TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ
NGHIÊN CỨU SỰ CHUYỂN DỊCH ĐA
DẠNG HÓA CÁC MÔ HÌNH SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN PHONG
ĐIỀN, TP. CẦN THƠ
1
LỜI CẢM TẠ
Để có thể hoàn thành tốt đề tài luận văn tốt nghiệp này, em xin chân
thành cám ơn đến tất cả quý Thầy, Cô khoa Kinh tế & Quản trị Kinh doanh đã
tận tình giảng dạy, cũng như cung cấp cho em những kiến thức vô cùng quý
báu trong những năm học vừa qua.
Cám ơn Ba, Mẹ và gia đình mình đã luôn bên con, ủng hộ con cả về vật
chất lẫn tinh thần. Đặc biệt, em xin chân thành cám ơn Thầy Bùi Văn Trịnh,
Thầy Nguyễn Quốc Nghi và Chị Nguyễn Thị Ngọc Yến đã tận tình giúp đỡ
em về mặt chuyên môn, cũng như tạo mọi điều kiện để em có thể hoàn thành
tốt quyển luận văn tốt nghiệp.
Cần Thơ,
2014
Chân thành cám ơn quý Cô Chú,
các Anh
Chị ở các xã, các ấp của
huyện Phong Điền, cùng những người bạn, những người em đã tận tình hỗ trợ
và tạo điều kiện tốt cho em trong quá trình thu thập số liệu.
Tên sinh viên: Nguyễn Trương Mộng Tuyền
Mã số sinh viên: 4114725
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Tên đề tài: Nghiên cứu sự chuyển dịch đa dạng hóa các mô hình
sản xuất nông nghiệp ở huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ
NỘI DUNG NHẬN XÉT
1. Tính phù hợp của đề tài với chuyên ngành đào tạo:
Chủ đề nghiên cứu phù hợp với chuyên ngành đào tạo.
2. Về hình thức trình bày:
Hình thức trình bày thẩm mỹ, đúng theo qui định của Khoa.
3. Ý nghĩa khoa học, tính thực tiễn và cấp thiết của đề tài:
Điểm mạnh của đề tài là kế thừa thành quả của các nghiên cứu trước đây,
từ đó tác giả vận dụng các phương pháp nghiên cứu đáp ứng mục tiêu đặt ra. Đề
tài có ý nghĩa thực tiễn trong bối cảnh cả nước đang chung tay thực hiện
chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho nông hộ.
4. Độ tin cậy của số liệu và tính hiện đại của đề tài:
Với cỡ mẫu phù hợp và các bước tiến hành thu thập số liệu phù hợp, vì
thế số liệu sơ cấp của đề tài mang tính hiện đại và đảm bảo độ tin cậy.
5. Nội dung và kết quả đạt được:
Kết quả nghiên cứu giải quyết được các mục tiêu đặt ra.
6. Kết luận chung: Đạt yêu cầu của một luận văn tốt nghiệp đại học.
Cần Thơ, ngày 10 tháng 12 năm
2014
Người nhận xét
4
PGS.TS. Bùi Văn Trịnh
5
3.2 THỰC TRẠNG TÀI NGUYÊN DU LỊCH HUYỆN PHONG ĐIỀN
– THÀNH PHỐ CẦN THƠ
3.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
3.2.2 Tài nguyên du lịch
3.3 THỰC TRẠNG DU LỊCH Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH
PHỐ CẦN THƠ
CHƯƠNG 4
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHẬN THỨC VỀ VẤN ĐỀ
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA KHÁCH DU LỊCH Ở HUYỆN PHONG
ĐIỀN
4.1 THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG HUYỆN PHONG ĐIỀN
4.1.1 Môtả đặc điểm của khách du lịch được khảo sát
4.1.2 Hành vi khách du lịch
4.1.3 Thực trạng về vấn đề ô nhiễm môi trường huyện Phong Điền
4.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN nhận thức của khách du lịch
về vấn đề bảo vệ môi trường
6
CHƯƠNG1
GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Du lịch góp phần không nhỏ trong việc quảng bá hình ảnh của đất nước,
là một nền kinh tế mũi nhọn góp phần phát triển kinh tế. Tuy nhiên sự phát
triển của du lịch cùng với việc gia tăng số lượng khách du lịch dẫn đến vấn đề
sản xuất đạt 1.584 tỷ đồng vào năm 2015.Nhằm phát huy tối đa tiềm năng của
7
mình, Huyện đang quy hoạch và đầu tư vào phát triển du lịch, khai thác tốt thế
mạnh sông nước miệt vườn và khuyến khích các thành phần kinh tế, đặc biệt
là hộ gia đình đầu tư, mở rộng, xây dựng mới nhiều điểm tham quan, du lịch
thu hút khách trong và ngoài nước.
