Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta - Pdf 31

TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
KHOA MÁC-LÊNIN
BỘ MÔN: CHỦ NGHĨA XÃ HÔI KHOA HỌC
———

oOo———

TIỂU LUẬN:

Nhóm thực hiện: Nhóm 6
Lớp: DHOT2. Khoa Cơ khi
Khóa học: 2
GV hướng dẫn: Nguyễn Nam Thanh Hoàng

TP Hồ Chí Minh, Tháng 10/2010

MỤC LỤC
MỤC LỤC.............................................................................................................1


LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................2
PHẦN MỞ ĐẦU....................................................................................................3
1. ĐẶT VẤN ĐÊ...........................................................................................................3
2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU............................................................................................4
2.1. Mục đích..............................................................................................................4
2.2. Yêu cầu................................................................................................................5
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU...................................................................................5
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................................................5
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU........................................................................................5
6. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU........................................................................................5



PHẦN KẾT LUẬN..............................................................................................30

LỜI MỞ ĐẦU
Nhóm 6, lớp DHOT2 xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu Trường ĐH Công Nghiệp TPHCM và các phòng ban đã tạo mọi điều kiện
cho chúng em hoàn thành bài tiểu luận này.
2


Khoa Mác-Lênin và thầy Nguyễn Nam Thanh Hoàng-bộ môn chủ nghĩa xã hội khoa họcđã tận tình hướng dẫn chúng em trong suốt quá trình thực hiện bài tiểu luận.
Các thầy cô cùng các anh chị trong thư viện đã giúp chúng em trong việc tìm hiểu và tham
khảo các tài liệu liên quan.
Tuy nhiên, với khả năng và tầm nhìn hạn chế, trong suốt quá trình thực hiện bài tiểu luận,
chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được ý kiến đóng góp
của giáo viên.
TP Hồ Chí Minh, tháng 10/10

PHẦN MỞ ĐẦU
1.

ĐẶT VẤN ĐÊ
Hiện nay trên thế giới đang diễn ra cuộc chạy đua phát triển kinh tế rất sôi động,

các nước nhanh chóng thực hiện các chính sách kinh tế nhằm đưa kinh tế phát triển
trong đó con người là vị trí trung tâm. Muốn vậy, các nước không còn con đường nào

3



2.1. Mục đich
-Tạo điều kiện, giúp sinh viên hệ thống lại hệ thống kiến thức đã được học, ứng
dụng vào cuộc sống thực tiễn. Tập làm việc theo nhóm, nghiên cứu tình hình phát triển
4


công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH
ở nước ta.
-Phương hướng gợi mở tư duy sáng tạo qua việc đề xuất ý kiến của mỗi sinh viên.
2.2. Yêu cầu
-Nắm vững lý thuyết, lý luận. Tập hợp sức mạnh của cả nhóm.
3.

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
-Nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ đổi mới.

4.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
-Phương pháp tổng hợp, so sánh, đánh giá, thống kê, lô gích, lịch sử...Đây là

phương pháp phù hợp với trình độ, điều kiện nghiên cứu thực tại.
5.

PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Những năm đầu thế kỷ XXI, ở Việt Nam.

6.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với
công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của
công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao.”
Đây cũng là quá trình xây dựng một xã hội dựa trên nền văn minh xã hội. Cải biến kỹ
thuật, tạo dựng nền công nghiệp theo hướng hiện đại (khía cạnh vật chất và kỹ thuật)
và phát triển kinh tế thị trường (khía cạnh cơ chế và thể chế) là hai mặt của quá trình
công nghiệp hóa duy nhất.
Ngoài ra, công nghiệp hóa cũng là quá trình cải biến hệ thống thể chế và cơ chế
kinh tế, từ nền kinh tế hiện vật - khép kín, tự túc sang nền kinh tế thị trường dựa trên sự
phân công lao động xã hội phát triển mạnh mẽ.

