ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới với khí hậu nóng ẩm là điều kiện rất
thuận lợi cho các bệnh giun sán phát triển quanh năm. Đặc biệt là các bệnh nhiễm
giun truyền qua đất đã và đang gây nhiều tác hại trong cộng đồng dân cư một
cách thầm lặng và lâu dài, bệnh xảy ra ở tất cả mọi lứa tuổi. Tuy nhiên thường
gặp ở trẻ em lứa tuổi từ 03 – 14 tuổi, đặc biệt là lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo.
Ở nước ta tỉ lệ nhiễm bệnh giun tròn truyền qua đất rất cao, bệnh phổ biến
thường gặp 3 loài giun. Một đặc điểm của bệnh nhiễm giun truyền qua đất ở Việt
Nam là thường nhiễm phối hợp 2-3 loại là rất cao, ở Miền Bắc tỉ lệ có thể lên tới
60-70%. Tuy nhiên tỉ lệ nhiễm tùy thuộc theo vùng, do phụ thuộc vào địa lý, khí
hậu, thổ nhưỡng, nghề nghiệp và các tập quán, thói quen sinh hoạt của từng vùng,
từng địa phương, từng dân tộc. Đặc biệt là thói quen sinh hoạt, thói quen, thiếu vệ
sinh, thiếu nước sạch của cộng đồng dân cư.
Bệnh NGĐR gây ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe cộng đồng, trẻ em đặc
biệt là lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo do kiến thức về phòng chống bệnh chưa cao nên
ảnh hưởng đến sức khỏe mà trực tiếp là ảnh hưởng đến việc học tập của các em.
Theo tổ chức Y Tế Thế giới( TCYTTG) đánh giá thì Ký sinh trùng đường ruột
(KSTĐR) được xem là nguyên nhân hàng đầu gây các bệnh nặng cho trẻ em và là
một trong những nguyên nhân gây tử vong cho trẻ, các bệnh ký sinh trùng đường
ruột gây ra thiếu máu, thiếu sắt, chậm phát triển thể chất và trí tuệ, giảm khả năng
học tập, tăng thời gian nghỉ học, bệnh có thể gây suy dinh dưỡng, tắc ruột, giun
chui ống mật …Ngoài các yếu tố về môi trường tự nhiên, ở các nước chậm phát
triển đặc biệt là vùng nông thôn, các yếu tố dịch tễ khác có liên quan đến nhiễm
KSTĐR là do hành vi, thói quen ăn uống, thói quen sinh hoạt, phong tục tập quán
chưa tốt. Hơn nữa, tác hại trên con người còn phụ thuộc vào cách tác động của
KSTĐR trên vật chủ, phụ thuộc vào số lượng KST cư trú tại đường tiêu hóa hoặc
mức độ tác hại còn có thể phụ thuộc vào sự đa nhiễm, điều này chưa được xác
định vì có ít công trình nghiên cứu theo hướng này.
Thành phố Phan Thiết là Trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Bình
ruột non của người. Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoại cảnh. Sau một
thời gian ở ngoại cảnh, nhờ tác dụng của nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng…phôi
phát triển thành ấu trùng, trứng có ấu trùng từ ngoại cảnh lại nhiễm vào người
qua đường tiêu hoá. Vào đến ruột non ấu trùng thoát vỏ, chui qua thành ruột vào
hệ thống tuần hoàn theo tĩnh mạch cửa lên gan, lên tim, lên phổi, chui vào phế
nang, lên khí quản, lên hầu, rồi xuống thực quản, ruột non phát triển thành
giun trưởng thành. Giun trưởng thành sống trong cơ thể người khoảng 12 - 18
tháng [1]
Trên thế giới có khoảng 1471 triệu người nhiễm giun đũa, đây là nguồn
mầm bệnh khổng lồ, thường xuyên được thải ra môi trường. Tiềm năng sinh sản
của giun cái rất cao khoảng 240000 trứng mỗi ngày, người ta ước tính hàng
ngày môi trường bị ô nhiễm khoảng 10
14
trứng giun đũa. Tuỳ thuộc vào các
yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí và các tia tử ngoại của ánh sáng mà
trứng giun đũa có thể tồn tại nhiều năm (6 -9 năm) ở điều kiện thích hợp hoặc
vài giờ ở điều kiện bất lợi. Trứng giun đũa có thể phát triển được từ 120C 0
0
0
36 C nhưng thích hợp nhất là 24 C - 25 C và độ ẩm trên 80%. Ở điều kiện
này sau 12 - 15 ngày trứng đã phát triển thành trứng có ấu trùng và có khả
0
năng gây nhiễm. Nhiệt độ 45 C ở các hố ủ phân sau 1 - 2 tháng mới diệt được
0
trứng giun đũa, ở 60 C trong vài giờ mới diệt được trứng giun.