Một huyện đang trên đà phát triển cần có những giải pháp tối ưu sớm
nhất để môi trường tự nhiên được bảo vệ, quan tâm một cách đúng đắn, góp
phần giúp du lịch nơi đây phát triển theo hướng bền vững. Bảo vệ môi trường
không chỉ là nhiệm vụ của nhà nước, chính quyền địa phương mà còn là ở
người dân; nhận thức của cá nhân, cộng đồng về vấn đề môi trường được
nâng cao thì công tác bảo vệ môi trường ở các điểm đến du lịch mới có hiệu
quả. Chính vì những lý do trên việc nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu nhận thức
của du khách về vấn đề bảo vệ môi trường trong du lịch huyện Phong Điền,
thành phố Cần Thơ” là hết sức cần thiết.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu nhận thức về vấn đề bảo vệ môi trường của du khách từ đó
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của du khách trong hoạt
động bảo vệ môi trườngcủa du lịch huyện Phong Điền.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Phân tích đánh giá của du khách về vấn đề ô nhiễm môi trường trong
du lịch huyện Phong Điền
(2) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức về vấn đề bảo vệ
môi trường của du khách huyện Phong Điền
(3) Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ môi
trường trong hoạt động du lịch Phong Điền
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
môi trường tự nhiên là rất cần thiết trong du lịch. Tuy nhiên mối quan hệ giữa
du lịch đến môi trường rất phức tạp, bao gồm nhiều hoạt động có thể gây tác
động xấu đến môi trường. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh du lịch gây ảnh
hưởng tích cực lẫn tiêu cực đến môi trường. Nhưng theo nghiên cứu của Min,
Xiaoli, Bihu (2010) nhận thức của người dân làm du lịch về sự tác động tiêu
cực của du lịch đến môi trường là rất thấp, họ cho rằng du lịch ảnh hưởng tích
cực nhiều hơn tiêu cực, du lịch nên bảo tồn nhà cửa và các công trình kiến trúc
hơn là bảo tồn cảnh quan thiên nhiên.
1.5.1 Tác động tiêu cực của du lịch đến môi trường
Du lịch tác động đến môi trường theo cả hai hướng tiêu cực và tích cực.
Những nghiên cứu sau đây làm rõ tác động tiêu cực của du lịch đối với môi
trường .Theo Brunt và Courtney, 1999; Gilbert và Clark, 1997; Lankford,
1994 du lịch làm tăng số người xả rác, giao thông và tiếng ồn cũng là một
trong số những tác động tiêu cực của du lịch. Du lịch để lại những hậu quả cho
môi trường như ô nhiễm nước và không khí, phá hoại cây cối, phá hủy rừng,
9
hủy hoại thế giới hoang dã. Những hậu quả trên là kết quả của việc săn bắt, bắt
cá, phá hủy môi trường sống của động vật và cháy rừng (Andereck, K.L.,
1995).
Gartner (1996) cho rằng mức độ tác động đến môi trường khác nhau tùy
thuộc vào loại khách du lịch và cường độ khách du lịch. Việc không kiểm soát
được việc tham quan của du khách, đẫn đến quá tải cũng có thể làm suy thoái
cảnh quan du lịch ( Glenn Kreag 2001 ).