6


1.2. Tinh tất yếu, khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tất yếu đối với hầu hết các nước chưa phát triển.
Với mỗi nước, mục tiêu vá tính chất quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa có thể
khác nhau. Việt Nam là một nước có nền kinh tế tế nhỏ, đi lên xã hội chủ nghĩa từ một
nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, lực lượng sản xuất còn non
nớt, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mới được thiết lập, chưa hoàn thiện, chưa phù
hợp với quan hệ sản xuất của xã hội chủ nghĩa. Để có cơ sở kỹ thuật của nền sản xuất
lớn, không còn con đường nào khác là công nghiệp hóa, cơ khí hóa cân đối và hiện đại
hóa trên trình độ khoa học kỹ thuật phát triển cao. Muốn vậy, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa cần phát triển tuần tự và phát triển nhảy vọt, cùng một lúc thực hiện hai cuộc
cách mạng, đó là chuyển lao động thô sơ sang lao động bằng máy móc, và chuyển lao
động máy móc sang lao động tự động dưới sự chỉ đạo của Nhà nước theo đinh hướng
xã hội xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế của nước ta trong quá trình phát triển gặp rất nhiều khó khăn, chịu sự
tàn phá nặng nề của chiến tranh, sự chủ quan ỷ lại của lãnh đạo trong khôi phục kinh tế
sau chiến tranh bằng máy móc dập khuôn mô hình kinh tế Liên Xô (cũ). Bởi vậy, trong

Công nghiệp hóa là một giai đoạn phát triển tất yếu của mỗi quốc gia. Nước ta từ
một nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển, muốn vươn tới trình độ phát triển cao,
nhất thiết phải trải qua công nghiệp hóa. Thực hiện tốt công nghiệp hóa, hiện đại hóa
có ý nghĩa đặc biệt to lớn và có tác dụng lên nhiều mặt:
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất
lao động, tăng sức chế ngự của con người đối với tự nhiên, tăng trưởng kinh tế, do đó
góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. Sở dĩ nó có tác dụng như vậy vì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là một cách chung nhất, là một cuộc cách mạng về lực lượng
sản xuất, làm thay đổi căn bản kỹ thuật, công nghệ sản xuất, làm tăng năng suất lao
động.
- Tiền đề về vật chất để không ngừng cũng cố và tăng cường vai trò kinh tế nhà
nước, nâng cao năng lực tích lũy, tăng công ăn việc làm, nhờ đó làm tăng sự phát triển
tự do và toàn diện trong mọi hoạt động kinh tế của con người - nhân tố trung tâm của
nền sản xuất xã hội. Từ đó, con người có thể phát huy vai trò của mình đối với nền sản
xuất xã hội. “Để tạo ra những người phát triển toàn diện, cần phải có một nền kinh tế
phát triển cao, một nền khoa học kỹ thuật phát triển hiện đại, một nền văn hóa tiên tiến,
một nền giáo dục phát triển”. Bằng sự phát triển toàn diện, con người sẽ thúc đẩy lực
8


lượng sản xuất phát triển. Muốn đạt được điều đó phải thực hiện tốt công nghiệp hóa,
hiện đại hóa mới có khả năng thực tế để quan tâm đầy đủ đến sự phát triển tự do và
toàn diện nhân tố con người.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần phát triển kinh tế xã hội. Kinh tế có phát
triển thì mới có đủ điều kiện vật chất cho tăng cường cũng cố an ninh quốc phòng, đủ
sức chống thù trong giặc ngoài. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn tác động đến đảm
bảo kỹ thuật, giữ gìn, bảo quản và từng bước cải tiến vũ khí, trang thiết bị hiện có cho
lực lượng vũ trang.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần tăng nhanh quy mô thị trường. Bên cạnh
thị trường hàng hóa còn xuất hiện các thị trường vốn , thị trường lao động, thị trường

