đánh giá đặc điểm nông sinh học của một số dòng, giống lúa chịu ngập úng tại gia lộc, hải dương - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

HOÀNG SỸ TIẾN

ðÁNH GIÁ ðẶC ðIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA MỘT SỐ DÒNG,
GIỐNG LÚA CHỊU NGẬP ÚNG TẠI GIA LỘC, HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Di truyền và chọn giống cây trồng
Mã số: 60.62.05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN HOAN

HÀ NỘI - 2008


LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực và chưa từng ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam ñoan mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này ñã ñược chỉ rõ nguồn
gốc.

Tác giả luận văn

Hoàng Sỹ Tiến

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………i




Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục các bảng
Danh mục ñồ thị

v
viii

1.

Mở ðầu

1

1.1.

ðặt vấn ñề

1

1.2.

Mục ñích, yêu cầu


hướng giải quyết.

14

2.5.

Nghiên cứu trong và ngoài nước về lúa nước sâu

15

3.

Nội dung và phương pháp nghiên cứu

31

3.1.

Nội dung nghiên cứu

31

3.2.

Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

31

4.



4.3.2. Chiều cao cây

42

4.4.

Khả năng ñẻ nhánh và góc ñộ ñẻ nhánh của các dòng, giống

43

4.5.

Một số ñặc ñiểm hình thái của các dòng, giống tham gia thí
nghiệm.

4.6.

47

Khả năng chống chịu sâu bệnh hại và ñiều kiện bất thuận chủ
yếu

50

4.6.1. Khả năng chống ñổ

51


Chiều cao cây mạ

74

4.9.2. Khả năng ñẻ nhánh giai ñoạn mạ

76

4.9.3. Khả năng hình thành nhánh hữu hiệu

77

4.9.4. ảnh hưởng của môi trường ngập úng ñến sự hình thành
nhánh hữu hiệu của các dòng, giống tham gia thí nghiệm ở
các phương thức làm mạ.

79

4.9.5. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống
trong các phương thức làm mạ

83

4.10.

Một số ñặc ñiểm chính của một số dòng, giống triển vọng

87

5.


Nguồn gốc của các dòng, giống tham gia thí nghiệm

2.

Một số ñặc ñiểm giai ñoạn mạ của các dòng, giống tham gia thí

Trang

nghiệm (vụ mùa 2007)
3.

55

ðánh giá sự ổn ñịnh của khả năng chịu ngập của các dòng, giống
tham gia thí nghiệm ở các giai ñoạn sinh trưởng khác nhau

9.

51

Khả năng chịu ngập của các dòng, giống tham gia thí nghiệm tại
các giai ñoạn sinh trưởng thông qua tỷ lệ sống sót(vụ mùa 2007)

8.

49

Khả năng chống chịu sâu bệnh hại và chống ñổ của các dòng
giống tham gia thí nghiệm (vụ mùa 2007)


59

10. ðánh giá tính ổn ñịnh số bông/m2 của các dòng, giống tham gia
thí nghiệm ở các môi trường khác nhau

61

11. Số hạt/bông của các giống tham gia thí nghiệm ở các môi trường
khác nhau

63

12. ðánh giá sự ổn ñịnh của số hạt/bông của các dòng, giống tham
gia thí nghiệm ở các môi trường khác nhau

64

13. Số hạt chắc/bông của các dòng, giống tham gia thí nghiệm ở các
môi trường khác nhau (vụ mùa 2007)

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………v

66


14. ðánh giá sự ổn ñịnh của số hạt chắc/bông của các dòng, giống
tham gia thí nghiệm ở các môi trường khác nhau

67


20. Khả năng ñẻ nhánh của các dòng giống trong các phương thức
làm mạ (vụ mùa 2008)

78

21. ảnh hưởng của môi trường ngập úng ñến sự hình thành nhánh hữu
hiệu của các dòng, giống trong phương thức làm mạ 1

79

22. ảnh hưởng của môi trường ngập úng ñến sự hình thành nhánh hữu
hiệu của các dòng, giống trong phương thức làm mạ 2

