1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ Y TÊ
VIỆN ĐÀO TẠO RĂNG HÀM MẶT
***************************************
TRẦN HOÀNG MAI
NHẬN XÉT TÌNH TRẠNG SÂU RĂNG
VÀ CÁC YÊU TỐ LIÊN QUAN TRÊN
NHỮNG NGƯỜI CHỊU ẢNH HƯỞNG CỦA DIOXIN
TẠI LÀNG TRẺ HỮU NGHỊ HÀ NỘI NĂM 2014
Người hướng dẫn khoa học:
TS. BSNT. Võ Trương Như Ngọc
Hà Nội – 2014
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Nhận xét tình trạng sâu răng và
các yếu tố liên quan trên những người chịu ảnh hưởng của Dioxin tại
Làng trẻ Hữu Nghị Hà Nội năm 2014”, tôi đã nhận được rất nhiều sự
giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo, cán bộ, chuyên viên tại Làng
trẻ Hữu Nghị Hà Nội, tập thể lãnh đạo viện và bộ môn của Viện Đào tạo
Răng Hàm Mặt Đại học Y Hà Nội. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành về
STT
Acid deoxyribonucleic
Knowledge – Attitude – Practice
Polichlorinated Dibezo-P-Dioxins
Chỉ số sâu mất trám ở trẻ em
Chỉ số sâu mất trám ở người lớn
2,3,7,8-Tetrachloro Dibenzo-p-Dioxin
Tổ chức Y tế thế giới
Số thứ tự
4
Contents
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Tỉ lệ SMTR ở các quốc gia phát triển với đối tượng trẻ em 12 tuôi
Bảng 1.2. Tỉ lệ SMTR ở các nước đang phát triển
Bảng 2.1. Các chỉ số, biến số nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu
Bảng 3.1. Tỷ lệ đối tượng được nghiên cứu phân bố theo giới và tuổi
Bảng 3.2. Tỷ lệ đối tượng được nghiên cứu phân bố theo tình trạng bệnh
Bảng 3.3. Tỷ lệ sâu răng của đối tượng nghiên cứu phân bố theo giới
Bảng 3.4. Tỷ lệ SMTR của đối tượng nghiên cứu phân bố theo nhóm tuổi
Bảng 3.5. Số lượng răng sâu nguyên phát trung bình của mỗi đối tượng phân bố
theo giới
Bảng 3.6. Tỷ lệ sâu tái phát trên các răng đã trám của đối tượng nghiên cứu
Hình 1.6. Cấu trúc của Dioxin
Hình 2.1 Biểu đồ GANTT
7
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sâu răng đã được phát hiện từ rất lâu, theo những nghiên cứu
của Vonlenhouseck, trên những sọ người đầu ngắn thời kì đồ đá đã phát
hiện thấy sâu răng. Theo Firu và Gherga (Rumani) nghiên cứu tỉ lệ sâu
răng qua các thời kì cho thấy: Thời kì đồ đá cũ có tỉ lệ sâu răng là 18%,
thời kì đồ đồng có tỉ lệ 29%, thời kì trước phong kiến là 60%, thời kì
phong kiến là 80% và thời kì xã hội hiện đại có tỉ lệ sâu răng cao chiếm
tới 95%. Ta có thể thấy, tỉ lệ sâu răng ngày càng tăng dần qua các thời kì
lịch sử và với cuộc sống hiện đại từng ngày, tình trạng bệnh sâu răng ngày
càng phổ biến [1].
Do tỉ lệ thường gặp sâu răng trong cộng đồng là rất lớn và nhu cầu
xã hội ngày càng cao, nên việc chăm sóc và dự phòng bệnh sâu răng luôn
là một đề tài cần thiết và luôn nhận được sự quan tâm lớn của tổ chức y tế
và nha khoa các nước trên thế giới. Theo Klein và Palmer, tỉ lệ sâu răng ở
trẻ em tại Anh độ tuổi 6 - 15 tuổi là 50% với nam và 56% đối với nữ [2].
