1
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân trọng cảm ơn Ban giám hiệu; Phòng Đào tạo sau đại học;
Phòng Công tác học sinh và sinh viên; Các thầy cô trong các Bộ môn toàn trường
đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, rèn luyện, tu dưỡng tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Viện Đào tạo Y học Dự
phòng và Y tế Công cộng, Bộ môn dinh dưỡng và An toàn thực phẩm đã giúp
đỡ để em hoàn tất luận văn này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến PGS.TS. Lê Thị Hương,
người đã hướng dẫn em kể từ lúc bắt đầu cho tới khi hoàn thành luận văn. Em
vô cùng cảm ơn cô trong suốt quá trình nghiên cứu đã hướng dẫn tận tình và
chia sẻ những kinh nghiệm quý báu của cô mà nhờ đó em rút ra những bài
học nghiên cứu cho mình.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới bố, mẹ, chị gái, những
người thân yêu của em đã luôn ở bên hỗ trợ, động viên và tạo mọi điều kiện
cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn tất luận văn này.
Hà Nội, ngày 2 tháng 9 năm 2014
Người thực hiện
Học viên
Nguyễn Thị Hoài Thương
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
2
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
----***---LỜI CAM ĐOAN
BSMHT
Bú sữa mẹ hoàn toàn
CC/T
Chiều cao theo tuổi
CNSS
Cân nặng sơ sinh
CN/CC
Cân nặng theo chiều cao
CN/T
Cân nặng theo tuổi
HAZ
Chiều cao/Tuổi (Height Age Z-Score)
KT
Kiến thức
SD
WHO
Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)
MỤC LỤC
4
Tên bảng
Trang
5
Tên biểu đồ
Trang
6
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội phát triển thì việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ngày càng nhận được
sự quan tâm nhiều hơn của gia đình và toàn xã hội. Trẻ em được chăm sóc,
nuôi dưỡng và được học tập một cách bình đẳng, không phụ thuộc vào hoàn
cảnh riêng về gia đình, dân tộc, địa phương không những là mục tiêu của
Đảng và Nhà nước mà còn là mong ước thiết tha của những người làm cha,
và cách thành phố Yên Bái 110 km về hướng Tây Tây Nam. Huyện Trạm Tấu
có diện tích 742km² và 26,704 người (tổng điều tra dân số 2009) là vùng chủ
yếu có người các dân tộc thiểu số sinh sống. Đây là khu vực có tỷ lệ SDD cao
của tỉnh Yên Bái. Theo số liệu báo cáo của Sở Y tế Yên Bái thì tỷ lệ SDD trẻ
em là 30,1%. Các nghiên cứu về TTDD của trẻ em và kiến thức (KT), thực
hành (TH) dinh dưỡng của các bà mẹ dân tộc thiểu số còn ít, vì vậy, chúng tôi
thực hiện nghiên cứu này với mục tiêu như sau:
Mục tiêu chung: Mô tả tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên
quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới năm tuổi tuổi vùng dân tộc
thiểu số, huyện Trạm Tấu tỉnh Yên Bái năm 2014.
Mục tiêu cụ thể:
1.
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới năm tuổi vùng dân tộc
thiểu số, huyện Trạm Tấu tỉnh Yên Bái năm 2014.
2.
Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới
năm tuổi vùng dân tộc thiểu số, huyện Trạm Tấu tỉnh Yên Bái năm 2014.
8
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU.
1.1. Một số khái niệm.
-
Dinh dưỡng: Là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các
thành phần dinh dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng
-
Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị: Mức tiêu thụ năng lượng và các
thành phần dinh dưỡng mà trên cơ sở kiến thức khoa học hiện nay,
được coi là đầy đủ để duy trì sức khỏe và sự sống của mọi cá thể bình
thường trong một quần thể dân cư [6].
9
Thức ăn cơ bản
Thức ăn giàu protid
Ngũ cốc
Thịt, cá, thuỷ sản
Khoai củ
Trứng, sữa
Đậu đỗ...
