Thực trạng dinh dưỡng của bệnh nhân phẫu thuật ổ bụng – đường tiêu hóa tại khoa Ngoại, bệnh viện Bạch Mai - Pdf 31

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng (SDD) đang là hiện tượng phổ biến của bệnh nhân nằm
viện. Ngày nay tại các nước phát triển, suy dinh dưỡng cộng đồng không còn
là vấn đề được quan tâm thì SDD trong bệnh viện vẫn chiếm tỉ lệ khá cao.
Nghiên cứu của Pirlich tại Đức cho thấy 22% bệnh nhân nằm viện bị SDD
[1], tỉ lệ SDD của bệnh nhân nằm viện ở Argentina là 47% trong đó SDD
nặng chiếm 12% [2] , tỉ lệ SDD của bệnh nhân nằm viện ở Brazil là 56,5%
trong đó SDD nặng là 17,4%, SDD trung bình là 39,1% [3].
Suy dinh dưỡng làm tăng nguy cơ các biến chứng như nhiễm khuẩn,
viêm phổi, chậm liền sẹo sau phẫu thuật, suy hô hấp [4], [5], [6]. Detsky AL
nghiên cứu 202 bệnh nhân phẫu thuật đường tiêu hoá ở bệnh viện thực hành
Torento cho thấy 10% bị biến chứng liên quan đến dinh dưỡng [6], nghiên
cứu của Detsky AS cho thấy tỷ lệ biến chứng ở bệnh nhân SDD nặng là 67%
[7]. SDD liên quan chặt chẽ với thời gian nằm viện.Thời gian nằm viện càng
kéo dài thì tỷ lệ suy dinh dưỡng càng cao [8].
Suy dinh dưỡng làm tăng biến chứng, làm kéo dài thời gian nằm viện
do đó làm tăng chi phí điều trị [9], [10]. Năm 1992, The King’s Fund ước tính
dinh dưỡng hỗ trợ cho bệnh nhân SDD sẽ tiết kiệm cho dịch vụ sức khoẻ quốc gia
226 triệu bảng Anh mỗi năm [11]. Tuy nhiên, SDD trong bệnh viện lại thiếu sự
quan tâm của bác sĩ lâm sàng. Nghiên cứu của Roubenoff cho biết có khoảng 2550% bệnh nhân nhập viện vì những bệnh lý cấp tính có biểu hiện của SDD nhưng
nhân viên y tế chỉ phát hiện được 12,5% trong số đó [12], [13].
Các bằng chứng nghiên cứu cho thấy, chức năng bình thường của dạ
dày, ruột non, ruột già được phục hồi sau phẫu thuật khoảng 48 giờ [14]. Nuôi
đường ruột sớm cho thấy có hiệu quả làm ngăn ngừa teo niêm mạc dạ dày ruột, duy trì hệ vi khuẩn bình thường, ngăn ngừa sự di chuyển vi khuẩn từ
ruột vào dòng máu và nhiễm trùng bắt nguồn từ ruột [15], [16].
- Tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của
bệnh nhân phẫu thuật. Tuy nhiên các nghiên cứu thấy rằng suy dinh dưỡng là
tình trạng phổ biến ở bệnh nhân khoa ngoại. Trong các bệnh ngoại khoa, dinh


Mai Hà Nội.


3
CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN
1.1. Vai trò của dinh dưỡng đối với nuôi dưỡng bệnh nhân phẫu thuật
1.1.1. Vai trò của nuôi dưỡng bệnh nhân trong bệnh viện.
Ăn điều trị có tác dụng trực tiếp tới căn nguyên bệnh và căn nguyên
sinh bệnh như đối với các bệnh nhiễm khuẩn, ngộ độc thức ăn, suy dinh
dưỡng, thiếu vitamin...
Ăn điều trị còn nhằm nâng cao sức đề kháng chung của cơ thể chống
lại bệnh tật. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh là sự phát triển của
các quá trình sinh bệnh trong tất cả các bệnh nhiễm khuẩn và phụ thuộc vào
phản ứng của cơ thể.
Ăn điều trị cũng ảnh hưởng đến các cơ chế điều hòa thần kinh thể
dịch, sự rối loạn của cơ chế điều hòa này ảnh hưởng đến quá trình diễn
biến của bệnh và thường gây ra các rối loạn chức năng ở một số cơ quan
và hệ cơ quan. Trong số các cơ chế điều hòa, đặc biệt phải kể đến sự điều
hòa nội tiết và hệ thần kinh [19].
1.1.2. Vai trò của dinh dưỡng đối với hệ miễn dịch
1.1.2.1. Mối quan hệ giữa dinh dưỡng và bệnh nhiễm khuẩn
Mối quan hệ giữa tình trạng dinh dưỡng của cá thể với các bệnh nhiễm
khuẩn được diễn ra theo hai chiều (sơ đồ 1). Thiếu dinh dưỡng làm giảm sức
đề kháng của cơ thể làm cơ thể dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Ngược lại,
các bệnh nhiễm khuẩn làm suy sụp thêm tình trạng suy dinh dưỡng sẵn có
[20] [21].