- Các chính sách phát triển công nghiệp.
- Các định chế tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá chiến lược công nghiệp.
Trong thực tế, mục tiêu chung của nền kinh tế là đến năm 2020, nước ta cơ bản sẽ
trở thành một nước công nghiệp. Do đó, tốc độ phát triển công nghiệp phải đạt cao trên
13% trong nhiều năm và năm 2020 công nghiệp phải chiếm 45% GDP.
Chính sách công nghiệp là công cụ của Chính phủ nhằm đạt được mục tiêu phát
triển cụ thể của ngành công nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế. Chính sách công nghiệp
đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế là tập hợp hàng loạt công cụ chính sách nhằm
thúc đẩy năng suất lao động, hiệu quả hoạt động của ngành công nghiệp, của nền kinh
tế và tạo ra nhiều việc làm. Chính sách công nghiệp bao gồm mọi hoạt động nhằm thúc
đẩy ngành công nghiệp phát triển, với hai hình thái cơ bản: sự can thiệp chức năng và
can thiệp có trọng điểm. Sự can thiệp chức năng nhằm khắc phục những nhược điểm
của cơ chế thị trường nhưng không tạo ra những ưu thế cho chủ thể kinh tế khác. Sự
can thiệp có trọng điểm được thiết kế để tạo điều kiện thuận lợi cho những hoạt động
cụ thể, nhằm khắc phục những khuyết điểm trong phân bố nguồn lực của nền kinh tế.
Trong thực tiễn, chính sách công nghiệp sẽ tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu
và hiệu quả của nền kinh tế quốc dân.
Chính sách phát triển công nghiệp có thể bao gồm, nhưng không nhất thiết phải
giới hạn theo những nội dung cơ bản sau:
- Đánh giá và điều chỉnh mục tiêu phát triển ngành và cơ cấu công nghiệp.
- Phân tích tình hình của ngành công nghiệp và tác động của nó đối với nền kinh tế.
Đặc điểm môi trường cạnh tranh, nguồn nhân lực và hoạt động kinh doanh.
10


- Xác định xu hướng thay đổi của nền kinh tế.
- Định vị nguồn nhân lực, kinh doanh và cộng đồng trong môi trường quốc tế.
- Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của ngành và các ngành công nghiệp cơ bản.
Thiết kế các chương trình và công cụ để nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn
ngành (phát triển nguồn nhân lực qua đào tạo, hoàn thiện cơ sở hạ tầng, chính sách về

Việt Nam xác định tại Đại hội lần thứ VIII và tiếp tục được khẳng định tại Đại hội lần
thứ IX là: “Xây dựng nước ta trở thành một nước công nông nghiệp có cơ sở vật chất
kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với quá trình
phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất tinh thần cao, quốc phòng - an ninh
vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng , dân chủ, văn minh”.
Theo tinh thần văn kiện của đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng
sản Việt Nam, chúng ta phải ra sức phấn đấu để đến năm 2020, về cơ bản, nước ta trở
thành nước công nghiệp với phương hướng hiện nay là công nghiệp hóa rút ngắn. Mô

11


hình này thừa kế tất cả ưu việt của mô hình công nghiệp hóa ở các nước trên thế giới,
đồng thời tính đến đặc điểm cụ thể thiên nhiên, con người Việt Nam.
Mục tiêu này cho thấy sự nghiệp đó là một cuộc cách mạng toàn diện sâu sắc trong
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó trước hết là vì con người, do con người.
1.5.2. Quan điểm
Quan điểm của Đảng: “Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên
ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh”. Quan điểm này hoàn
toàn tương thích với đặc trưng với mô hình công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu. Đặc
trưng rõ rệt nhất của mô hình này là phát huy lợi thế so sánh của tiềm năng quốc gia
trong phân công lao động và hợp tác quốc tế. Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế
thay đổi của thời đại toàn cầu hóa đời sống kinh tế quốc tế. Để áp dụng thành công mô
hình này đòi hỏi có sự lãnh đạo của Chính phủ và có tầm nhìn dài hạn về xu hướng
phát triển của kinh tế thế giới để xác định lợi thế so sánh cần tập trung. Do vậy, vai trò
của Đảng về đường lối công nghiệp hóa cần được khẳng định và hoàn thiện thông qua
vai trò quản lý kinh tế của Chính phủ.
Một quan điểm nữa là quan điểm: “vừa phát triển tuần tự, vừa lựa chọn đi tắt đón
đầu”. Đây là quan điểm phù hợp với những điểm nhấn của mô hình hướng vào xuất
khẩu qua việc lựa chọn các ngành công nghiệp cần phát triển. Trong điều kiện nước ta