Phần lớn các nước công nghiệp hóa cao như Canada, Thủy Điển, Úc,
Mỹ,... những năm 60 – 70 có tỉ lệ sâu răng cao trên 90% dân số, trung
bình mỗi trẻ em 12 tuổi có chỉ số SMT từ 7,4 - 12. Tuy nhiên từ năm 80 90 đến nay, chỉ số này đã giảm xuống nhiều. Trong khi đó ở các nước
đang phát triển, tỉ lệ mắc sâu răng lại có xu hướng tăng lên như chỉ số
SMTR ở trẻ 12 ở Iran là 2,4 (1974) tăng lên 4,9 (1976). Các nước Lào,
Campuchia, Bruney,.. có chỉ số SMT ở trẻ 12 là từ 2,4 - 5,5 (1994).[3]
Ở Việt Nam từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu về tình trạng
sâu răng, ở quy mô khác nhau, kết quả đều cho thấy tỉ lệ sâu răng ở Việt
Nam có chiều hướng tăng dần. Từ năm 1991 đến năm 1998 tiếp tục có
đặc trưng bởi sự hủy khoáng của thành phần vô cơ và sự phá
hủy thành phần hữu cơ của mô cứng.
Hình 1.2. Hình ảnh sâu răng
1.2.2. Nguyên nhân bệnh sâu răng
Những năm 1960 của thế kỉ trước, người ta cho rằng sâu răng
có thể do nhiều nguyên nhân. Trong đó yếu tố chính là đường, vi
khuẩn, đặc biệt là Streptococcus mutas chuyển hóa các chất bột,
đường còn dính ở răng tạo thành acid phá hủy tổ chức cứng của
11
răng và hình thành nên lỗ sâu, thể hiện mối tương quan qua sơ đồ
Keyes.
Hình 1.3. Sơ đồ Keyes
Sau năm 1975, các nhà khoa học đã đưa ra một cái nhìn
Đường
Vi khuẩn
Răng
chính xác hơn về bệnh sinh bệnh căn của sâu răng. Thuyết động
học ra đời với nội dung: cơ chế gây sâu răng xảy ra là quá trình hủy
khoáng chiếm ưu thế hơn tái khoáng, do vai trò chuyển hóa
carbohydrate của vi khuẩn trên mảng bám bề mặt răng.
Nội dung của thuyết động học được tóm tắt trong sơ đồ
Nước bọt và các chất trung hòa
Sự tái khoáng
Tăng dòng chảy nước bọt
Vệ sinh răng miệng tốt
…
Hình 1.5. Sơ đồ cơ chế bệnh nguyên bệnh sâu răng
Tóm lại, với các quan điểm hiện nay, bệnh sâu răng là bệnh đa yếu
tố. Ngoài các yếu tố trong vòng tròn White, sâu răng là kết quả của sự mất
cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ và các yếu tố nguy cơ. Ngoài ra, các yếu
tố chính trị, văn hóa xã hội, khoa học kĩ thuật, dị dạng cơ thể, thói quen
chăm sóc răng miệng,.. cũng là những yếu tố phối hợp rất quan trọng đối
với tình trạng bệnh sâu răng.
1.2.3. Triệu chứng lâm sàng
• Sâu men:
13
Người ta cho là sâu men thì ngà ráp hoặc có chấm trắng, có cảm
giác buốt khi ăn đường, chua, lạnh. Ở giai đoạn này, bệnh nhân
chưa chú ý tới vì nó chưa gây ra triệu chứng chủ quan. Tổn
thương phát triển thêm, chấm trắng đó có thể lan rộng, biến đổi
thành màu nâu nhạt rồi sẫm. Lúc này bệnh nhân có thể có cảm
giác buốt khi tiếp xúc với thức ăn chua, ngọt, lạnh; nhưng cảm
giác đó sẽ mất ngay sau khi kích thích chấm dứt.
Dấu hiệu sớm có thể nhận ra dựa theo tiêu chuẩn của ICDAS là
vết trắng nhạt trên men khi thổi khô răng.
Theo M. Frey, tổn thương men mầu nâu sẫm là một tổn thương
Tổn thương gây mất men, ngà và tạo thành rãnh, ngấn ở mặt
ngoài các răng cửa hay trên mặt nhai các răng hàm.