81

23. ảnh hưởng của môi trường ngập úng ñến sự hình thành nhánh hữu
hiệu của các dòng, giống trong phương thức làm mạ 3

81

24. ảnh hưởng của môi trường ngập úng ñến sự hình thành nhánh hữu
hiệu của các dòng, giống trong phương thức làm mạ giâm

82

25. Số bông/m2 của các dòng giống ở các phương thức làm mạ khác
nhau trong ñiều kiện ngập úng (vụ mùa 2008)

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………vi


Trang

Biểu diễn khả năng chịu ngập của một số dòng, giống
tham gia thí nghiệm ở các giai ñoạn xử lý ngập khác
nhau khác nhau

2.

Biểu diễn số bông/m2 của một số dòng, giống tham gia
thí nghiệm ở các môi trường khác nhau

3.

65

Biểu diễn số hạt chắc/bông của các dòng, giống tham
gia thí nghiệm ở các ñiều kiện môi trường khác nhau

5.

62

Biểu diễn số hạt/bông của các dòng, giống tham gia thí
nghiệm ở các môi trường khác nhau

4.

58


Tây Nguyên, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, ðông Bắc Bộ, ðông Nam Bộ và Duyên
Hải miền Trung thì năng suất lúa chỉ bằng 62,3 ñến 95,6% năng suất chung
của cả nước. Nếu so sánh với vùng thâm canh chủ ñộng nước thì năng suất
lúa ở vùng sinh thái lúa ngập úng nói riêng và vùng khó khăn nói chung chỉ
bằng 64,2 - 79,7% (Nguyễn Tấn Hinh, Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật
ñề tài: Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật canh tác lúa cho
những vùng khó khăn, Hải Dương, 5/2006, trang 2).
Công tác chọn tạo giống lúa cho vùng khó khăn (mặn, hạn, úng...) ở

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………1


nước ta ñã ñược tiến hành từ những năm của thập niên 1970. Cho ñến năm
2005 ñã có nhiều giống lúa mới cho vùng khó khăn nói chung và vùng ngập
úng nói riêng ñược chọn tạo và ñưa vào sản xuất, góp phần nâng cao năng suất
lúa của cả nước.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, công tác nghiên cứu, chọn tạo và phát
triển các giống lúa cho vùng khó khăn còn một số hạn chế. Một mặt, các
giống lúa mới tạo ra còn chưa ñáp ứng ñầy ñủ yêu cầu của sản xuất như: tính
chịu ngập úng còn chưa cao; Thời gian sinh trưởng (TGST) của các giống còn
dài; phẩm chất gạo chưa cao và năng suất không ổn ñịnh. Mặt khác, còn thiếu
những nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm nâng cao năng suất
ñối với các giống lúa mới ở những vùng khó khăn.
Xuất phát từ những yêu cầu trên chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài:
“ðánh giá ñặc ñiểm nông sinh học của một số dòng, giống lúa chịu ngập
úng tại Gia Lộc, Hải Dương.”
1.2. Mục ñích, yêu cầu
1.2.1. Mục ñích
- ðánh giá và chọn lọc các dòng, giống có năng suất cao, khả năng chịu
ngập và phục hồi sau ngập tốt ñể phục vụ cho sản xuất.

hàng năm O.nivara. Theo Sano và cộng sự (1958), Oka (1998), Mirshima và
cộng sự (1992) cho rằng: kiểu trung gian giữa O.rufipogon và O.nivara giống
với tổ tiên lúa trồng hiên ñại hơn cả [7]
Theo các nghiên cứu của Ting (1933) Sampath và Rao (1951) về xuất xứ
của lúa trồng châu Á cho rằng: O.sativa có nguồn gốc xuất phát từ Trung Quốc
và Ấn ðộ. Theo kết luận của Chang (1976) thì O.sativa xuất hiện ñầu tiên tại
Himalaya, Miến ðiện, Bắc Lào, Bắc Việt Nam và nam Trung Quốc [4].
Từ các trung tâm này lúa indica phát tán lên ñến lưu vực sông Hoàng
Hà và Dương Tử rồi sang Nhật Bản, Triều Tiên và từ ñó biến dị hình thành
chủng japonica (sinica). Lúa javanica ñược hình thành ở Inñonesia là một sản
phẩm của quá trình chọn lọc từ indica [4].
Theo Nguyễn Thị Trâm (1988) [4] tại Việt Nam qua khảo sát về nguồn

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………3


gen cây lúa cho thấy có 5 loài lúa dại mọc ở các vùng Tây Bắc, Nam Trung
Bộ, Tây Nguyên và vùng ñồng bằng sông Cửu Long, ñó là các loài
O.granulata, O.nivara, O.offcilalis, O.rufipogon, O.ridleyi.
2.1.2. Phân loại lúa trồng
Về phân loại lúa trồng O.sativa cũng còn tồn tạo nhiều quan ñiểm
khác nhau:
Theo quan ñiểm sinh thái học, Morinaga (1954) chia O.sativa thành 5
kiểu sinh thái là Aus, Boro, Bulu, Aman và Tjereh. Theo ñó loài phụ japonica
gần gũi với nhóm Aus, Bulu.
Theo Kato và cộng sự (1928) thì lúa trồng châu Á ñược chia thành hai
loài phụ là indica và japonica.
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu trước ñây, các nhà khoa học tại
Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) ñã thống nhất chia giống lúa trồng châu Á
thành 3 kiểu sinh thái ñịa lý hoặc 3 loài phụ là indica, japonica và javanica [15]

xuyên bị nước biển xâm nhập nhưng cũng ñược nguồn nước ngọt thau chua
rửa mặn nên vẫn có thể canh tác ñược.
Lê Huy Bá [1] cho rằng: Các giống lúa chịu chua phèn ñược canh tác
chủ yếu tại các vùng ñất nhiễm phèn (acid sulphate soid) của ðồng bằng sông
Cửu Long (ðồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên...). ðặc trưng của các
giống lúa này là có khả năng chịu ñược ñộc tố Al2(SO4), Fe2(SO4) và ñộ pH
thấp (
Hiện nay, người nông dân cần các giống lúa ngắn ngày, không phản
ứng với quang chu kỳ ñể dễ dàng tăng vụ, tăng sản lượng lương thực.
2.1.3.2. Khả năng ñẻ nhánh
ðẻ nhánh là chức năng sinh trưởng của cây lúa, nó là một yếu tố quyết
ñịnh ñến năng suất lúa. Trong quá trình sinh trưởng, nhánh lúa ñược hình
thành từ các mắt ở lách lá của mỗi ñốt trên thân chính hoặc mọc từ nhánh phụ
khác trong thời kỳ ñẻ nhánh. Cây lúa ñẻ nhánh theo quy luật chung, tuy nhiên
mỗi giống lúa khác nhau, do phản ứng của chúng với ngoại cảnh, các giống
lúa khác nhau có TGST khác nhau, thời gian ñẻ nhánh cũng khác nhau. Bùi
Huy ðáp (1970) [2] khi nghiên cứu về ñặc tính ñẻ nhánh cho biết “Nhánh
không bao giờ phát triển khi lá tương ñương với nó chưa phát triển xong.
Nhánh không phát triển nữa khi lá bị khô”.
Cũng nghiên cứu về vấn ñề này, Vũ Tuyên Hoàng, Nguyễn Thế Hiển
và Trần Thị Nhàn [6] cho biết: những giống lúa ñẻ sớm, tập trung sẽ trỗ dễ và
thường cho năng suất cao hơn. ðinh Văn Lữ (1978) [6] cho rằng: những
giống lúa ñẻ rải rác thì trỗ bông không tập trung, lúa chín không ñều, không

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………7


có lợi cho quá trình thu hoạch, dẫn ñến giảm năng suất.
Qua theo dõi các tổ hợp lai, Nguyễn Văn Hiển [3] nhận xét: kiểu ñẻ
nhánh chụm là lặn, kiểu ñẻ nhánh xoè là trội.
Các nhà khoa học tại Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) [17] ñều nhất
trí cho rằng: tính ñẻ nhánh khoẻ di truyền số lượng, có hệ số di truyền thấp
ñến trung bình và chịu ảnh hưởng rõ rệt của ñiều kiện ngoại cảnh.
2.1.3.3. Chiều cao cây lúa
Chiều cao cây là một chỉ tiêu hình thái liên quan ñến nhiều ñặc tính
khác, ñặc biệt là tính chống ñổ. Guliaep (1975) xác ñịnh: có 4 gen kiểm tra
chiều cao cây. Khi nghiên cứu các dạng lùn tự nhiên và ñột biến, ông nhận

vùng này có nhiều dạng lúa khác nhau, tổ tiên xa xưa của loài Oryza sativa L.
Các dạng lúa nước sâu còn tìm ñược từ loài Oryza glaberrima. Loài này có
tập tính sinh trưởng theo kiểu bò và có khả năng ngóc ñầu khi nước cạn. ðây
là một trong những ñặc ñiểm của giống lúa nước sâu.
Có hai loài lúa dại là Oryza rufipigon f.spontanea và Longistaminata,
chúng có một số gen ñiều khiển sự vươn cao thân theo mức nước tăng lên
(Chang.T.T. 1976; Quat. 1977). Như vậy ñặc tính của lúa nước sâu có ñiểm chung
trong mối quan hệ giữa loài Oryza sativa và Oryza glaberrima [31], [67].
Các giống lúa nước sâu ñều có quá trình tiến hoá từ giống lúa hoang dại
Oryza perennis moench (Choudhury.1975). Tất cả các giống lúa nổi hiện nay
ñều thuộc loại hình Indica, chưa tìm thấy giống lúa nào thuộc loại hình
japonica, cũng như chưa truyền ñược gen nổi của indica vào japonica
(Oka.11975), (Bùi Chí Bửu.1987) [9]. ðể làm rõ sự khác biệt giữa loại hình
lúa nổi và không nổi, Morshima (1974) ñã thiết lập công thức với sự phối hợp
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………9


tuyến tính của 4 yếu tố [56]:
XF = 1,00A + 0,47B + 0,50C + 0,24D
Trong ñó:
XF

: Là trị số nổi

A

: Số lóng vươn dài hơn 3cm

B



: Chiều dài tổng cộng số lóng thân ñược tăng thêm ñến
ngày thứ 81 (sau khi gieo)

E

: Tỷ lệ vươn lóng giữa ñiều kiện nước sâu so với ñiều
kiện nước bình thường

FD

: Khả năng nổi

2.3. Khái niệm về mức nước sâu và sự phân bố vùng lúa nước sâu
2.3.1. Khái niệm về mức nước sâu.
Hầu hết cây lúa ở khu vực châu Á ñều phát triển trong mùa mưa, mức
nước trên ñồng ruộng thường quá sâu ñối với các giống lúa mới cải tiến, năng
suất cao. Bên cạnh các yếu tố hạn chế như ñất ñai, sâu bệnh hại, khô hạn… thì
ñộ sâu mức nước và TGST của giống là những yếu tố quan trọng bậc nhất.

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………10


Mức nước trên ruộng bao nhiêu ñược xem là nước sâu? Câu hỏi này ñã ñược
ñặt ra từ khi có sự hợp tác quốc tế về chương trình nghiên cứu lúa nước sâu.
Ikehashi (1981) [46] chỉ ra rằng những trở ngại khó khăn ở vùng lúa nước sâu
cũng tương tự như ở vùng ñất mặn. Một hội thảo về kỹ thuật sản xuất lúa ở
ñiều kiện ñất trũng ñã ñược tổ chức tại Chisurah vào tháng 10 năm 1977. Hội
thảo ñã tập trung thảo luận về sản xuất vùng ñất trũng nhờ nước trời và ñã
phân loại ñất trũng thấp dựa theo ñộ sâu mức nước trên ruộng như sau:

ở Bangladesh cách ñây hàng ngàn năm. Tổng diện tích lúa nước sâu vào
khoảng 2,5 triệu ha, chiếm 23,1% tổng diện tích lúa [72], trong ñó có 12%
diện tích gieo xạ bằng giống Aman hoặc các giống lúa nước sâu. Năng suất
lúa nước sâu cũng thường rất thấp, từ 0,8 - 1,0 tấn/ha. Sản lượng lúa nước sâu
chiếm 12% sản lượng lúa của cả nước.
- Burma: Theo “Rice Almanac” (1997) Burma có diện tích lúa nước
sâu khoảng 11.000 ha, chiếm 42,2% tổng diện tích lúa [72]. Hầu hết diện tích
lúa nước sâu nằm ở vùng ñồng bằng, tạo thành do nhánh của sông Irrwady ở
phía nam Burma và vùng ñất thấp của Pegu và Rangoon. Trong những vùng
này, nước dâng cao dần trong suốt mùa mưa và ñạt mức nước sâu tối ña vào
tháng 8. Sự ngập lụt ở những vùng này chủ yếu thuộc loại “Stagnant flood”,
mức nước sâu trung bình từ 30 - 100cm, tối ña có thể tới 300 - 400cm.
- Thái Lan: Theo D.V.Sheshu và B.A.Dewan (1979) [75], Thái Lan có
khoảng 800.000 ha lúa nước sâu, tuy nhiên thực tế mới chỉ gieo trồng ñược
582.000 ha, tập trung chủ yếu ở 9 tỉnh và các ñồng bằng trung tâm. Những
trận mưa ở ñồng bằng trung tâm thường bắt ñầu từ giữa tháng 4, mức nước
cao nhất vào tháng 10. ðộ sâu mức nước từ 1 - 4m. Mức nước trên các cánh
ñồng bắt ñầu tăng khoảng 7 - 8cm /ngày trong tháng 8 và ñạt mức sâu nhất
vào tháng 10, giảm dần trong tháng 12. Tình trạng ngập lụt chủ yếu là dạng
“Stagnant flood”. Nhìn chung năng suất lúa nước sâu của Thái Lan còn thấp,

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………12


từ 1,0 - 1,5 tấn/ha.
- Indonesia có khoảng 7 triệu ha ñất ñầm lầy bị ảnh hưởng bởi thuỷ
triều. Khoảng 3 triệu ha nằm dọc theo bờ phía ñông của Sumatra và 2 triệu ha
ở miền Nam và trung tâm Kalimantan là thích hợp cho gieo xạ lúa. Những
vùng bị ảnh hưởng trực tiếp của thuỷ triều cộng với mức nước dâng lên theo
mùa mưa, nhìn chung là phụ thuộc vào từng ñịa phương nằm dọc theo các con

Tính, Nguyễn Hữu Thành (1978) [84], loại hình ñất thấp trũng ở ñây có thể
phân làm 3 loại khác nhau:
+ Loại nước sâu: Diện tích bị ngập theo mùa, ñộ sâu mức nước từ 11,5m trong suốt mùa mưa.
+ Loại nước sâu trung bình: Mức nước từ 0,5 - 1m trong mùa mưa.
+ Loại nước nông: Diện tích này bị ngập trong thời gian ngắn, sau
những trận mưa lớn, ñộ sâu mức nước từ 0,5 - 0,8m.
2.4. Những vấn ñề ñặt ra ñối với loại hình canh tác lúa nước sâu và
hướng giải quyết.
Nhìn chung năng suất của loại hình lúa nước sâu còn rất thấp, chỉ ñạt
trên dưới 2 tấn/ha, TGST lại kéo dài từ 5 - 7 tháng. Những nguyên nhân chính
dẫn ñến năng suất thấp là do khả năng chịu khô hạn ñầu vụ của giống kém,
tính chống chịu sâu bệnh hại yếu, ñặc biệt là kháng sâu ñục thân và tuyến
trùng hại rễ. Ngoài ra còn có ñặc ñiểm là rất rễ rụng hạt (Xuân.V.T và
D.G.Kanter, 1975) [94]. Nhưng nguyên nhân chủ yếu và quan trọng hơn cả ñó
chính là khả năng chịu ngập và vươn lóng vượt nước của cây lúa còn yếu
(HilleRisLambers và Seshu, 1982) [43].
ðối với hệ thống canh tác lúa nước sâu, cần phải nghiên cứu chọn tạo
bộ giống lúa phù hợp với ñiều kịên vùng sinh thái ngập nước như: giống phải
cao cây, cứng cây, chống ñổ tốt, chống chịu sâu bệnh hại khá, ñặc biệt là khả
năng chịu ngập, vươn lóng và cho năng suất cao ñể thay thế các giống ñịa
phương cao cây, dễ ñổ, chịu ngập kém và năng suất thấp.