Theo Cục Đầu tư nước ngoài, 10 tháng đầu năm 2007, cả nước ta đã thu hút được
11,26 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, tăng 36,4% so với cùng kì năm ngoái. Trong đó,
số vốn thu hút được từ những dự án mới là 9,75 tỷ USD (trên 1100 dự án mới), số vốn
tăng thêm từ các sự án cũ là 1,5 tỷ USD. Công nghiệp và dịch vụ tiếp tục là 2 lĩnh vực
thu hút mạnh vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Có đến 5,33 tỷ USD đầu tư vào công
nghiệp (chiếm 54,6% tổng vốn đăng ký), và 4,25 tỷ USD vào dịch vụ (chiếm 43,6%).
Tổng vốn được triển khai thực hiện trong 10 tháng qua đạt 3,7 tỷ USD, tăng trên 18%
so với cùng kỳ năm trước.

13


Theo Bộ Công thương, trong tháng 10-2007, kim ngạch xuất khẩu cả nước ước đạt
4,2 tỷ USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu 10 tháng lên 39,059 tỷ USD. Tính đến hết
tháng 10-2007, cả chín nhóm hàng của câu lạc bộ một tỷ USD đều đã về đích, gồm
thủy sản hơn 3 tỷ USD, cà-phê 1,55 tỷ USD, gạo 1,36 tỷ USD, dầu thô 6,5 tỷ USD, dệt
may 6,41 tỷ USD, giày dép 3,19 tỷ USD, đồ gỗ 1,9 tỷ USD, điện tử và linh kiện máy
tính 1,73 tỷ USD, cao-su 1,088 tỷ USD. Mặt hàng cà-phê vẫn tiếp tục dẫn đầu về tăng
trưởng tính trên giá trị, tiếp đến là sản phẩm nhựa, dệt-may, hạt tiêu, nhân điều, dây và
cáp điện...
Một số yếu kém của nền kinh tế cũng như những hạn chế trong công tác điều hành:
năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm và của cả nền kinh tế tuy đã có
bước tiến bộ nhưng vẫn còn thấp; hiệu quả đầu tư còn kém, chi phí sản xuất còn cao.
Một số cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc. Bội chi ngân sách nhà nước tuy vẫn trong
giới hạn cho phép, nhưng tỷ lệ này còn khá cao. Khả năng hấp thụ vốn đầu tư của nền
kinh tế tuy đã được cải thiện nhưng vẫn chưa tận dụng được cơ hội mới để huy động và
sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư.

14



15


Ở nước ta, phương hướng phân công lao động xã hội hiện nay triển khai trên cả hai
địa bàn: tại chỗ và nơi khác để phát triển chiều rộng kết hợp phát triển theo chiều sâu.
Đi đôi với quá trình phân công lao động xã hội, một cơ cấu kinh tế mới cũng dần được
hình thành.
2.1.3. Phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội – trên cơ sở thực hiện cơ khi hóa nền sản xuất xã hội chủ nghĩa
Để triển khai những ý tưởng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước mắt cũng như
lâu dài, phải tính đến yếu tố lâu dài của nguồn nhân lực. Ở đây vấn đề là giáo dục là cái
nền của chất lượng nhân lực, không phải nhân lực chung mà là nhân lực của một nền
sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Đây là một trong những hạt nhân của lực lượng sản
xuất. Thực tế ở các nước đã tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho thấy việc xác
lập một cơ cấu nguồn nhân lực thích hợp, đầu tư tài chính đủ cho giáo dục và y tế, thực
hiện cơ chế thị trường trong việc sử dụng nhân lực kết hợp với chính sách ưu đãi là
nguồn gốc cơ bản của thành công. Đối với Việt Nam không còn con đường nào khác là
hợp tác trung tâm kỹ thuật, có nguồn nhân lực chất lượng cao đồng thời đẩy mạnh giáo
dục đào tạo.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, người lao động là lực lượng sản
xuất thứ nhất, không những phải được nâng cao trình độ văn hóa còn phải được trang
bị cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến. Sau đây là bản sơ lược về trình độ cơ khí hóa của
một số ngành sản xuất vật chất:
- Trong nông nghiệp: nội dung sản xuất nông nghiệp chủ yếu là lao động thủ
công, sử dụng sức lao động dư thừa ở nông thôn, tỷ lệ cơ khí hóa thấp, sản xuất
nông nghiệp vẫn là thủ công trong hầu hết các khâu: làm đất, gieo giống, chăm bón
và thu hoạch. Mấy năm gần đây, do cơ chế mở nhiều vùng nông thôn đã phát triển
mạnh nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nhỏ bán cơ khí, song số
lao động trong lĩnh vực công nghiệp bình quân toàn quốc không quá 5% tổng số lao