Ngoài ra có nghiên cứu cho rằng khách du lịch tác động đến môi trường
thông qua sự vận chuyến của họ đến điểm đến và các hoạt động của họ tại
điểm đến đó (Gartner, 1996).
Khi du khách đến với môi trường tự nhiên, họ có thể đem đến các chất
độc hại, hóa chất hay các chất sinh học. Khách du lịch có thể vô tình đem đến
Maddox
1985
- Likert
Nuray, Sevgi
2011
- Thống kê mô tả, so sánh.
- ANOVA
ANOVA
Temesgen
2008
- Thống kê mô tả, so sánh
- Probit
LeslieM.Adelman, John
H. Falk, Sylvia james
2000
- Thống kê mô tả, so sánh
- Crosstabs
- Paired T-test
Có rất nhiều định nghĩa về du lịch:
-Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization): “Du lịch
bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục
đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ
ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như những mục đích khác, trong thời gian liên tục
nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại
trừ các trường hợp du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là
một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”
- Nhiều hội nghị quốc tế đã đưa ra những khái niệm về du lịch như sao:
tại Hội nghị Liên hợp Quốc tế về Du lịch ở Roma – Italia (21/8/1963 5/9/1963), thống nhất định nghĩa: “Du lịch là tổng hòa các mối quan hệ, hiện
tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hàng trình và lưu trú của
12
cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ
với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”,
tháng 6 năm 1991 tại Hội nghị Quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada,
các chuyên gia tại hội nghị định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi
tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình),
trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thởi gian đã được các tổ chức du
lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các
hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”.
-Theo điều 1, luật du lịch của Việt Nam, ban hành vào tháng 06/2005 có
hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006: “Du lịch là một trong những hoạt động có liên
quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình ở
góc độ đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong
khoảng thời gian nhất định”
2.1.1.2 Khái niệm khách du lịch
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp
đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
2.1.1.4 Đặc điểm của sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch bao gồm 4 đặc điểm của dịch vụ đó là:
- Tính vô hình: Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình (không cụ thể).
Thực ra nó là một kinh nghiệm du lịch hơn là một món hàng cụ thể. Mặc dù
trong cấu thành sản phẩm du lịch có hàng hóa. Tuy nhiên sản phẩm du lịch
làkhông cụ thể nên dễ dàng bị sao chép, bắt chước (những chương trình du
lịch, cách trang trí phòng đón tiếp...).
- Tính không đồng nhất: Do sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ, vì vậy
mà khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua gây
khó khăn cho việc chọn sản phẩm. Do đó vấn đề quảng cáo trong du lịch là rất
quan trọngjm
- Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Việc tiêu dùng sản phẩm du
lịch xảy ra cùng một thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng. Do đó không thể
đưa sản phẩm du lịch đến khách hàng mà khách hàng phải tự đến nơi sản xuất
ra sản phẩm du lịch.
- Tính mau hỏng và không dự trữ được: Sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch
vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống....Do đó về cơ
bản sản phẩm du lịch không thể tồn kho, dự trữ được và rất dễ hỏng.
Ngoài ra sản phẩm du lịch còn có một đặc điểm khác:
- Sản phẩm du lịch do nhiều nhà tham gia cung ứng.
- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ.
- Sản phẩm du lịch nằm ở xa nơi cư trú của khách du lịch.
2.1.1.5 Khái niệm môi trường du lịch tự nhiên
Các môi trường thành phần thường được xem xét trong cấu trúc của
môitrường du lịch tự nhiên gồm : môi trường địa chất, môi trường nước, môi
14
trường không khí, môi trường sinh thái, sự cố môi trường... có tác động trực
tiếp đến hoạt động du lịch.