1.3. Tình hình bệnh sâu răng
1.3.1. Tình hình bệnh sâu răng trên thế giới
Theo các số liệu thống kê ở những nước phát triển (Anh, Mỹ,
Pháp,...) những năm khoảng từ 1930 đến 1990, đa phần ở các quốc gia
này có tỉ lệ sâu răng trên 90% dân số. Trung bình mỗi trẻ em 12 tuổi
có chỉ số SMT từ 7,4 - 12. Bước sang thế kỉ XX, tỷ lệ này đã giảm đi
nhiều ở các nước phát triển, với chỉ số SMT trung bình từ 0,7 - 1,7.
Bảng 1.1. Tỉ lệ SMTR ở các quốc gia phát triển với đối
tượng trẻ em 12 tuôi
- Theo tài liệu Tổ chức Y tế Thế giới WHO 2012 Quốc gia
SMTR
Năm
Anh
0.7
2009
Úc
1.0
Năm
Chi Lê
3,4
1999
Thái Lan
1,6
2004
Iran
1,8
2001
Mexico
2,0
2001
Campuchia
2,3
Tuổi 12, tỷ lệ sâu răng là 56,6%, chỉ số SMT là 1,87
Tuổi 18 - 34, tỷ lệ sâu răng là 75,2%, chỉ số SMT là 3,29
Tuổi 35 - 44, tỷ lệ sâu răng là 83,2%, chỉ số SMT là 4,7
Tuổi >45 tỷ lệ sâu răng là 89,7%, chỉ số SMT là 8,93
• Tỷ lệ sâu răng sữa ở trẻ em từ 6 - 8 tuổi trên cả nước là 84,9%, số
o
o
o
o
răng sâu trung bình trên mỗi học sinh là 5,4.
• Theo nghiên cứu của Trương Mạnh Dũng và cộng sự trường Đại
Học Y Hà Nội năm 2010 tại 5 tỉnh, thành phố của Việt Nam ở
nhóm tuổi 4 - 8 thấy có 81,6% sâu răng sữa, chỉ số SMT là 4,7; và
16% sâu răng vĩnh viễn, chỉ số SMT là 0,3 [1] [3] [4].
Qua các số liệu trên chúng ta có thể đưa ra nhận xét rằng tình trạng
sâu răng tại Việt Nam vẫn diễn biến phức tạp, tỷ lệ cao và có xu
hướng tăng dần theo tuổi.
1.4. Các yếu tố nguy cơ
Có rất nhiều yếu tố nguy cơ trong đời sống con người có thể dẫn
đến sâu răng, nhưng có thể tổng hợp lại thành các nhóm sau:
• Do tập quán ăn uống
• Do ý thức chăm sóc răng miệng
• Do đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu:
o Người ta nhận thấy rằng những răng có rãnh lõm mặt nhai
quá sâu, nhất là những răng hàm mới mọc, là nơi để lắng
đọng thức ăn và là điều kiện để vi khuẩn phát triển gây ra
nguy cơ sâu răng.
sử dụng cả hai hệ thống đánh giá theo hướng dẫn của WHO năm
1997 và 2005; hai hệ thống này dùng chung các chỉ số như DMFT,
DMFS, DT, MT, FT nhưng khác nhau về tiêu chí đánh giá và ghi
nhận sâu răng.
1.5.2. Nghiên cứu về vi trùng học, miễn dịch học
1.5.3. Nghiên cứu về gen, về các cấu trúc của cơ thế mức đô
phân tư
1.5.4. Nghiên cứu về Kiến thức – Thái đô – Hành vi (KAP:
Knowledge, Attitude, Practice)
1.5.4.1. Khái niệm
Về kiến thức: Sự hiểu biết của mỗi người thường khác nhau
và thường bắt nguồn từ kinh nghiệm, vốn sống hoặc của người
khác truyền lại. Hiểu biết nhiều khi không tương đồng với kiến
18
thức mà chúng ta có thể tiếp thu thông qua những thông tin mà
thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè, sách vở, báo chí cung cấp. Hiểu
biết rất khó thay đổi khi hiểu biết là sai và trở thành định kiến.