thực không chỉ đủ ăn mà còn đủ gạo xuất khẩu, đứng thứ 2 thế giới. Ngoại thương tăng
trưởng mạnh, lạm phát được kềm chế...
Đời sống kinh tế xã hội được cải thiện, uy tín quốc tế tăng lên:
Sự kết hợp giữa nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, điều kiện quốc tế và khu vực có nhiều biến đổi. Cùng với quá
trình chuyển sang kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn gắn liền với
việc mở cửa, hội nhập quốc tế và khu vực. Sự hiện diện của các nguồn vốn nước ngoài,
17


bao gồm các nguồn vốn đầu tư (vốn ODA, FDI, FII), công nghệ kỹ thuật, kỹ năng quản
lý và kinh doanh, thị trường tiêu thụ hàng hóa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ... đã chẳng
những góp phần quan trọng và mức tăng trưởng GDP mà còn tạo ra sự năng động
trong đời sống xã hội vốn trước đây rất trì trệ.
Trên cơ sở tăng trưởng kinh tế, đời sống xã hội còn nhiều chuyển biến tích cực,
mức sống của nhân dân tăng lên rõ rệt. Tình hình an ninh chính trị ổn định, quan hệ đối
ngoại được mở rộng, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế từng bước được nâng
lên. Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đại của Đảng và quản lý của Nhà nước ngày
càng được cũng cố. Mặt khác, sự thay đổi cơ chế kinh tế đánh dấu sự đổi mới tư duy lý
luận của Đảng ta về con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa đã được thực tiễn cuộc sống
và kết quả nêu trên kiểm chứng là đúng đắn, công cuộc đổi mới là hợp lòng dân, là
đúng xu thế phát triển khách quan của thời đại và hòa nhập vào cộng đồng quốc tế.
Sự phát triển cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tích cực: tổng sản phẩm, tức giá
trị tuyệt đối của sản phẩm nông nghiệp không ngừng được tăng lên, nhưng tỷ trọng
GDP giảm dần. Nông thôn cảu nước ta sẽ dần được cải thiện và nâng cao, rút ngắn
khoảng cách tối đa với đô thị.
Những tồn tại chủ yếu
Bên cạnh những thành tựu và thắng lợi đạt được, sự nghiêp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ỏ nước ta còn có những hạn chế. Điều này được thể hiện ở các mặt chủ yếu:
- Công nghiệp hóa chưa tạo điều kiện cho kinh tế xã hội phát triển nhanh, bền

thay thế bằng các thiết bị nhập ngoại ở các nước kinh tế phát triển. Trong xây dựng cơ
bản, tỷ lệ tư động hóa không cao, khoảng 1,5-2% trong công tác xây dựng cơ bản.
Trong sản xuất nông nghiệp, tự động hóa chưa được áp dụng, kể cả các xí nghiệp trung
ương và xí nghiệp địa phương.
Tóm lại, trình độ tự động hóa còn thấp là đặc trưng nổi bật của nền sản xuất nước
ta. Điều đó cũng phù hợp và có nguyên nhân: lao động trong nước còn dư thừa, cần tạo
công ăn việc làm đang là nhu cầu cấp bách hiện nay và nhiều năm sau.
Về hóa học hóa: nhìn chung, công nghiệp hóa học hóa Việt Nam đã được phát triển
trong nhiều ngành sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm cung cấp cho công nghiệp, nông
nghiệp, cho tiêu dùng xã hội và có sự tăng trưởng khá trong các năm gần đây: phân
bón hóa học, quặng apatít, thuốc trừ sâu, sơn hóa học, săm lốp các loại.... Sản phẩm
của hóa học hóa còn được ứng dụng trong nhiều ngành chất dẻo, công nghiệp sản xuất
phụ gia, các chất hóa học, xúc tác... Hóa học hóa ngày càng giữ vai trò quan trọng tác
19