đó có nước mặt (ao, hồ, sông suối), nước dưới đất (tầng nông và tầng sâu), đến
nước đại dương, nước biển.Các yếu tố này tồn tại chủ yếu trong thể lỏng, một
phần nằm trong các thể hơi, thể rắn và một phần nhỏ ở dạng liên kết ion.
15
Trong nghiên cứu môi trường du lịch, môi trường nước được đánh giá nhiều ở
góc độliên quan đến khả năng cấp và chất lượng nước phục vụ nhu cầu sinh
hoạt, vui chơi giải trí và tắm biển, nghỉ dưỡng và chữa bệnh của du khách.
- Môi trường không khí: Môi trường không khí là bộ phận của môi
trường tự nhiên tồn tại dưới dạng thể khí. Trong môi trường du lịch, môi
trường không khí có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định các khu du lịch nghỉ
dưỡng, đến tổchức mùa vụ khai thác du lịch… Các yếu tố của môi trường
không khí có vai trò khá lớn trong việc xem xét quyết định hướng quy hoạch
khu du lịch, bố trí không gian và phác đồ kiến trúc quần thể du lịch.Đánh giá
chất lượng môi trường cho hoạt động du lịch qua nghiên cứu mức độ ô nhiễm
của không khí, mức độ thuận lợi và thích hợp của thời tiết và khí hậu đối với
việc tổ chức hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng phục hồi sức khoẻ của du khách.
- Môi trường sinh học: được xem là bộ phận sống (hữu cơ) của môi
trường tựnhiên. Môi trường sinh học là cơ sở duy trì và phát triển cuộc sống
trên hành tinh, điều hòa cán cân nước, làm sạch bầu khí quyển, cung cấp
lương thực thực phẩm cho xã hội do đó môi trường sinh học có vai trò rất to
lớn trong việc thiết lập và bảo vệ cân bằng sinh thái của tự nhiên. Những biến
đổi của môi trường sinh học cả về lượng và chất có ảnh hưởng trực tiếp đến
đời sống và hoạt động sản xuất phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có du lịch
trên hành tinh.
Một trong những yếu tố quan trọng của môi trường sinh học là đa dạng
sinh học.Đa dạng sinh học là một đặc tính quan trọng của môi trường sinh học,
có ảnh hưởng lớn đến tổ chức các hoạt động du lịch, đặc biệt là hoạt động du
lịch sinh thái, du lịch tham quan nghiên cứu. Chính vì vậy không phải ngẫu
âm thanh, cảnh quan......1
2.1.2.2Tác động môi trường của du lịch:
Tác động môi trường là những ảnh hưởng ( xấu hay tốt) do hoạt động phát
triển (trong trường hợp này là du lịch) gây ra cho môi trường, bao gồm các
yếu tố môi trường tựnhiên cũng như các yếu tố môi trường xã hội nhân
văn.Tác động của du lịch lên các yếu tố sinh thái tự nhiên
+ Tác động tích cực:
Bảo tồn thiên nhiên: Du lịch góp phần khẳng định giá trị và góp phần
vào việc bảo tồncác diện tích tự nhiên quan trọng , phát triển các khu bảo tồn
và vườn quốc gia hoặc vườn khu vực.Việc bảo tồn các loài động thực vật
hoang dại dành cho du khách chiêm ngưỡng là một trong những thành công về
mặt kinh tế.
Tăng cường chất lượng môi trường: Du lịch có thể cung cấp sáng kiến
cho việc làm sạch môi trường thông qua kiểm soát chất lượng không khí,
nước, đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và vấn đề môi trường khác. Cải thiện các
tiện nghi môi trường thông qua các chương trình quy hoạch cảnh quan thiết kế
xây dựng và duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc.
1Sách Tài nguyen và môi trường du lịch việt nam. Tác giả Phạm Trung Lương, Đặng Duy Lợi,
Vũ Tuấn Cảnh, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Ngọc Khánh, NXB Giáo Dục
17
Đề cao môi trường: Việc phát triển các cơ sở du lịch được thiết kế tốt có
thể đề cao giá trị các cảnh quan.