Như vậy, Việt Nam có điều kiện khí hậu, môi trường rất thuận lợi cho sự
phát triển của trứng giun (miền Bắc từ tháng 2 đến tháng 11, miền Nam thì
1.1.3. Giun móc ( Ancylostoma duoenalae)
Giun móc trưởng thành sống ký sinh ở tá tràng và có thể ở phần đầu
của ruột non. Chúng dùng mỏ ngoạm vào niêm mạc ruột để chiếm thức ăn. Một
ngày giun cái đẻ khoảng 3000 trứng, trứng theo phân ra ngoại cảnh, gặp điều
kiện thuận lợi sau 24 giờ trứng nở ra ấu trùng sinh sống và tồn tại trong đất. Ấu
trùng có khả năng di chuyển và xâm nhập qua da vào cơ thể người. Sau khi chui
qua da ấu trùng vào hệ thống tuần hoàn về tim, lên phổi và chui vào phế nang
theo khí quản lên họng, đến thực quản xuống tá tràng, ruột non phát triển thành
giun trưởng thành. Từ khi ấu trùng chui qua da đến giun trưởng thành mất
khoảng từ 5 - 7 tuần. Đặc biệt, trong quá trình chu du trong cơ thể người ấu trùng
giun móc có thể tạm dừng ở tổ chức (giai đoạn ngủ), giai đoạn này có thể kéo dài
tới 8 tháng, thời gian này ấu trùng có khả năng kháng lại thuốc điều trị giun. Hiện
tượng ngủ của ấu trùng cũng có thể xảy ra ở động vật có vú, cho nên có thể nhiễm
ấu trùng giun móc khi ăn thịt động vật ở dạng chưa nấu chín. Giun trưởng thành
có thể sống trong cơ thể người từ 5 - 7 năm.
- Giai đoạn phát triển ở ngoại cảnh rất quan trọng đối với vòng đời của
giun móc, điều kiện thích hợp để trứng phát triển thành ấu trùng là nhiệt độ từ
0
0
25 C - 30 C, có đủ oxy, độ ẩm.
Do đặc điểm vòng đời sinh học của các loại giun có khác nhau, nên bệnh lý
do chúng gây nên cũng rất đa dạng và phức tạp, ở nhiều cơ quan, tổ chức khác
nhau mà ấu trùng chu du đi qua hoặc tại nơi giun cư trú [4].
1.1.4. Giun kim (Enterobius vermicularis)
1.1.4.1. Sinh lý bệnh học và chu kỳ sinh bệnh
E. vermicularis là một ký sinh trùng bắt buộc; người là vật chủ tự nhiên duy
nhất, đường lây truyền là phân-miêng, thông qua các vật dụng quần áo, đồ chơi và
Giun cái di chuyển đến trực tràng, sau khi giao phối và nếu không bị tống ra
theo phân thì sẽ tiếp tục di chuyển đến vùng đáy chậu (thường vào ban đêm), nơi
đó chúng có thể đào thải ra khoảng 11.000 trứng. Trứng trưởng thành có khả năng
gây nhiễm trong vòng 6-8 giờ và dưới điều kiện thuận lợi, tối ưu, khả năng gây
nhiễm vẫn duy trì trong môi trường kéo dài đến 3 tuần.Vì thời gian ủ bệnh ngắn
cho đến khi trứng gây nhiễm, các trứng này đào thải và nếu vô ý bằng cách nào đó
chúng di chuyển và nằm dưới kẻ móng tay, từ đó dễ dàng đưa vào miệng hình
thành phương thức lan truyền bệnh.