Sự hiểu biết này phụ thuộc vào trình độ văn hoá.
Về thái độ: Là tư duy, lập trường, quan điểm của đối tượng
đối với một vấn đề. Theo thời gian, lứa tuổi, trình độ hiểu biết
và biên độ xuất hiện bệnh, đối tượng sẽ hình thành nên quan
điểm phải loại trừ bệnh tật và cộng với sự hiểu biết được bổ
sung qua thời gian và thực tế sẽ hình thành nên lập trường
"Không chung sống với răng đau".
Về thực hành: Xuất phát từ những hiểu biết, có kiến thức và
thái độ sẽ dẫn đến những hành động của đối tượng. Kiến thức và
Theo Nông Ngọc Thảo tìm hiểu về kiến thức, thái độ và thực
hành đối với bệnh răng miệng nói chung và bệnh sâu răng nói
riêng ở đồng bào dân tộc thiểu số thuộc 6 tỉnh miền Bắc năm
1999 cho thấy: 20% số người có bệnh sâu răng mà không biết
mình có bệnh. 80% số người không biết cách giải quyết khi có
bệnh 28% không biết về bệnh sâu răng có thể chữa được và
không biết chữa ở đâu. 34% số người cho rằng khi bị sâu răng
thì có thể điều trị bằng thuốc nam, 4% chọn bệnh viện tỉnh,
26,4% số người chọn thầy lang, 15% số người chọn cở sở y tế
tư nhân để chữa răng. 56% số người được phỏng vấn chưa biết
về phòng bệnh răng miệng [6]. Như vậy vấn đề đánh giá kiến
thức, thái độ, thực hành của người dân đối với sức khỏe răng
miệng là hết sức quan trọng đặc biệt là ở vùng cao, vùng sâu
vùng xa, vùng dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ hiểu biết còn
hạn chế,…Vì vậy, việc đánh giá này rất cần thiết.
1.6. Nghiên cứu về Dioxin
1.6.1. Đôi nét về Dioxin
20
Dioxin là tên gọi chung của một nhóm hàng trăm các hợp chất
hóa học tồn tại bền vững trong môi trường cũng như trong cơ thể
con người và các sinh vật khác. Tùy theo số nguyên tử Cl và vị trí
không gian của những nguyên tử này, Dioxin có 75 đồng phân
PCDD (poly-chloro-dibenzo-dioxines) và 135 đồng phân PCDF
(poly-chloro-dibenzo-furanes) với độc tính khác nhau. Dioxin còn
bao gồm nhóm các poly-chloro-biphényles, là các chất tương tự
Dioxin, bao gồm 419 chất hóa học trong đó có 29 chất đặc biệt
nhà khoa học cũng khẳng định không có một liều lượng nào là an
toàn hoặc ngưỡng Dioxin mà dưới nó thì không gây ung thư [7].
Điều này có thể hiểu là nếu một người phơi nhiễm Dioxin dù lượng
nhỏ nhất thì đã mang trong mình hiểm họa ung thư.
Ngoài ung thư, Dioxin còn có thể liên quan đến một số bệnh
nguy hiểm khác như bệnh rám da, bệnh đái tháo đường, bệnh ung
thư trực tràng không Hodgkin, thiểu năng sinh dục cho cả nam và
nữ, sinh con quái thai hoặc thiểu năng trí tuệ,…
Cơ chế phân tử của Dioxin tác động lên các tế bào và cơ thể
người, động vật vẫn đang còn nhiều tranh cãi về chi tiết. Thời gian
bán huỷ của Dioxin trong cơ thể động vật là 7 năm hoặc có thể lâu
hơn. Thông thường, Dioxin gây độc tế bào thông qua một thụ thể
chuyên biệt cho các hydratcarbon thơm có tên là AhR (Aryl
hydrocarbon Receptor). Phức hợp Dioxin - thụ thể sẽ kế hợp với
protein vận chuyển ArnT (AhR nuclear Translocator) để xâm nhập
22
vào trong nhân tế bào. Tại đây Dioxin sẽ gây đóng mở một số gen
giải độc quan trọng của tế bào như Cyp1A, Cyp1B,... Đồng thời,
một số thí nghiệm trên chuột cho thấy Dioxin làm tăng nồng độ các
gốc ion tự do trong tế bào. Điều này, có thể là làm phá huỷ các cấu
trúc tế bào, các protein quan trọng quan trọng hơn cả, nó có thể gây
đột biến trên phân tử DNA.