động đến năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tuy vậy, việc đầu tư
để phát triển cho ngành hóa chất còn ít. Hóa học chưa thành nhân tố mũi nhọn cho sự
phát triển kinh tế. Đây là nhược điểm của nền kinh tế phát triển thiếu đồng bộ trong
thời gian qua.
Về sinh học hóa: có một số ngành đang áp dụng công nghệ sinh học như sản xuất
rượu bia, nước giải khát, phân bón, chăn nuôi, lai tạo giống, vi sinh học, tuy có kết quả
đáng kể, tạo ra nhiều loại giống mới cho cây trồng và vật nuôi, có khả năng chống
được bệnh tật, phù hợp với thời tiết khí hậu Việt Nam và có năng suất cao, nhưng tỷ lệ
áp dụng chưa cao. Đây là ngành sản xuất non trẻ mới được áp dụng vào Việt Nam
trong những năm gần đây và đang có nhiều tiềm năng trong tương lai.
Về tin học hóa: ngành tin học đã được phát triển khá nhanh trong thời kỳ từ đổi mới
kinh tế đến nay. Tin học đang trở thành một ngành mũi nhọn, phát triển mạnh mẽ gắn
kết thông tin thị trường trong nước với thị trường khu vực và thị trường thế giới một
cách nhanh nhạy. Đồng thời, sản xuất kinh doanh, nghiên cưu khoa học, giảng dạy,

mấy năm gần đây, công nghiệp và dịch vụ nông thôn đã bắt đầu phát triển.
- Công nghiệp nông thôn đã có sự chuyển biến tích cực thực sự. Sự quản lý cứng,
gò bó trước đây đã được xóa bỏ cơ bản. Những chủ trương, chính sách về đời sống
kinh tế đã dần thấm vào mỗi người dân, cơ cấu vốn đầu tư ở nông thôn đã chuyển theo
hướng dành cho sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nhiều hơn.
- Cơ cấu công nghiệp nông thôn đã thay đổi theo hướng thích ứng với cơ chế kinh
tế mới trong điều kiện mới. Sự thay đổi rõ nhất trong cơ cấu thành phần kinh tế. Kinh
tế hộ và các doanh nghiệp tư nhân, trách nhiệm hữu hạn tăng lên một cách nhanh
chóng, trong khi các hợp tác xã và kinh tế Nhà nước giảm đi rõ rệt.
- Nhiều ngành nghề, sản phẩm truyền thống từng bị mai một đã dần dần được khôi
phục lại do yêu cầu khách quan của nền kinh tế, của thị trường trong nước và quốc tế.
Sự khôi phục này thường gắn liền với sự đổi mới, hiện đại hóa đại hóa các sản phẩm và
công nghệ truyền thống. Mặt khác, nhiều làng truyền thống được khôi phục lại có sức
lan tỏa khá mạnh sang các khu vực lân cận.
- Tuy nhiên, đến nay công nghiệp nông thôn còn gặp nhiều khó khăn. Trước hết là
tình trạng kinh tế thuần nông, cây lúa chiếm tỷ lệ tuyệt đối, sức mua còn rẩt nhỏ, trình
độ kỹ thuật của công nghiệp nông thôn còn thấp cả về sản phẩm, thiết bị lẫn công
nghệ. Trừ một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm của công nghiệp nông thôn có
21