Giun cái có kích thước trung bình 10mm x 0.7mm, ngược lại giun đực thì nhỏ
hơn. Giun kim đẻ trứng ở nếp kẻ hậu môn, ấu trùng bên trong trứng sẽ phát triển
sau 4-6 giờ; người nuốt phải trứng giai đoạn nhiễm; sau đó ấu trùng thoát vỏ trong
ruột non; giun kim trưởng thành sống trong ruột già, thời gian từ khi nuốt phải
trứng (giai đoạn nhiễm) đến khi phát triển thành con trưởng thành và đẻ trứng mất
khoảng 1-2 tháng, ban đêm giun cái có trứng di chuyển đến hậu môn và đẻ trứng ở
các nếp nhăn quanh hậu môn (đồng thời lúc phát sinh triệu chứng của trẻ nhiễm và
ngứa).
Sự tự nhiễm hoặc bò ngược của ấu trùng mới nở từ quanh vùng da hậu môn
lên trực tràng có thể gây bệnh nhưng cơ chế chưa được biết rõ.
1.1.4.2. Tác hại của bệnh
Khi ở trong ruột, giun kim có thể gây những
tổn thương kích thích niêm mạc ruột, làm rối loạn
tiêu hóa hoặc gây tình trạng viêm ruột mạn tính, có
thể gây nổi mẩn dị ứng, nếu giun kim chùi vào ruột
thừa có thể gây viêm ruột thừa, đôi khi giun kim
H.1.2. Tác hại của giun kim
ở đường ruột
Quan sát bằng mắt thường thấy giun là một trong những bằng chứng đáng tin
cậy và cũng là cơ sở để tiến hành điều trị;
Giun có thể phát hiện trong phân hoặc
vùng quanh hậu môn trước khi tắm buổi
sáng;
Ngoại lệ, nếu con giun cái đẻ trứng có
thể di chuyển lạc chỗ đến cơ quan sinh dục
nữ và gây viêm âm đạo, âm hộ (do hậu môn
H1.4. Kích thước giun kim
và bộ phận sinh dục ở nữ gần nhau). Hoặc
đôi khi tình cờ phát hiện tổn thương dạng u
hạt hoại tử hoặc qua phẩu tích thấy giun nằm bên trong, đôi lúc gặp cả trứng, ấu
trùng trong vòi trứng và khoang phúc mac, điều này cho thấy giun có hướng di
chuyển lên bộ phận sinh dục;
Phát hiện giun kim ở các nếp nhăn quanh hậu môn, xem đại thể phân có thể
gặp giun kim bám toàn màu trắng ở rìa khuôn phân;
Thu thập trứng giun bằng phương pháp dán giấy bóng kính vào hậu môn vào
buổi sáng sớm trước khi tắm hoặc rửa hậu môn, sau đó soi dưới kính hiển vi sẽ
thấy trứng giun kim khá điển hình; giấy bóng kinh này thường dán vào ban đêm
hoặc sáng sớm trước khi cho bệnh nhân rửa hậu môn, thông thường chúng ta lấy 3
mẫu 3 ngày liếp tiếp mới phát hiện được hoặc loại trừ. Trong quá trình chuẩn bị
bệnh phẩm nên pha loãng dung dịch sodium hydroxide hoặc toluene vào slide.
Hiếm khi việc chẩn đoán bệnh giun kim lại đòi hỏi can thiệp các kỹ thuật chẩn
đoán hình ảnh.
Chẩn đoán phân biệt
Bệnh giun kim biểu hiện triệu chứng tương đối điển hình nên cũng dễ phát
hiện, song có một số trường hợp (dù không nhiều) đã biểu hiện triệu chứng như
trị cho bệnh giun kim. Liều thứ 2 được chỉ định sau liều đầu khoảng 2 tuần giúp
ngăn ngừa tái nhiễm giun kim.
Các thuốc điều trị:
Tên thuốc
Mô tả
Liều người lớn
Mebendazole (biệt dược Vermox)
Thuốc gây chết giun nhờ vào cơ chế block đảo ngược khâu
tiêu thụ glucose và vi chất khác.