Trong một đánh giá về rủi ro và nghiên cứu các vấn đề chính
sách được đưa ra trong Hội nghị Quốc tế về Dioxin tổ chức tại
Berlin, 2004, nhóm tác giả đến từ Cục Môi trường Liên bang Đức
(Federal environmental agency) đã đưa ra kiến nghị không có mức
phơi nhiễm Dioxin tối thiểu nào có độ an toàn cho phép [8] (Theo
và rằng "thông tin này chưa được xem xét trong các lần đánh giá
trước của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ và Viện Y học
thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ". Tuy nhiên, giáo
sư lưu ý rằng "các chất diệt cỏ đổ thẳng xuống đất và ngấm sâu
trước khi thoái biến thì sẽ có tồn dư và vì vậy là một mối lo
ngại"[7]. Còn theo Cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông Michael
Marine vẫn cho rằng mối liên hệ giữa sự phơi nhiễm Dioxin và sức
khoẻ con người vẫn chưa được chứng minh. Tuy nhiên ông đã công
bố khoản tài trợ trị giá 400 nghìn USD để nghiên cứu ô nhiễm
Dioxin và tẩy độc tại sân bay Đà Nẵng.[8]
1.6.4. Dioxin tác đông ảnh hưởng tới sức khỏe răng miệng
Thông qua các bằng chứng đã được công nhận như Dioxin gây
ra bệnh đái tháo đường, ức chế miễn dịch, gây dị tật bẩm sinh, rối
loạn chuyển hóa,… Một nghiên cứu của các nhà khoa học Phần
Lan: Nghiên cứu trên động vật và trẻ em sống trong vùng bị phơi
nhiễm chất độc màu da cam Dioxin. Kết quả nghiên cứu trên động
vật thí nghiệm in vivo và in vitro là tương thích với những phát
hiện trong răng của con người. Ngoài ra liều dùng, hiệu ứng nha
khoa congener dioxin là độc hại nhất, 2,3,7,8 tetrachlorodibenzo-p
24
dioxin (TCDD), về cơ bản phụ thuộc vào giai đoạn phát triển răng
ở thời gian tiếp xúc. Biểu hiện của các thụ thể Dioxin cụ thể (AHR)
trong các tế bào răng tại TCDD giai đoạn phát triển răng nhạy cảm
cho thấy rằng các vấn đề nha khoa ảnh hưởng qua trung gian của
AHR. Các tác động sớm cũng phụ thuộc vào các Không dẫn xuất
Halogen hóa polycyclic aromatic hydrocarbons (PAHs) và các dẫn
• Không thuộc các đối tượng nêu trên
• Không tự nguyện tham gia nghiên cứu
• Không sống tập trung tại Làng trẻ Hữu Nghị Hà Nội
• Không hợp tác trong quá trình nghiên cứu
2.1.3. Địa điểm thời gian nghiên cứu
• Địa điểm: Làng trẻ Hữu Nghị Hà Nội, xã Xuân Phương, huyện
Từ Liêm, thành phố Hà Nội
• Thời gian nghiên cứu: Ngày 01/10/2014 và ngày 06/10/2014
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
• Phương pháp chọn mẫu: Mẫu chủ đích là Làng Hữu Nghị Hà
Nội
• Cỡ mẫu: 60 đối tượng độ tuổi từ 7 - 31 tuổi, theo danh sách của
Làng trẻ Hữu Nghị Hà Nội
2.2.3. Ky thuật, phương pháp, phương tiện thu thập thông tin
• Thu thập thông tin từ hồ sơ của đối tượng nghiên cứu tại Làng
trẻ Hữu Nghị.
• Phỏng vấn: