Kết quả điều trị trượt đốt sống thắt lưng do thoái hóa bằng phẫu thuật ghép xương tự thân sau bên và cố định cột sống qua cuống - Pdf 31

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trượt đốt sống là sự dịch chuyển bất thường của đốt sống phía trên so
với đốt sống phía dưới. Bệnh được bác sĩ sản khoa Herbinaux phát hiện đầu
tiên năm 1782, đến năm 1854 Kilian đưa ra thuật ngữ trượt đốt sống
(spondylolisthesis) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, ghép bởi hai từ Spondilos
có nghĩa là đốt sống và Olisthy có nghĩa là trượt.
Bệnh trượt đốt sống thường gặp ở đốt sống thắt lưng, có tỷ lệ mắc bệnh
trong dân cư là 5-7%. Nguyên nhân của trượt đốt sống là do bệnh lý bẩm sinh
của cột sống, khe hở eo cung sau đốt sống, thoái hóa cột sống, sau chấn
thương cột sống, sau phẫu thuật cột sống và các bệnh lý khác của cột sống,
nhưng hay gặp nhất là trượt đốt sống do hở eo và trượt đốt sống do thoái hóa.
Trượt đốt sống do thoái hóa liên quan đến biến đổi do thoái hóa cột sống
mà không có tổn thương cung sau. Bệnh được Junghams mô tả đầu tiên vào
năm 1930 với tên gọi giả trượt (pseudospondylolisthesis) sau được Newman
gọi tên là trượt đốt sống do thoái hóa (degenerative spondylolisthesis). Bệnh
gặp tương đối phổ biến, chiếm 53,3% bệnh nhân trượt đốt sống nói chung.
Điều trị bệnh lý trượt đốt sống do thoái hóa vẫn có nhiều vấn đề còn phải
thảo luận, đó là lựa chọn phương pháp điều trị nào, bảo tồn hay phẫu thuật?
khi nào thì chỉ định phẫu thuật? Có nhiều phương pháp phẫu thuật điều trị
bệnh trượt đốt sống nói chung, nhưng mục tiêu cuối cùng là giải chèn ép thần
kinh và làm vững cột sống lâu dài. Ghép xương và cố định cột sống bằng
dụng cụ theo lối vào sau được nhiều tác giả đồng tình. Các phương pháp ghép
xương được nhiều nghiên cứu đánh giá về tính hiệu quả, trong đó ghép liên
thân đốt và ghép sau bên được nhiều nghiên cứu so sánh, và cho thấy kết quả
điều trị tương đương nhau. Tuy nhiên đối với ghép liên thân đốt có thời gian
mổ kéo dài, nguy cơ tổn thương thần kinh lớn hơn và có nguy cơ sẹo dính

1


1.1.1. Giải phẫu cột sống thắt lưng
Vùng CSTL gồm 5 đốt sống lưng (từ L1-L5); các dây chằng liên kết các
đốt sống; hệ thống đĩa đệm; và cấu trúc thần kinh. Cột sống thắt lưng là nơi
chịu phần lớn sức nặng của thân mình và áp lực trong các hoạt động sống nên
đặc điểm giải phẫu có những khác biệt phù hợp với chức năng trên.
Xương thân đốt sống (Vertebral body) xương thân đốt dày, rộng, vỏ
xương dày giúp khả năng chịu áp lực lớn.
Cuống đốt sống (pedicles) to, dày, đường kính 7-15mm, độ dài từ điểm
vào cuống đến thành trước thân đốt từ 4,5-5mm, góc nghiêng của cuống theo
hướng vào giữa thân đốt sống là 5-10º[21].
Mấu khớp
trên
Mấu khớp
dưới

Cấu tạo đốt sống thắt lưng
(Nguồn, Frank H) [5]

Cấu trúc diện khớp phía sau
3


4

Hình 1- . Hình minh họa diện khớp phía sau và giải phẫu của đốt sống lưng

(Theo Bennet, spondylolysis and spondylolisthesis, Youmans neurological surgery, 2004) [24]

Cấu tạo của khớp phía sau (facet joints) gồm có 2 mấu khớp có cấu trúc
khác biệt, bề mặt mấu khớp dưới là 1 đường cong lõm với 2 mặt rõ rệt - một

sống vùng CSTL to và rộng cho phép chống đỡ phần lớn tải trọng của thân
người mà CSTL chịu áp lực lớn nhất. Đĩa đệm có vai trò phân bố tải trọng và
giảm lực tác động lên cột sống.
Cấu trúc phía sau của đoạn vận động cột sống chỉ chịu khoảng 30% lực tải
trọng tùy thuộc vào tư thế gấp hay ưỡn [31]. Nhưng nó có vai trò chính trong định
hướng vận động cột sống nhờ cấu tạo đặc biệt của diện khớp phía sau,vì vậy động
tác cúi, ưỡn có biên độ lớn, động tác nghiêng bên và xoay rất hạn chế.
Áp lực lên cột sống : ở tư thế đứng thẳng, áp lực lên cột sống bao gồm
trọng lượng cơ thể, sức co của cơ, sự căng của dây chằng và tải trọng ngoài. Ở
đoạn cột sống thắt lưng áp lực lên L4 là lớn nhất [31].
Trạng thái tĩnh (Static), là trạng thái cột sống không vận động, áp lực lên
cột sống thay đổi theo tư thế, trong đó tư thế nằm là thấp nhất [64].
Trạng thái động (Dynamic) như là nâng vật nặng, lúc này ngoài lực tác
5


6

động nội tại, cột sống còn chịu thêm tải trọng ngoài. Lực tác động lên cột sống
phụ thuộc vào các yếu tố đó là khoảng cách của vật so với cột sống, khối lượng
của vật và tư thế của cột sống.
1.1.3. Khái niệm mất vững (Instability)
Mất vững cột sống (MVCS) có thể gặp trong nhiều bệnh lý vùng cột sống,
gây nên tình trạng đau cột sống khi chịu tải, hoặc khi thay đổi tư thế. Tuy vậy,
định nghĩa MVCS vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.
White và Panjabi cho rằng: “mất vững là sự mất khả năng của cột sống
dưới tác động của tải trọng sinh lý trong việc duy trì những hoạt động bình
thường, mà không làm nặng thêm các tổn thương thần kinh, không gây ra các
biến dạng lớn cũng như không gây đau quá mức” [90].
Denis chia cột sống làm 3 cột: trước, giữa, sau để phân loại các kiểu tổn

thương của cột sống sẽ gây nên tình trạng mất vững. Bệnh lý trượt đốt sống là
1 ví dụ điển hình của mất vững băng. Ngoài ra có thể gặp ở bệnh lý chấn
thương cột sống, khối u đốt sống, nhiễm trùng cột sống.
Vận động bất thường của cột sống là khái niệm vẫn còn thảo luận, chẩn
đoán chỉ mang tính phán đoán, khó xác định tầng bệnh lý. Trạng thái này có thể
gặp trong bệnh lý thoái hóa đĩa đệm, khối u cột sống phát triển chậm, viêm đốt
sống. Biểu hiện của tình trạng này là đau vùng cột sống thắt lưng khi vận động,
hết đau khi nằm nghỉ, nhưng không thấy hình ảnh mất vững trên Xquang, vì
vậy việc chẩn đoán rất khó khăn.
Diễn biến quá trình mất vững được Kirkaldy-Wills và Farfar [54] chia làm
3 giai đoạn. Giai đoạn 1, giai đoạn rối loạn chức năng; giai đoạn 2, giai đoạn
mất vững cột sống ; giai đoạn 3, tái ổn định cột sống. Các giai đoạn được tóm
tắt trong bảng 1.1.
Theo tác giả, ở giai đoạn I, điều trị bảo tồn. Giai đoạn II, có thể điều trị
7


8

bảo tồn hoặc phẫu thuật, khi phẫu thuật cần tiến hành ghép xương làm vững cột
sống. Giai đoạn III, phẫu thuật giải ép mà không cần ghép xương [54].
1.1.4. Phân loại trượt đốt sống
Dựa trên phân loại của Wiltse [92], trượt đốt sống chia làm 6 loại:
Loại 1: trượt đốt sống bẩm sinh (congenital spondylolisthesis)
Loại 2: trượt đốt sống do hở eo (isthmic spondylolisthesis)
Loại 3: trượt đốt sống do thoái hóa (degenerative spondylolisthesis)
Loại 4: trượt đốt sống do chấn thương (traumatic spondylolisthesis)
Loại 5: trượt đốt sống do bệnh lý (pathologic spondylolisthesis)
Loại 6: trượt đốt sống sau phẫu thuật cột sống (post-surgical
spondylolisthesis)


Đau lưng giảm,

chứng

thắt lưng, đau tăng

lưng, đau tăng liên quan đến tư thế

chủ yếu đau lan

cơ năng khi vận động, giảm cúi gập cột sống.

xuống chân.