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………14


Tại Hội thảo quốc tế về lúa nước sâu năm 1978, M.S.Swaminathan [82]
ñã nhấn mạnh việc tạo giống lúa cải tiến cho vùng nước sâu trung bình
(khoảng 1m) và vùng rất sâu (từ 2-5m)
Ở Việt Nam, vùng ñồng bằng sông Hồng và một số tỉnh phía Bắc, trên
các chân ruộng thấp trũng, trong vụ mùa thường có mức nước trên ruộng từ

cứu di truyền tập tính nổi ở lúa [68]. Các tác giả cho rằng có 2 gen trội nhưng
không trội hoàn toàn ñiều khiển tập tính nổi.
Trong những năm 1950, một số nghiên cứu về lúa nước sâu ñược tiến
hành tại Nhật Bản và Bangladesh. Các tác giả Yamada (1959), Yamada và
Ota (1956), Yamada và CTV (1954) , ALim và Sen (1955), ALim và Zaman
(1958) ñã công bố kết quả nghiên cứu về tính chịu ngập ở lúa [87], [89], [88],
[24], [25]. Vào những năm 60, Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) ñã tập
trung nghiên cứu về lúa nước sâu. Các nhà khoa học Nhật Bản ñã báo cáo
kết quả nghiên cứu có liên quan ñến khả năng nổi của các loài lúa dại và
lúa trồng ở các nước khác nhau vùng châu Á. Morishima và CTV (1962)
cho rằng các loài lúa dại không chỉ có khả năng nổi mà chúng còn có khả
năng chịu hạn [57].
Năm 1964, khi ñi thăm Thái Lan, Morishima-Okino ñề nghị chương
trình lai tạo giữa các giống lúa nổi và không nổi, con lai của những tổ hợp này
có ñóng góp ý nghĩa cho những vùng nước sâu, nơi mà nước sâu luôn là mối
ñe dọa với các giống lúa thông thường [91].
Các nhà tạo giống của Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) tập trung
vào hướng tạo giống có chiều cao cây trung bình từ 115-130cm, cao hơn các
giống lúa lùn và thấp hơn các giống lúa cao cây cổ truyền ñể trồng vào vùng
có mức nước sâu trung bình, thỉnh thoảng bị ngập lụt (Suichi Yoshida, 1985)
[29]. Thuật ngữ “Floating dwaf” ñã ñược sử dụng rộng rãi trong các chương
tình lai tạo giữa giống lúa lùn với các giống lúa nổi. Các dòng lai với IR42
như IR442-57; IR442-58…ñã ñược trồng rộng rãi ở nhiều nơi có diện tích

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………16


Trích đoạn Khả năng chịu ngập của cỏc dũng, giốngtham gia thớ nghiệm Chiều cao cõy mạ Khả năng ủẻ nhỏnh giai ủ oạn mạ Ảnh hưởng của mụi trường ngập ỳng ủế n sự hỡnh thành nhỏnh hữu hi ệu của cỏc dũng, giống tham gia thớ nghiệm ở cỏc phương thức làm mạ. BANG PHAN TICH PHUONG SAI TOAN BO DE DANH GIA DO ON DINH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status