100 mg đường uống, liều suy nhất, liều lặp lại trong vòng 2
Liều trẻ em
Chống chỉ định
tuần
Chỉ định như liều ngưới lớn
Mẩn cảm với thuốc, bệnh gan
Thuốc carbamazepine và phenytoin có thể giảm hiệu lực
Tương tác thuốc
thuốc mebendazole; cimetidine có thể làm tăng nồng độ
mebendazole.
Nguy cơ phôi thai được đánh giá trong vài nghiên cứu động
Phụ nữ có thai
vật, chưa thấy biểu hiện trên người, có thể dùng nếu xét
Nguyên tắc điều trị
Điều trị phải kết hợp chặt chẽ với phòng bệnh để tránh tái nhiễm;
Với các tập thể nhiễm giun kim cao cần điều trị hàng loạt và điều trị lại để
tránh tái nhiễm;
Một số tác giả có ý kiến cho rằng vì giun kim có tuổi thọ ngắn so với một số
giun khác (1,5 - 2 tháng trong ruột) nên nếu chống bệnh tự nhiễm tốt, một cách tích
cực thì có thể không cần dùng thuốc, bệnh cũng tự khỏi.
1.1.4.5. Biện pháp phòng bệnh
Phát hiện bệnh và điều trị kịp thời;
Rửa hậu môn cho trẻ vào buổi tối trước khi đi ngủ và sáng sớm;
Không nên để trẻ mặc quần thủng đáy hoặc không mặc quần, không để trẻ
chơi lê la ở nền đất bẩn; giữ tay sạch, cắt ngắn móng tay, rửa tay sạch trước khi ăn
và sau khi đi đại tiện
Tất cả các vật dụng như giường, chiếu, áo gối thường xuyên đưa đi phơi nắng
(nếu có thể);
Cải tạo tập quán vệ sinh tốt tại nhà, vườn trẻ, trường mẫu giáo, mầm non, và
nơi sống tập thể (công nông lâm trường, xí nghiệp có khu nội trú).
1.2. TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN CỦA TRẺ EM TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở
VIỆT NAM
1.2.1. Tình hình nhiễm giun của trẻ em trên thế giới
Nhiễm giun là bệnh thường gặp nhất ở người, hay gặp ở các nước nhiệt đới,
phần lớn các nước đang phát triển là vùng nhiễm kí sinh trùng. Theo thống
kê của WHO 2002, có đến 230 triệu trẻ em từ 0-4 tuổi bị nhiễm giun, vùng bị
nhiễm nhiều nhất là vùng châu Á, Trung quốc, Ấn độ và sa mạc Sahara [17].
Năm 1997 tại Ấn Độ, Awashi. S và cộng sự nghiên cứu 1061 trẻ em từ
18-42 tháng tuổi thấy tỷ lệ nhiễm kí sinh trùng đường ruột là 17,5%, trong đó
nhiễm giun đũa chiếm 68,1% [21]. Tại Kenya, Olsen A và cộng sự cho thấy
em tuổi mầm
vực khô
non
hạn
ở
và tiểu
Falcon, Tây
Bắc Venezuela, cho thấy tỷ lệ nhiễm giun kim khá cao (63,23%). Tỷ lệ nhiễm giun
kim đã không khác biệt đáng kể giữa các giới tính hay tuổi tác (p>0,05) [22]
Norhayati M, Hayati MI, nghiên cứu khu vực nông thôn ở Malaysia trong
số178 đối
tượng với 40,4% bị nhiễm Enterobius vermiculari, tỷ lệ nhiễm giun
kim cao hơn đáng kể ở trẻ em 5-7 tuổi [26].