Cải thiện cơ sở hạ tầng: Các cơ sở hạ tầng của địa phương như sân bay,
đường xá, hệthống cấp thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc có thể
được cải thiện thông qua hoạt động du lịch.
Tăng cường hiểu biết về môi trường của cộng đồng địa phương thông
Ít nước sinh hoạt sẽ làm cho nước thải bị bẩn hơn( Nồng độ chất ô nhiễm
cao, nhiều cặn lắng, NH3, pH cao, ít chất tẩy giặt...)
Các thói quen ẩm thực khác nhau tạo ra các chất bẩn có nồng độ khác
nhau trong nước thải.
Rác thải
Vứt rác thải bừa bãi là vấn đề chung của mọi khu du lịch. Thu gom và tập kết
chất thải rắn không phù hợp có thể gây những vấn đề nghiêm trọng về cảnh
quan, vệ sinh môi trường, sức khỏe cộng đồng và xung đột xã hội.
Ô nhiễm khí
Du lịch được coi là ngành công nghiệp không khói , tuy nhiên du lịch có thể
gây ô nhiễm khí thông qua phát xả khí thải động cơ xe máy và tàu thuyền, đặc
biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính. Khí xả động cơ có thể gây
hại cho cây cối, động vật hoang dại và các công trình xây dựng bằng đá vôi và
bê tông
Năng lượng
Tiêu thụ năng lượng trong khu du lịch thường không hiệu quả và lãng phí.
Ô nhiễm tiếng ồn
Tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du khách có thể gây phiền hà cho
dân địa phương và các du khách kể cả động vật hoang dã
Ô nhiễm phong cảnh ( visual pollution) được gây ra do:
Khách sạn nhà hàng có kiến trúc xấu xí, thô kệch hoặc xa lạ với kiến trúc và
cảnh quan địa phương, sử dụng các vật liệu ốp lát không phù hợp.Bố trí các
công trình dịch vụ kém khoa học xây dựng san ủi mặt bằng, cải tạo cảnh quan
kém.Sử dụng quá nhiều phương tiện quảng các nhất là các phương tiện xấu
xí.Dây điện , cột điện tràn lanbảo dưỡng kém đối với các công trình xây dựng
và cảnh quan.Phát triển duy lịch hỗn độn , pha tạp , lộn xộn là một trong
những hoạt động gây suy thái môi trường tệ hại nhất.
Làm nhiễu loạn sinh thái:
Theo Nguyễn Văn Tường( 2010) :“ Nhận thức có vai trò rất quan trọng
đối với cuộc sống và hoạt động của con người, nhận thức là thành phần không
thể thiếu trong sự phát triển của con người. Nhận thức là cơ sở để con người
nhận biết thế giới và hiểu biết thế giới đó, từ đó con người có thể tác động vào
thế giới đó một cách phù hợp nhất, để đem lại hiệu quả cao nhất cho con
người. Nhận thức là cơ sở, là nền tảng cho mọi sự hiểu biết của con người, nếu
không có nhận thức thì con người sẽ mãi mãi ở trạng thái của một đứa trẻ sơ
sinh.Nhờ có nhận thức mà con người mới có thể cải tạo được thế giới xung
quanh và cao hơn nữa là con người có thể cải tại được chính bản thân mình,
phục vụ được nhu cầu của chính mình.”
2.1.3.3 Các giai đoạn của nhận thức
Theo triết học Mác- Lênin, nhận thức gồm có ba giai đoạn : Nhận thức
cảm tính, nhận thức lý tính và nhận thức trở về thực tiển.
20
-Nhận thức cảm tínhlà giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Đó là
giai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động vào sự vật nhằm nắm
bắt sự vật ấy.