Sữa mẹ
Thức ăn giàu vitamin Thức ăn giàu năng
và khoáng chất
lượng
Rau xanh
cần thiết và hỗ trợ cho việc hấp thu các vitamin tan trong dầu (A,D,E,K).
Ở trẻ đang bú mẹ, vì 50-60% năng lượng ăn vào là do chất béo của sữa
mẹ cung cấp, nên khi trẻ bắt đầu ăn bổ sung, nhất là khi trẻ cai sữa mẹ cần hết
sức chú ý ngăn ngừa tình trạng giảm chất béo đột ngột do được bú mẹ ít đi
hoặc không còn được bú sữa mẹ nữa. Do đó, nhu cầu khuyến nghị về lipid
cho trẻ em rất cao.
Bảng 1.1. Nhu cầu lipid khuyến nghị cho trẻ dưới 5 tuổi [7].
LỨA TUỔI
NHU CẦU KHUYẾN NGHỊ
(% tổng năng lượng/ngày )
Từ 1-3 tuổi
35-40
Từ 4-6 tuổi
20-25
1.2.5. Nhu cầu về vitamin và chất khoáng.
Vitamin là thành phần không thể thiếu đối với trẻ nhỏ mặc dù trong cơ
thể sự hiện diện của vitamin rất nhỏ nhưng lại rất cần thiết. Phần lớn vitamin
không được tổng hợp bởi cơ thể mà được cung cấp từ thức ăn. Do đòi hỏi về
cường độ phát triển và sự chuyển hoá cao nên nhu cầu vitamin ở trẻ em cao
hơn người lớn. Vì thế, trong sữa mẹ cũng như khẩu phần ăn của trẻ cần cung
cấp nhiều loại vitamin, nhất là vitamin A và C từ các nguồn tự nhiên trong
rau, củ quả, trái cây. Bên cạnh đó, vitamin D cũng rất cần thiết cho sự tái tạo
và phát triển của xương, trong khẩu phần ăn hàng ngày không cung cấp đủ
nhu cầu. Tắm nắng hợp lý mỗi ngày giúp cho quá trình tổng hợp vitamin D
tâm. Uganda là quốc gia có tới 33% trẻ em trên toàn quốc bị SDD và mỗi năm
cần tới 310 triệu USD để khắc phục tình trạng này [11].
12
Tỷ lệ trẻ em thiếu cân ở Đông Nam Á, Bangladesh, Ấn Độ và Pakistan
chiếm 1/2 tổng số trẻ thiếu cân trên thế giới. Tại Đông Á và Trung Quốc, số
trẻ em thiếu cân giảm 6,7% mỗi năm, tuy nhiên tình hình này vẫn còn diễn
biến rất chậm ở các nước khác trong khu vực [12]. Năm 2012 tại Ấn Độ,
Mesharam II và cộng sự nghiên cứu trên 14.587 trẻ em từ 0 đến 5 tuổi cho
thấy tỷ lệ SDD theo các thể nhẹ cân, thấp còi và gầy còm lần lượt là 49%;
51% và 22% [13]. Nghiên cứu của J. Alom và cộng sự (2012) tại Bangladesh
cho thấy 25% trẻ SDD thể thấp còi, 28% thể nhẹ cân và 14% thể gầy còm
[14]. Một nghiên cứu ở các vùng nghèo của nước láng giềng Trung Quốc trên
2.201 trẻ em dưới 5 tuổi của H.Zhou và cộng sự (2012) thấy tỷ lệ SDD nhẹ
cân, thấp còi và gầy còm lần lượt là 13,1%; 19,3% và 5,5%.
Đối với khu vực Đông Nam Á, các nước có tỷ lệ SDD cao và không có
khả năng phục hồi đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ là giảm tỷ lệ SDD
thể gầy còm: Lào (40%). Campuchia (36%), Myanmar (32%) và Đông Timor
(46%). Các nước đã đạt được tiến bộ trong giảm SDD cấp độ quốc gia song một
bộ phận dân cư vẫn phải đối mặt với điều kiện chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng
kém Indonesia (28%), Philippine (28%) và Việt Nam (21%) [11].