Park J.H.,(2000), nghiên cứu nhiễm giun kim Enterobius ở trẻ em (3-10 tuổi)
sống đảo ven biển của nước Cộng hòa Hàn Quốc ở 39 trường mẫu giáo và trường
tiểu học năm 2000. Trong số 1.661 trẻ em được kiểm tra, 307 (18,5%) đã được tìm
thấy dương tính với trứng E. vermicularis. Tỷ lệ nhiễm cao nhất (59,3%) đã được
tìm thấy trường mẫu giáo Chujado [27]
Kang S, Jeon HK, (2004), xác định tỷ lệ nhiễm giun kim, tỷ lệ trứng
Enterobiusvermicularis trong 1.512 trẻ em mầm non được lấy mẫu từ tổng cộng
20 trường mẫu giáo ở thành phố Cheongju, 2004 và năm 2005 từ 7 trường mầm
non. Tỷ lệ tìm thấy trứng giun kim là 7,9% (119 / 1512); 9,3% (73/784)cho trẻ em
trai và 6,3% (46/728) cho trẻ em gái, tương ứng. Nhóm 5 tuổi được có tỷ lệ trứng
dương tính cao nhất (10,9%, 47/430) trong số các nhóm tuổi được kiểm tra [28]
Phan Thị Hương Liên, (1997) nghiên cứu tình hình nhiễm giun đường ruột ở
trẻ em trường mầm non Việt - Bun, Hà Nội cho thấy tỷ lệ nhiêm giun kim
11,34%[12].
Phạm Thị Hiển và cs (2002) điều tra tỷ lệ nhiễm giun kim trên trẻ em và
ở ngoại cảnh tại 3 trường mầm non ở Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ nhiễm giun
kim là 45,6% [4].
Vũ Văn Thái (2004), nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học giun kim ở trẻ
em 1-6 tuổi tại trường mầm non Hải Phòng cho thấy tỷ lệ nhiêm giun kim ở nhóm
12-36 tháng tuổi chiếm 29,0% và nhóm 37-72 tháng tuổi chiếm 37,5% [16].
Lại Quang Sáng, Hoàng Thị Hòa (2004) đánh giá tình hình nhiễm giun kim
của trẻ em lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo tại trường mầm non số 2 thành phố Nam Định
cho thấy tỷ lệ nhiễm giun kim có khuynh hướng tăng dần theo nhóm tuổi
(p>0,0%) [14].
1.3. SƠ LƯỢC VỀ 3 TRƯỜNG MẦM NON, MẪU GIÁO PHAN THIẾT
( Tài liệu em xem để ghi vào)
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trẻ em có độ tuổi từ 3 đến 5 tuổi không phân biệt giới tính, thành phần dân
tộc, tôn giáo tại 03 trường mầm non mẫu giáo của 03 phương TP Phan thiết
Các bà mẹ có con trong nhóm được chọn nghiên cứu
2.1. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành tại 2 trường mầm non và 1 mẫu giáo thành phố
Phan Thiết.
- Trường mầm non Tuổi Thơ
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên 3 trường mầm non, mẫu giáo
tại TP. Phan thiết, chọn tất cả các em 998 em đang học tại 3 trường
2.4.2. Các kỹ thuật, vật liệu được sử dụng nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp xét nghiệm tìm trứng giun kim bằng kỷ thuật Graham:
Để đánh giá tỉ lệ nhiễm giun.
Băng dán bằng giấy bóng kính trong, lam kính, kính hiển vi, que, găng tay…
-Tìm hiểu các yếu tố nguy cơ: Học vấn , thái độ, nhận thức, hành vi về
phòng chống giun kim của cha mẹ, cô nuôi dạy trẻ, thói quen xâu của trẻ như: Cắn
móng tay, mút ngón tay, gãi hậu môn…qua bộ (KAP) bằng mẫu câu hỏi thiết kế
sẵn.
2.4.3. Phương pháp tiến hành thu thập số liệu
- Đánh giá tỷ lệ nhiễm giun với phương pháp Graham
- Điều tra, khảo sát phỏng vấn trực tiếp với các bà mẹ của 998 em học sinh
mẫu giáo Tp Phan Thiết
2.2.5. Các biến số nghiên cứu
- Tuổi của trẻ và mẹ
- Giới trẻ
- Trình độ học vấn của mẹ
- Tìm hiểu mối liên quan giữa đặc điểm chung của bà mẹ và tỷ lệ nhiễm giun
kim.
- Đánh giá kiến thức và thực hành của bà mẹ qua bộ câu hỏi về phòng chống
bệnh giun sán theo mẫu của Sở Y tế Bình Thuận.