chất lượng thấp, mẫu mã, kiểu dáng chậm thay đổi, tốn nhiều nguyên vật liệu, năng
lượng. Phần lớn thiết bị và công nghệ sản xuất của công nghiệp nông thôn là công cụ
thủ công cải tiến hoặc thiết bị thải loại của các cơ sở công nghiệp đô thị. Công nghiệp
nông thôn nước ta phát triển không đồng đều, mới chỉ tập trung ở những địa phương có
ngành nghề truyền thống, ở ven đô thị, đầu mối giao thông quan trọng.
- Cho đến nay, kinh nghiệm kinh doanh của người dân nông thôn trên các lĩnh vực
phi nông nghiệp còn hạn chế, do đó họ chưa dám chấp nhận rủi ro và mạnh dạn kinh
doanh. Hơn nữa, họ cũng thiếu những kiến thức về kinh doanh (kinh nghiệm và kiến
thức về nghiên cứu thị trường, marketing...). Điều này có thể thấy khá rõ khi quan sát

đó giá trị gia tăng thủy hải sản chiếm trên 34%.
Những công trình thủy lợi chính đã hoàn thành với hơn 400km đê ngăn mặn, đi đôi
là hệ thống cống và thủy lợi nội đồng đang hoàn chỉnh dần. Kết quả đãn ngăn mặn
được 160.000 ha diện tích đất canh tác, bổ sung nguồn nước phục vụ nuôi trồng thủy
sản chuyên canh trên 6.500 ha, và luân canh, xen canh 10.000-12.000 ha.
Sóc Trăng có 249.088 ha đất nông nghiệp, trong đó chủ yếu là đất trồng lúa với
diện tích 188.067 ha , chiếm tỷ trọng 75,5%, đất trồng cây lâu năm là 40.206 ha, riêng
diện tích cây ăn trái đặc sản chiếm 5.000 ha, diện tích đất lâm nghiệp 14.061 ha. Các
năm qua, sản xuất nông nghiệp của tỉnh phát triển khá nhanh theo hướng thâm canh
tăng vụ, tăng năng suất sản phẩm. Sản lượng lương thực năm 2003 đạt 1.617.800 tấn,
riêng lúa hàng hóa chiếm khoảng 600.000-800.000 tấn, trong đó lúa có khả năng xuất
khẩu la 500.000 tấn. Sản lượng lúa trong toàn tỉnh cân đối, kể cả phần dự trữ để phát
triển chăn nuôi.
Diện tích mía, cây ăn trái phát triển nhanh ở các xã ven sông Hậu. Ngoài ra Sóc
Trăng còn có 15.000 ha đất trồng thích hợp trồng các loại hoa màu từ thông thường
đến cao cấp. Đặc biệt có 3.000 ha củ hành tím với sản lượng 5.000 tấn/năm. Chăn nuôi
phát triển chậm, hình thức phổ biến là chăn nuôi tự phát ở tứng hộ gia đình, quy mô
nhỏ, chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức. Tuy vây, giống heo Ba Xuyên của địa
phương lai tạo với dòng heo ngoại nhập có triển vọng phát triển tốt.
Với bờ biển tự nhiên dài 72km, sản phẩm khai thác từ biển và ven biển là tiềm năng
và nguồn lợi to lớn của các nhà đầu tư. Hiện phát triển thủy sản là mũi nhọn kinh tế
của tỉnh. Hiện nay diện tích nuôi tôm đạt 50.341 ha, trong đó có 5.240 ha nuôi theo
phương thức công nghiệp và bán công nghiệp. Đặc biệt, huyện Vĩnh Châu còn có 150
ha Artemia nuôi trên ruộng, sinh khối Artemia xuất khẩu sang Mĩ và Bỉ được thị
trường đánh giá đạt chất lượng cao.
Hoạt động thương mại, dich vụ tiếp tục phát triển nhanh trong tổng mức hàng hóa
bán lẻ, trên 98% là hoạt động thương mại. Một trong những thành tựu kinh tế nổi bật
của tỉnh là sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu từ 25 triệu USD năm 1992 lên 282 triệu
USD năm 2003, gấp trên 11 lần và đang có chiều hướng tăng nhanh hơn nữa trong
24



Trích đoạn Giải pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status