1.3.2. Tình hình suy dinh dưỡng tại Việt Nam.
Suy dinh dưỡng do thiếu protein- nǎng lượng (thường gọi là SDD) là
tình trạng thiếu dinh dưỡng quan trọng và phổ biến ở trẻ em nước ta. Biểu
hiện của SDD là trẻ chậm lớn và thường hay mắc bệnh nhiễm khuẩn như tiêu
chảy và viêm đường hô hấp, trẻ bị giảm khả nǎng học tập, nǎng suất lao động
kém khi trưởng thành.
Tình trạng dinh dưỡng của người Việt Nam đã được cải thiện đáng kể
Bảng 1.2. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em theo các vùng sinh thái năm 2012.
Vùng sinh thái
Đồng bằng sông Hồng
Trung du và miền núi phía Bắc
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung
Tây Nguyên
SDD
CN/T (%) CC/T (%)
11,8
20,9
19,5
25,0
21,9
31,9
31,2
36,8
CN/CC (%)
5,5
7,4
7,5
8,1
14
Đông Nam Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
Mô hình nguyên nhân của UNICEF cho thấy nguyên nhân của SDD là
đa dạng, có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề y tế, lương thực-thực phẩm và
thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình [24], [25], [26], [27].
Nguyên nhân trực tiếp phải kể đến là thiếu ăn về số lượng hoặc chất
lượng (tình trạng nghèo đói) và mắc các bệnh nhiễm khuẩn [24], [28]. Trẻ em
lứa tuổi từ 0 – 5 tuổi là đối tượng bị SDD cao nhất [24], [29] bởi vì cơ thể ở
giai đoạn này phát triển nhanh, nhu cầu dinh dưỡng rất cao và không được ăn
bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng.
Người ta thường cho rằng những vùng ăn chủ yếu các loại ngũ cốc, củ
thường hay dẫn đến thiếu protein, nhưng nhiều nghiên cứu gần đây lại cho
15
thấy khẩu phần ăn của trẻ thiếu năng lượng trầm trọng, ngay cả khi mức thiếu
protein mới ở mức đe doạ [24], [30].
Sữa mẹ và thức ăn bổ sung đóng vai trò quan trọng đối với thời gian bị
SDD và thể loại SDD [24], [27], [31]. Các quan niệm dinh dưỡng sai lầm của
người mẹ hoặc gia đình trong vấn đề chăm sóc thai sản, nuôi con bằng sữa mẹ
và thức ăn bổ sung là những nguyên nhân quan trọng, trực tiếp làm cho trẻ dễ
bị SDD. Trẻ không được bú sữa mẹ, hoặc bú chai nhưng số lượng sữa không
đủ, dụng cụ bú sữa không đảm bảo vệ sinh đều có thể dẫn đến SDD. Khi cho
ăn bổ sung muộn, như ở một số nước châu Phi, các trường hợp SDD nặng
thường xảy ra vào năm thứ 2 [32]. Cho ăn bổ sung quá sớm, hoặc cho trẻ ăn
thức ăn đặc quá muộn, số lượng không đủ và năng lượng, protein trong khẩu
phần ăn thấp cũng dễ dẫn tới SDD.
16
- Môi trường văn hoá - xã hội
- Các nguồn tiềm năng (Môi trường, công nghệ, con người)
Tình trạng SDD trẻ em
Khẩu phần ăn của trẻ em
17
Hình 1: Mô hình nguyên nhân - hậu quả SDD của UNICEF [2].
18
1.4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ.
1.4.2.1. Chăm sóc dinh dưỡng bà mẹ khi có thai và cho con bú.
Khi mang thai, dinh dưỡng, thói quen dinh dưỡng tốt sẽ cung cấp đầy
đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho thời kì mang thai, cho sự phát triển và
lớn lên của thai nhi .