2.2.6. Xử lý số liệu
Số liệu được làm tròn đến 2 chữ số sau dấu phẩy
Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê y học qua máy vi tính theo chương
trình Excel, SPSS 19.0
- Tính tỷ lệ %. Hai tỷ lệ % khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05
Phép kiểm định χ2 theo bảng 2 x 2
Albendazol 500 mg.
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG MẪU NGHIÊN CỨU
3.1.1. Phân bố trẻ theo các trường mầm non và mẫu giáo
Bảng 3.1. Tỷ lệ trẻ theo các trường mầm non và mẫu giáo
Trường
Trường mầm non Tuổi Thơ
Số trẻ
413
Tỷ lệ %
41,38
Ý nghĩa thống kê
χ2 =44,30
Trường mầm non Đức Thắng
284
28,46
Mẫu giáo Đức Nghĩa
301
Tỷ lệ %
28,56
39,18
32,26
100,00
Ý nghĩa thống kê
χ2 =26,10
p < 0,05
Biểu đồ 3.2. Phân bố theo tuổi các cháu mẫu giáo
Nhóm trẻ lứa 4 tuổi có tỷ lệ cao nhất 39,18%, tiếp đến nhóm 5 tuổi (32,26%)
và thấp nhất là nhóm 1 tuổi (28,56%). Sự khác biệt giữa các nhóm tuổi có ý nghĩa
thống kê (p>0,05).
3.1.3. Phân bố theo giới các cháu mẫu giáo
Bảng 3.3. Phân bố theo giới các cháu mẫu giáo
Giới
Số trẻ
Tỷ lệ %
Nam
500
50,10
998
100,00
Ý nghĩa thống kê
χ2 =50,03
p < 0,05
Biểu đồ 3.3. Phân bố theo tuổi bà mẹ các cháu
Các bà mẹ nuôi dưỡng các cháu ở nhóm ≥ 30 tuổi có tỷ lệ cao (57,92%), hơn
nhóm < 30 tuổi (42,48%). Sự khác biệt giữa 2 nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê
(p>0,05).
3.1.5. Phân bố theo trình độ học vấn mẹ các cháu
Bảng 3.5. Phân bố theo trình độ học vấn mẹ các cháu
Trình độ học vấn
< THPT
Số bà mẹ
≥ THPT
404
40,48
998
100,00
Ý nghĩa thống kê
p < 0,01
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ nhiễm giun kim của trẻ chung 3 trường
Qua 998 trẻ có 247 đối tượng là nhà trẻ, mẫu giáo nhiễm giun kim chiếm tỷ
lệ 24,75%.
3.2.2. Phân bố nhiễm giun kim theo trường
Bảng 3.7. Tỷ lệ nhiễm kim theo trường
Trường mầm non Tuổi Thơ
Số mẫu xét
nghiệm
413
Trường mầm non Đức Thắng
284
83
29,22
χ2= 10,20
Mẫu giáo Đức Nghĩa
301
Lứa tuổi
Số mẫu xét
Số (+)
Tỷ lệ %
P
3
4
5
Tổng cộng
nghiệm
285
391
322
998
74
106
67
247
25,96
27,11
20,81
24,75
P
124
123
24,80
24,70
χ2= 0,98
247
24,75
Tỷ lệ nhiễm giun theo giới không có sự khác biệt ( p>0,05)
p > 0,05
3.2.5. Tỷ lệ nhiễm giun kim theo giới và trường
Bảng 3.10. Tỷ lệ nhiễm giun kim theo giới và trường
Giới
Trường mầm non
Trường mầm non
Mẫu giáo
XN
151
133
284
Tỷ lệ Số mẫu
(+)
%
45 29,80
38 28,57
83 29,22
> 0,05
XN
143
158
301
Số (+)
p
Tỷ lệ
%
39 27,27 < 0,05
44 27,85 < 0,05
8
0,80
540
54,11
458
45,89
Đa số các cô giáo thường xuyên hướng dẫn rửa tay cho trẻ trước khi ăn
chiếm tỷ lệ 99,20%.
3.3.2. Kiến thức và thực hành của bà mẹ về phòng chống bệnh giun sán
Bảng 3.12. Kiến thức và thực hành của bà mẹ về phòng chống bệnh giun
Có
Không