Giai đoạn này có các đặc điểm:
+Phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức
+Phản ánh bề ngoài, phản ánh cả cái tất nhiên và ngẫu nhiên, cả cái bản
chất và không bản chất. Giai đoạn này có thể có trong tâm lý động vật
+Hạn chế của nó là chưa khẳng định được những mặt, những mối liên hệ
bản chất, tất yếu bên trong của sự vật. Để khắc phục, nhận thức phải vươn lên
giai đoạn cao hơn, giai đoạn lý tính
-Nhận thức lý tính là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát
sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận.
Đặc điểm của giai đoạn này là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự
thể hiện mức độ phù hợp KMO ( Kaiser-Meyer-Olkin) phải lớn hơn 0,5 và
nhỏ hơn 1 thì phân tích nhân tố mới được coi là phù hợpvà thang đo chỉ được
chấp nhận khi tổng phương sai trích lớn hơn 50%. Để xác định số nhân tố
phương pháp thông dụng nhất là sử dụng hệ số eigenvalue (determination
based on eigen value): chỉ có những nhân tố nào có eigenvalue lớn hơn 1 mới
được giữ lại trong mô hình phân tích. Ma trận xoáy nhân tố cũng được đề cập
và xem xét, theo Hair rt al. (2006) hệ số tải nhân tố là chỉ tiêu đảm bảo mức ý
nghĩa thiết thực của EFA, hệ số tải nhân tố >0,3 được xem là đạt được mức tối
thiểu và cỡ mẫu nên chọn ít nhất là 350, hệ số tải nhân tố >0,4 được xem là
quan trọng, nếu cỡ mẫu khoảng 100 thì hệ số tải nhân tố >0,5 được xem là có
ý nghĩa thực tiễn.
Tóm lại phân tích nhân tố cần phải đáp ứng các điều kiện:
- Factor loading > 0,5
- 0,5< KMO< 1
- Kiểm định Bartlett có Sig< 0,05
- Phương sai trích Total Varicance Explained >50%
- Eigenvalue > 1
2.1.4.3 Hồi qui Tobit
Mô hình hồi quy tobit nghiên cứu mối quan hệ tương quan giữa mức độ
(số lượng) biến động của biến phụ thuộc với các biến độc lập. Mô hình Tobit
được dùng để phân tích trong lý thuyết kinh tế lượng đầu tiên bởi nhà kinh tế
học James Tobin năm 1958. Nó còn có tên gọi khác là mô hình hồi qui chuẩn
được kiểm duyệt (censored recression model) hoặc mô hình hồi qui có biến
phụ thuộc bị chặn (limited dependent variable recression model) bởi vì một số
biến quan sát của biến phụ thuộc Y* bị chặn hay được giới hạn.
Mô hình hồi quy tobit có biến phụ thuộc là Y, mang giá trị nhỏ nhất từ 0 cho
đến vô cùng, phụ thuộc vào nhiều biến độc lập X khác. Do đó, mô hình có dạng
sau:
Yi*=
22
không cùng đơn vị đo lường
2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Theo các bài nghiên cứu của các tác giả trước, nhận thức về vấn đề môi
trường đã được chứng minh bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: Tuổi, trình độ
học vấn, thu nhập hàng tháng và biến giả như: địa bàn cư trú.Ngoài ra, trong
một nghiên cứu khác về môi trường và mức độ sẵn lòng chi trả, John ( 2005)
đã chứng minh rằng mức độ sẵn lòng chi trả tỉ lệ thuận với nhận thức về vấn
đề bảo vệ môi trường. Do đó, mức độ sẵn lòng chi trả cho vấn đề bảo vệ môi
trường càng cao đồng nghĩa với nhận thức về vấn đề bảo vệ môi trường của
người dân cao.
23
Thông qua việc lược khảo các tài liệu nghiên cứu trước, tác giả đề xuất
mô hình nghiên cứu với 7 biến.
24
Tuổi
Thu nhập
Giới tính
MỨC ĐỘ SẴN LÒNG CHI TRẢ CHO BVMT
Địa bàn