Các yếu tố nguy cơ dẫn dến cân nặng sơ sinh (CNSS) của trẻ thấp trước
tiên là tình trạng chăm sóc dinh dưỡng bà mẹ trước và trong khi có thai.
TTDD kém, chế độ ăn uống không cân đối, không đủ năng lượng và các chất
dinh dưỡng cần thiết cho bà mẹ khi mang thai có thể dẫn đến SDD bào thai và
gây ra những hậu quả cho đứa trẻ về sau .
Tình trạng thiếu năng lượng trường diễn, thiếu vi chất dinh dưỡng diễn ra
phổ biến ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Năm 1999, tỷ lệ thiếu năng lượng trường
diễn ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 32,8%. Điều này có thể làm tăng các rủi ro
về thai sản, tăng tỷ lệ tử vong chu sinh, SDD bào thai và thiếu sữa [33].
Việc theo dõi tình trạng thai nhi và chăm sóc bà mẹ khi mang thai như
số lần khám thai, thời điểm khám thai, số cân nặng tăng khi mang thai, bổ
Bú sớm ngay sau đẻ tạo sự bền chặt tình cảm mẹ con trong suốt cuộc đời
sau này [34], [35], [36].
-
Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu mà không ăn thêm thức ăn gì
khác kể cả nước uống vì bản thân người mẹ có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu
dinh dưỡng mà đứa trẻ cần, mọi thức ăn thêm khác trong giai đoạn này đều
có thể mang đến cho trẻ các rủi ro về sức khỏe [34], [37], [38].
-
Trẻ dưới 1 tuổi, sữa mẹ là thức ăn qúi giá nhất mà không một thức ăn nhân
tạo nào có thể so sánh. Trẻ cần được bú mẹ thường xuyên, bú kéo dài tới
18-24 tháng hoặc lâu hơn [34], [35], [36].
1.4.2.3. Thực hành cho trẻ ăn bổ sung.
Ăn bổ sung (ABS) hay còn gọi là ăn sam, ăn thêm ở miền Bắc hay ăm
dặm ở miền Nam [39]. Theo khuyến cáo của WHO, cần cho trẻ bú mẹ hoàn
toàn trong 6 tháng đầu tiên của cuộc đời [40]. Trẻ cần được ABS đúng độ tuổi
( khi trẻ tròn 6 tháng tuổi) [40].
Kết quả nghiên cứu của WHO tại 9 nước đang phát triển chỉ ra rằng sữa
mẹ chỉ có xu hướng thỏa mãn nhu cầu của trẻ trong vòng 6 tháng đầu [41].
Do vậy để đáp ứng nhu cầu ngày một tăng lên của trẻ về thể chất, đến một
giai đoạn nhất định trẻ cần được ăn thêm các thức ăn khác ngoài sữa mẹ để
đảm bảo nhu cầu [42].
Theo WHO và UNICEF thì ABS là quá trình nuôi trẻ, tập cho trẻ thích
ứng với sự chuyển đổi chế độ ăn từ một khẩu phần hoàn toàn dựa vào sữa mẹ
Vấn đề chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau khi sinh còn yếu, tỷ
lệ nạo hút thai cao, một số bệnh máu, bệnh mạn tính của bà mẹ có ảnh
hưởng đến sức khỏe và dinh dưỡng đứa con sau này.
21
-
Môi trường sống không đảm bảo vệ sinh, hố xí không đạt tiêu chuẩn, tập
quán sử dụng phân tươi để tưới rau gây ô nhiễm môi trường, tăng tỷ lệ
mắc bệnh giun sán.
-
Các bệnh được xếp hàng đầu thường gặp ở trẻ em đó là ỉa chảy và nhiễm
khuẩn hô hấp cấp. Số lần mắc trung bình bệnh ỉa chảy và viêm phổi của trẻ
em trong 1 năm là 2,2 lần và 1,6 lần.