đau khi nằm.
Triệu

Đau cột sống thắt

Phát hiện cử động bất thường khi

Trương lực cơ thắt

chứng

lưng khi khám, co

khám hoặc khi sờ nắn.



Tư thế trước-sau: trượt sang bên, Phì đại mấu

đổi trên

Gai sau lệch.

xoay đốt sống, lệch cột sống

khớp.

XQ

Mặt khớp phía sau

Tư thế chếch: toác rộng khe khớp

Giảm chiều cao

không đều.

Tư thế nghiêng: trượt ra trước khi đĩa đệm.

Những thay đổi kín gấp cột sống, trượt ra sau khi ưỡn. Gai xương.
đáo của đĩa đệm

Mở góc bất thường của đĩa đệm. Hẹp lỗ ghép.
Hẹp khe đĩa đệm.
Hạn chế vận động
Lồi đĩa đệm trên phim cắt lớp.

chuyển bất thường giữa hai thân đốt khi cử động. Mặc dù vậy, trong TĐS do
thoái hóa sự biến đổi của diện khớp phía sau mới là nguyên nhân bệnh sinh
chủ yếu, quá trình thoái hóa làm thay đổi hướng của diện khớp, góc của diện
khớp giảm đi theo bình diện đứng ngang và điều này khiến cho đốt sống dễ
trượt ra trước. Bên cạnh đó, sự suy yếu hệ thống dây chằng do tuổi, do nội
tiết, do bệnh lý làm hệ thống phía sau yếu đi. Tất cả các yếu tố trên tác động
kết hợp đến một thời điểm nào đó trượt đốt sống sẽ xảy ra.

11


12

Quá trình thoái hóa cột sống và hậu quả của nó được Kirkaldy- Willis
và cộng sự tóm tắt trong sơ đồ sau:
Hai khớp phía sau
Kích thích bao khớp
Ba khớp
Khớp liên thân đốt
Thoát vị đĩa đệm
Đứt, rách vòng xơ sợi
Phá hủy sụn khớp
Hình thành gai xương
Suy yếu dây chằng bao khớp
Bán trật khớp
Rách đến trung tâm đĩa đệm
Phá vỡ cấu trúc bên trong đĩa
Mất ổn định cột sống
Giảm chiều cao đĩa đệm
Chèn ép rễ thần kinh


(synovial cyst).
Ngoài mức trượt, có thể thấy tình trạng hẹp ống sống ở các mức lân cận
theo cơ chế mô tả theo sơ đồ 1.1.
Hẹp ống sống là nguyên nhân gây nên triệu chứng cách hồi thần kinh,
rất thường gặp trong trượt đốt sống do thoái hóa đã được các tác giả đề cập
[74], [91]. Một tỷ lệ nhỏ BN hẹp ống sống nặng có thể gây nên hội chứng
đuôi ngựa.

13


14

Hẹp ngách bên do phì đại mấu khớp trên và dây chằng vàng gây nên
triệu chứng chèn ép rễ thần kinh cũng có thể gặp trong trượt đốt sống do thoái
hóa [59].
Hẹp lỗ ghép ở mức trượt, nguyên nhân do phì đại mấu khớp trên, do
trượt đốt sống, do lồi đĩa đệm, do hình thành gai xương ở khu vực lỗ ghép, do
biến dạng xoay của đốt sống gây chèn ép vào rễ thần kinh.

Hình 1- . Minh họa chèn ép rễ L5 trong trượt đốt sống
L4.

(Nguồn Nikolai, clinical anatomy of the
lumbar spine and sacrum, 2005) [72].

