì nhất thiết phải có nhiều trẻ em tham gia. Tính hợp tác là một
nét phát triển mớitrong vui chơi của trẻ mẫu giáo.
d. Trò chơi của tuổi mẫu giáo mang tính chất ký hiệu - tượng tnmg. Trong khi
chơi, mỗi đứa trẻ đều tự nhận cho mình một vai nào đó và thực hiện hành động
phù họp với vai chơi, nhưng đấy chỉ là hành động giả vờ. Trong khi chơi, trẻ
còn lấy vật này thay thế vật kia và tự đặt tên cho vật thay thế, rồi sử dụng vật
thay thế đó cho phù họp vói tên gọi của nó.
1.5.2.
Trò chơi đóng vai theo chủđề
1.5.2.1.
Nội dung được phức tạp dàn theo trình độ phát triển của trẻ
+ Ở trẻ mẫu giáo bé (4 tuổi): trẻ tái tạo những hành động của người lớn.
+ Ở trẻ mẫu giáo nhỡ (5 tuổi): có thêm nội dung mới đó là quan hệ giữa
người với người trong quá trình hoạt động chung.
+ Ở trẻ mẫu giáo lớn: Ngoài hai nội dung trên trẻ tái tạo mối quan hệ
bên trong cả về tình cảm và đạo đức...
b. Vai chơi và hành động chơi
Vai chơi là một yếu tố tạo nên trò chơi.
Hành động chơi đó là những hành động mà trẻ em nhận thức được qua
những hành động của người lớn.
c. Các quan hệ của trẻ trong trò chơi
Trong ừò chơi có hai mối quan hệ chơi
+ Quan hệ thực: Quan hệ giữa trẻ em và người khác trong quan hệ chơi.
+ Quan hệ chơi: Đó là mối quan hệ giữa các vai chơi, sức sống của ttò
chơi phụ thuộc vào sự thiết lập và vận hành mối quan hệ giữa các vai chơi.
d. Đồ chơi và hoàn cảnh chơi
Đồ chơi là vật thay thế cho vật thật. Có hai loại đồ chơi là:
+ Đồ chơi người lớn làm cho trẻ
+ Đồ chơi do trẻ tự làm ra: trẻ lấy vật này thay thế cho vật khác (lá tiền)
Trong bốn yếu tố trên thì chủ đề và nội dung chơi quyết định tất cả các
yếu tố còn lại.
1.5.2.4.
Vai trò của trò chơi trong sự phát triển tâm lý của trẻ mẫu
giáo:
a. Hoạt động vui chơi ảnh hưởng mạnh tới sự hình thành tính chủ định
của quá trình tâm lý. Trong trò chơi, trẻ bắt đàu hình thành chú ý có chủ định
và ghi nhớ có chủ định. Khi chơi ừẻ tập trung chú ý tốt hơn và ghi nhớ được
nhiều hơn.
ấu nhi lên tuổi mẫu giáo. Trò chơi là phương tiện góp phần phát triển toàn diện
nhân cách trẻ. Trò choi tạo ra những nét tâm lý đặc trưng cho tuổi mẫu giáo.
Do đó tổ chức trò chơi chính là tổ chức cuộc sống của trẻ. Trò chơi là phương
tiện để trẻ học làm người.
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THựC TRẠNG
2.1.
Thực trạng sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ
2.1.1.
Khách thể nghiên cứu
90 trẻ lóp mẫu giáo nhỡ trường Mầm non Hoa Sen - Thành phố Vĩnh Yên
2.1.2.
Phương pháp điều tra
Để điều tra về sự phát âm cũng như vốn từ và khả năng sử dụng ngữ
pháp của trẻ ta sử dụng nhiều phương pháp điều tra khác nhau:
+ Phương pháp đàm thoại: là sự giao tiếp, trao đổi giữa cô giáo và trẻ bằng
những câu hỏi có mục đích, có hệ thống nhằm đạt được mục đích đã đề ra.
Ở đây, cô sử dụng những câu hỏi đơn giản, dễ hiểu để có thể khai thác được
vốn ngôn ngữ của trẻ.
Ví dụ: Con tên là gì? Bố mẹ con làm nghề gì? Con thích gì nhất? Con có thể
kể cho cô nghe những công việc mà con thường làm ở nhà được không?...
+ Phương pháp thực hành: tiến hành yêu càu trẻ phát âm một số từ khó,
những từ, nguyên âm, phụ âm mà trẻ thường hay phát âm sai.
Nhận xét:
Âm tiết của ngôn ngữ là đơn vị âm thanh nhỏ nhất trong lời nói không thể
phân chia được nữa. Phát âm của trẻ phụ thuộc vào sự hoàn thiện của bộ máy
phát âm, ở tuổi mẫu giáo những điều kiện này đã đạt được mức tương đối ổn
định cho nên ttẻ đã có thể phát âm được hầu hết các âm vị. Tuy nhiên một số
ttẻ vẫn còn mắc một số lỗi về phát âm.
*Lỗi về thanh điệu
Thanh điệu là một yếu tố thể hiện độ cao và sự chuyển biến của độ cao
ừong mỗi âm tiết.
Trong số các thanh điệu tiếng Việt, thanh hỏi và thanh ngã là hai thanh có
cấu tạo phức tạp. Việc thể hiện thanh ngã với âm điệu gãy ở giữa là cách phát
âm khó đối với trẻ. Trẻ thay thế bằng cách phát âm đơn giản hơn tức là với âm
điệu không gãy ở giữa. Vì vậy dễ đồng nhất với âm điệu của thanh sắc (Phát
âm “mỡ” thành“mớ”).Phát âm hỏi thành họi.
Ví dụ trẻ thường phát âm :
“ngủ” thành “ngụ”
“nghĩ thành nghĩ”
ФТ
Ạ*
À
Ạ
__
Trẻ nói ngọng “dì Lan” thành “dì Nhan”
fb)
Т
_ Л
_
Ạ
• Л
A
1Ạ
* Lôi vê âm đệm
Âm đệm chỉ được đọc lướt qua nên ttẻ khó ghi nhận những âm này vì
thế
âm đệm thường bị bỏ qua.
VD: Trẻ phát âm:
“Loắt choắt” thành “Lắt chắt”
“Quả quất” thành “Quạ cất”
I^_
Т
Ạ
Л
•
Bảng 2: Kết quả khảo sát vốn từ của trẻ theo cơ cấu từ loại trẻ mẫu giáo
nhỡ Trường mầm non Hoa Sen.
Số lượng tò
lượng từ - tỉ lệ (%) Từ
Tỉ lệ (%) so vói vốn từ đã
thống kê
Danh từ
214
41,7%
Động từ
198
38,7%
Tính từ
35
6,8%
Đại từ
15
nhưng...
Ví dụ:
“Con với bạn Hà đang chơi thì bạn Phúc cướp đồ chơi của con”
Khi sử dụng từ ngữ, trẻ thường mắc một số loại lỗi sau:
Dùng danh từ chưa chính xác:
Ví dụ: bụi cây gọi là vườn cây
Trẻ thường nhầm lẫn các màu sắc:
Ví dụ: Màu da cam hầu hết trẻ thường gọi là màu vàng.
b. Khảo sát khả năng sử dụng cấu trúc ngữ pháp đon giản của trẻ mẫu