1.5. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng.
1.5.1. Các loại phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng.
Hiện nay có bốn phương pháp chính được dùng để đánh giá TTDD của
trẻ em [44] :
-
Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống;
-
Các chỉ tiêu nhân trắc;
đồ tăng trưởng.
Chiều cao theo tuổi (CC/T):
Chỉ số này đã được khuyến cáo sử dụng của WHO để phát hiện trẻ
"thấp còi" kết hợp với cân nặng theo chiều cao. Chiều cao theo tuổi thấp phản
ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc trong quá khứ làm cho đứa trẻ bị
thấp còi và làm gia tăng khả năng mắc bệnh. Tỷ lệ thấp còi cao nhất là từ 2
đến 3 tuổi [44]. Tỷ lệ hiện mắc SDD thể thấp còi phổ biến hơn tỷ lệ hiện mắc
SDD thiếu cân ở mọi nơi trên thế giới vì có những trẻ bị thấp còi trong giai
đoạn sớm của cuộc đời có thể đạt được cân nặng bình thường sau đó nhưng
vẫn có chiều cao thấp [50].
Cân nặng theo chiều cao (CN/CC):
Khi chỉ số này dưới -2 độ lệch chuẩn so với quần thể tham khảo được
định nghĩa là gầy còm, hay SDD cấp tính. Cân nặng theo chiều cao thấp cho
thấy sự thiếu nguồn thực phẩm xảy ra trong khoảng thời gian gần đây làm cân
nặng của trẻ giảm nhanh.
Các chỉ số nhân trắc còn được WHO sử dụng để đánh giá mức độ trở
thành vấn đề sức khỏe có ý nghĩa cộng đồng khi dựa vào tỷ lệ thiếu cân, thấp
còi và gầy còm của trẻ em trong cộng đồng ấy.
23
Bảng 1.3. Các giá trị ngưỡng có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng của chỉ số
nhân trắc dinh dưỡng trẻ em.
Chỉ số
Thiếu cân
Giá trị ngưỡng hiện mắc có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng
[51], [52]
< 10% : thấp
24
•
Phương pháp điều tra tần xuất của thực phẩm.
Thông qua hỏi trực tiếp hoặc sử dụng các phiếu điều tra trong đó có
nêu các câu hỏi để đối tượng tự trả lời. Mục đích của phương pháp này là tìm
hiểu tính thường xuyên của các loại thực phẩm trong thời gian nghiên cứu,
tìm hiểu số bữa ăn, khoảng cách giữa các bữa ăn, giờ ăn…
Nhờ phương pháp này ta có thể biết:
+ Những thức ăn phổ biến nhất (nhiều người hoặc gia đình dùng nhất)
+ Những thức ăn có số lần sử dụng cao nhất
+ Những dao động theo mùa
Số loại thực phẩm cần hỏi phụ thuộc vào yêu cầu nghiên cứu, nhiều
loại phiếu chỉ tập trung vào tần xuất sử dụng một số loại thực phẩm mà người
ta cần nghiên cứu [56].
1.5.4. Phương pháp điều tra tập quán ăn uống.
Là hệ thống câu hỏi nhằm thu thập các thông tin như các quan niệm,
niềm tin, sở thích đối với thức ăn cũng như cách chế biến, phân bố các thức
ăn trong ngày, cách ăn uống trong các dịp lễ hội… Tìm hiểu tập quán ăn uống
và xác định nguyên nhân của chúng là cần thiết, vừa để tiến hành giáo dục
dinh dưỡng có hiệu quả, vừa đề ra phương hướng sản xuất thích hợp. Sự hình
thành và phát triển tập quán ăn uống chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tâm lý,
kinh tế xã hội, tôn giáo, lịch sử và địa lý.
Thảo luận nhóm (TLN) có trọng tâm là một kỹ thuật để điều tra tập
quán ăn uống của địa phương [56].