1.2.3. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh
1.2.3.1. Xquang quy ước (plain radiographs)
Là phương pháp đơn giản nhưng cho phép đánh giá tình trạng trượt đốt

sống, dựa trên sự dịch chuyển và sự mở góc của các đốt sống trên phim chụp
ở các tư thế khác nhau. Thường sử dụng phim chụp nghiêng ở tư thế đứng,
cúi và ưỡn tối đa. Sự dịch chuyển của đốt sống và độ gập góc của đốt sống,
theo Diettemann, trị số của người bình thường như sau:
Bảng 1- . Giá trị vận động bình thường của cột sống thắt lưng

15


16

Mức đốt sống
L1-L2
L2-L3
L3-L4
L4-L5
L5-L1

Chuyển động trượt
1,9mm (0-6mm)
2,4mm (0-6mm)
2,5mm (0-6mm)
3,0mm (0-6mm)
1,3mm (0-6mm)

Chuyển động gập góc
7° (1-14°)
9° (2-6°)
10° (2-20°)
13° (2-18°)


Xquang quy ước còn đánh giá các biến dạng cột sống dựa vào các trị số
góc như: góc xoay cột sống thắt lưng (Sagital Rotation), góc ưỡn cột sống
lưng, góc nghiêng xương cùng, góc ngang xương cùng.
Phát hiện các bất thường về cấu trúc xương cột sống
Trên Xquang quy ước có thể thấy hình ảnh cùng hóa L5, thắt lưng hóa
S1, gai đôi của đốt sống, khe hở eo. Tư thế chụp chếch ¾ giúp phát hiện khe
hở eo rõ nhất, hình ảnh khe hở eo là hình ảnh vòng sáng trên cổ chó Scottie,
16


17

mõm chó là gai ngang, mắt là cuống cung, cổ là eo, tai và phần sau thân là 2
mấu khớp trên, 2 chân là 2 mấu khớp dưới, đuôi là gai ngang còn lại.
1.2.3.2. Chụp cắt lớp vi tính (computer tomography)
Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) là phương pháp tốt nhất để đánh giá tình
trạng xương đốt sống, phát hiện chính xác khe hở eo. Vì vậy các tác giả đều
cho rằng đây là phương pháp tin cậy nhất và duy nhất để chẩn đoán phân biệt
TĐS do hở eo và trượt đốt sống bẩm sinh ở người lớn. Nguyên nhân trượt đốt
sống bẩm sinh ở người lớn là do thiểu sản mấu khớp L5-S1, trên phim chụp
cắt lớp vi tính có thể đánh giá bằng kích thước của mấu khớp và phát hiện
định hướng bất thường khe khớp [29].
Căn cứ vào phim CLVT có thể đánh giá thoái hóa xương, khớp đốt
sống, đó là hình ảnh xơ xương dưới sụn, hẹp khe đĩa đệm và những nốt thoát
vị Schmol, có thể thấy khí trong khe đĩa đệm và diện khớp. Khớp phía sau có
thể bị phá hủy, diện khớp không đều, hình ảnh gai xương. Ngoài ra, có thể
phát hiện những bất thường về xương quanh lỗ ghép, như là gai xương, phì
đại mấu khớp.
Chụp cắt lớp vi tính còn cho phép đánh giá tình trạng hẹp ống sống nhờ

Mặc dù cho biết những thông tin như chụp CHT, nhưng đây là biện
pháp can thiệp nên có thể gặp những biến chứng khi tiêm thuốc cản quang
vào tủy sống như là đau đầu, buồn nôn, nôn, chảy máu trong ống sống, rò
dịch não tủy. Hiếm gặp shock phản vệ do thuốc [13].
1.2.3.3. Chụp cộng hưởng từ (Magnetic Resonance Imaging – MRI)
Chụp cộng hưởng từ hiện nay là một lựa chọn hàng đầu để đánh giá
bệnh lý cột sống, cung cấp tương đối đầy đủ những thông tin cần thiết của cột
sống, tủy sống.
Đánh giá về đĩa đệm: tình trạng thoái hóa đĩa đệm được thể hiện trên
MRI bao gồm giảm chiều cao đĩa đệm, rách bao xơ, cấu trúc vỏ- nhân của đĩa
đệm bị phá vỡ, giảm tín hiệu của nhân nhầy trên T2W. Mức độ thoái hóa đĩa
đệm trên MRI được nhiều tác giả đề cập và có nhiều tiêu chuẩn đánh giá.
Modic [28] đánh giá thoái hóa đĩa đệm căn cứ vào sự biến đổi tủy xương dưới
sụn của 2 đốt sống cận kề với đĩa đệm chia thành 3 typ.




Modic tpy I: giảm T1, tăng T2.
Modic typ II: tăng T1, tăng T2.
Modic typ III: giảm T1, giảm T2.

Cho đến nay, CHT vẫn là phương pháp tin cậy nhất để chẩn đoán thoái
hóa đĩa đệm.
Sự thay đổi hình dáng đĩa đệm được mô tả ở các cấp độ phình đĩa đệm
(bulging), lồi đĩa đệm (protrusion), thoát vị đĩa đệm (extrusion). Phình đĩa
đệm được đánh giá ở mặt cắt ngang trên phim T2-W, là hình ảnh nhân lồi vào
18



:

không hẹp ống sống

Ngoài ra còn cho biết nguyên nhân gây hẹp ống sống. Trong bệnh lý
trượt ĐS do thoái hóa nguyên nhân thường gặp là phì đại mấu khớp, phì đại
dây chằng vàng, phì đại cung sau, có thể gặp nang hoạt dịch bao khớp
(synovial cyst) và do thoát vị đĩa đệm.
Tình trạng hẹp lỗ ghép: dựa trên hình ảnh cắt dọc cột sống qua lỗ ghép,
các lỗ ghép ở mức trượt có xu hướng nằm ngang. Có thể thấy đĩa đệm lồi
hoặc mấu khớp phì đại làm hẹp lỗ ghép. Chèn ép rễ thần kinh được nhận biết
gián tiếp thông qua mất tín hiệu của tổ chức mỡ xung quanh rễ thần kinh hoặc
không thể nhận biết được rễ thần kinh trong lỗ ghép.
Phát hiện các bệnh lý khác của cột sống

19


20

Cộng hưởng từ có thể phát hiện những bệnh lý kết hợp của cột sống
như các tổn thương viêm do lao, do các khối u, di căn ung thư vào cột sống.
Bệnh lý của dây chằng vàng như là đóng vôi dây chằng, của bao khớp như là
nang hoạt dịch, của tổ chức thần kinh như u tủy, u rễ thần kinh…
Tóm lại, chẩn đoán hình ảnh là một phần không thể thiếu được trong
chẩn đoán, điều trị, theo dõi và đánh giá kết quả của bệnh trượt đốt sống. Sự
phối hợp nhiều phương pháp chẩn đoán hình ảnh là cần thiết nhằm đánh giá
toàn diện những tổn thương trong bệnh trượt đốt sống. Trong đó chụp Xquang
là quy ước và cộng hưởng từ là hai phương pháp quan trọng nhất, cho biết
mức độ biến dạng của cột sống, nguồn gốc các triệu chứng đau trong bệnh



phát mặc dù được điều trị bảo tồn cơ bản ít nhất 3 tháng.
Tổn thương rễ thần kinh.
Hội chứng đuôi ngựa.

Trong phẫu thuật TĐS tồn tại ba vấn đề mà hiện nay vẫn đang được
các tác giả thảo luận, đó là vấn đề giải ép thần kinh, vấn đề ghép xương và
vấn đề sử dụng dụng cụ cố định cột sống .
1.3.1. Vấn đề giải chèn ép thần kinh
Giải chèn ép thần kinh được thực hiện ngay từ những ca đầu tiên áp
dụng phẫu thuật điều trị bệnh trượt đốt sống, và đã được thừa nhận trong điều
trị phẫu thuật. Nguyên nhân chèn ép thần kinh ở bệnh nhân trượt đốt sống do
thoái hóa rất đa dạng, nhưng hàng đầu vẫn là hẹp ống sống [17], [27], [94].
Ống sống hẹp do các mấu khớp phì đại, do phì đại chằng vàng, do đĩa đệm
thoát vị, do nang hoạt dịch khớp, chèn ép vào các rễ thần kinh trong ống sống
và các rễ ở ngách bên. Mặt khác, trượt thân đốt sống ra trước có thể làm căng
kéo rễ thần kinh của tầng dưới, cũng gây ra những triệu chứng thần kinh. Hơn
nữa sự biến dạng hẹp lỗ ghép do giảm chiều cao đĩa đệm, biến dạng xoay của
đốt sống là nguyên nhân gây ra chèn ép rễ thần kinh tại lỗ ghép. Phẫu thuật
giải chèn ép phải loại trừ được các nguyên nhân chèn ép thần kinh, nên việc
đánh giá trước mổ rất quan trọng, cần xác định vị trí thần kinh bị chèn ép và
nguyên nhân chèn ép để có biện pháp giải chèn ép thỏa đáng.
Các biện pháp giải chèn ép trong trượt đốt sống do thoái hóa bao gồm
cắt cung sau hoặc cắt 1 phần cung sau, lấy bỏ dây chằng vàng, cắt bỏ 1 phần
mấu khớp phì đại, lấy khối đĩa đệm thoát vị, làm rộng lỗ ghép mục đích làm
cho tủy sống và rễ thần kinh được giải phóng, tủy sống trở về kích thước bình
21



22


23

1 nhóm chỉ cắt 1 phần cung sau 2 bên, thấy rằng sự cải thiện lâm sàng sau mổ
ở 2 nhóm tương đương nhau [76]. Do vậy áp dụng biện pháp giải chèn ép nào
là tùy thuộc vào kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Những căn cứ trên lâm
sàng, và hình ảnh trước mổ có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định vị trí và
mức độ cần phải can thiệp giải chèn ép, nhưng đánh giá trong khi phẫu thuật
mới mang tính quyết định cho PTV lựa chọn biện pháp can thiệp.
1.3.2. Vấn đề ghép xương
Sự cần thiết phải ghép xương làm vững cột sống kết hợp với giải chèn ép
được các tác giả chứng minh trong thời gian gần đây, và ghép xương trở thành
một tiến trình không thể thiếu trong phẫu thuật làm vững cột sống. Nhưng lựa
chọn kỹ thuật ghép xương và loại xương ghép còn nhiều bàn cãi.
Lựa chọn kỹ thuật ghép xương
Có những kỹ thuật ghép xương đang được sử dụng trong phẫu thuật
TĐS: ghép xương phía sau, ghép xương sau bên, ghép xương liên thân đốt,
kết hợp ghép sau bên và ghép xương thân đốt [30], [70], [86]. Trong đó ghép
xương sau bên và ghép xương liên thân đốt theo đường mổ phía sau được áp
dụng phổ biến nhất [49], [50], [58].
Ghép xương liên thân đốt (interbody fusion) là ghép xương giữa hai
thân đốt sống sau khi đã lấy đĩa đệm và làm sạch tổ chức sụn ở bề mặt thân
đốt. Thực hiện kỹ thuật này có thể sử dụng đường vào phía trước (ALIF), phía
sau (PLIF) hoặc qua lỗ ghép (TLIF). Trong bệnh lý trượt đốt sống do thoái
hóa sử dụng đường vào phía sau là hợp lý, thuận lợi cho việc giải chèn ép
thần kinh, ghép xương và cố định cột sống, không phải thay đổi tư thế bệnh
nhân trong quá trình phẫu thuật.


ghép xương liên thân đốt vì không phải can thiệp vào đĩa đệm nên giảm nguy
24


25

cơ làm tổn thương màng tủy và rễ thần kinh, thời gian mổ ngắn và ít mất máu
hơn [74], [80]. Tuy nhiên, ghép xương sau bên có những nhược điểm, đó là
mấu khớp chỉ chịu khoảng 30% [64] lực tác động lên cột sống còn các gai
ngang là thành phần không chịu tải. Chính vì vậy, làm vững cột sống nhờ sự
liền xương giữa mấu khớp và gai ngang không thực sự tốt cho cột sống đã
mất vững.

Hình 1- 6. Minh họa ghép xương sau bên

(Nguồn: Bilas, Spine core knowledge in orthopaedic, 2005) [27]

Mặc dù còn có những điểm hạn chế, kỹ thuật ghép xương sau bên cũng
đã được nhiều tác giả áp dụng trong điều trị bệnh lý trượt đốt sống cho kết
quả khả quan: Đỗ Ngọc Riết [16], Võ Văn Thành [18], Matsudaira [66],
Victor [88].
La Rosa [57] tiến hành so sánh kết quả điều trị 16 bệnh nhân trượt đốt
sống được mổ ghép xương sau bên và 14 bệnh nhân ghép xương liên thân đốt.
Đánh giá sự phục hồi vận động và cảm giác đau theo Prolo sau mổ 3 năm.
Tác giả thấy rằng không có sự khác nhau về kết quả điều trị giữa hai nhóm
bệnh nhân. Nghiên cứu của Khaldoun [53] cũng không thấy có sự khác biệt
về kết quả điều trị giữa phương pháp ghép xương sau bên và ghép xương thân
đốt trong phẫu thuật điều trị bệnh lý trượt đốt sống. Trong nước, Phan Trọng
Hậu [8] tiến hành ghép xương thân đốt cố định dụng cụ lối sau điều trị trượt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status