thành mạch. VTM C giúp tăng cường hấp thu sắt không Hem, tham gia quá trình
tạo kháng thể và làm tăng sức đề kháng của cơ thể với bệnh nhiễm trùng.
Các Vitamin nhóm B: trong các Vitamin nhóm B, vai trò các folat và
pyridoxin đáng chú ý hơn cả. Folat cần cho quá trình tổng hợp ADN và
chuyển hóa protein. Thiếu folat làm chậm sự tổng hợp các tế bào tham gia vào


5
các cơ chế miễn dịch. Tương tự như thiếu sắt, miễn dịch dịch thể ít bị ảnh hưởng
hơn miễn dịch qua trung gian tế bào [23] [24].
1.1.2.4. Vai trò của một số khoáng chất đối với hệ miễn dịch.
Sắt: Thiếu máu là một dạng thiếu dinh dưỡng thường hay gặp nhất ở
người. Thiếu sắt gây nên tình trạng thiếu máu nhược sắc, hồng cầu nhỏ. Tùy
mức độ thiếu máu mà bệnh nhân có biểu hiện khác nhau, từ mệt mỏi, hay cáu
giận, hay quên, giảm khả năng lao động [19].
Kẽm: Khi thiếu kẽm tuyến ức nhỏ đi, các lympho bào giảm số lượng và
kém hoạt động. Thymulin, một hormon của tuyến ức có chứa kẽm. Kẽm là
coenzym của một số men như ADN và ARN polymerase, cũng như carbonic
anhydrase của hồng cầu. Thiếu kẽm thường ít đơn thuần mà hay kèm theo
thiếu sắt và các Vitamin [19].
Đồng: Là coenzym của cytochrom oxydase và superoxyd dismuatase.
Trẻ thiếu đồng bẩm sinh thường chết do nhiễm khuẩn, nhất là bệnh viêm
phổi [19].
Selen: Là thành phần thiết yếu của glutation – peroxydase là men góp
phần giải phóng sự hình thành các gốc tự do. Thiếu selen, nhất là khi kèm
theo thiếu Vitamin E làm giảm sản xuất kháng thể [19].
1.2. Nguyên nhân và hậu quả của suy dinh dưỡng trong bệnh viện
1.2.1. Nguyên nhân của suy dinh dưỡng trong bệnh viện
- Suy dinh dưỡng liên quan tới bệnh tật, thiếu khẩu phần ăn uống,
nghèo đói và do thiếu hiểu biết. Suy dinh dưỡng do bệnh tật xảy ra khi khẩu


Giảm khẩu phần khi thực
phẩm sẵn có
-Chán ăn vì bệnh tật, do triệu
chứng của bệnh tật (VD: nôn)
do điều trị, lo lắng hoặc chán
nản
- Khó đưa thức ăn vào đường
miệng (yếu cơ, rung cơ,phẫu
thuật...)
- Khó nhai (thiếu răng), kém
về vị giác (thay đổi vị giác
khi hóa trị liệu) khó nuốt (thắt
nghẽn thực quản)
- Chống chỉ định ăn đường
miệng (ruột không hấp thu)
- Nhịn ăn để làm xét nghiệm
và điều trị.
- Gây mê, gây tê

Tăng nhu cầu dinh
dưỡng:
-Bệnh tật/điều trị liên
quan tới tăng nhu cầu
năng lượng cơ bản và nhu
cầu các chất dinh dưỡng
khác đ
- Rối loạn hấp thu và mất
các chất dinh dưỡng do
bệnh tật hoặc do điều trị

quan và chức phận của cơ thể, suy dinh dưỡng đem lại nhiều hậu quả đối với
cấu trúc và chức năng của cơ thể, sức khỏe thể lực và tinh thần, khả năng hồi
phục, kết quả sau chấn thương, sau phẫu thuật và sau khi khỏi bệnh.
Suy dinh dưỡng dẫn tới giảm cân nặng do mất khối mỡ và khối nạc
của cơ quan và tổ chức mô.
Suy dinh dưỡng dẫn tới những tổn thương về chức phận, sức khỏe
thể lực và tâm lý:
+ Suy giảm hệ thống miễn dịch dẫn tới dễ mắc các bệnh nhiễm trùng
+ Chậm lành vết thương và tăng nguy cơ loét các điểm tỳ đè của cơ thể
Mất và yếu cơ
+ Chức năng hô hấp: cơ hô hấp yếu đi làm bệnh nhân khó ho và khạc
do vậy làm tăng nguy cơ các nhiễm trùng ở lồng ngực. Yếu cơ hô hấp cũng
làm khó khăn cho việc ngừng thông khí nhân tạo cho bệnh nhân.
+ Chức năng tim mạch: Cơ tim yếu làm giảm khối lượng tuần hoàn
và nguy cơ trụy tim mạch.
+ Chức năng vận động: giảm khối cơ dẫn đến giảm vận động, tăng
nguy cơ huyết khối, tăng nguy cơ loét do tỳ đè.
Thay đổi cấu trúc và suy giảm chức năng đường tiêu hóa dẫn đến rối
loạn tiêu hóa và hấp thu.
Sự lãnh đạm, thờ ơ, buồn chán làm suy sụp tinh thần và giảm khả
năng hồi phục [25].
1.3. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân.
1.3.1. Khái niệm:
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là xác định chi tiết , đặc hiệu
và toàn diện tình trạng dinh dưỡng người bệnh. Đánh giá TTDD là cơ sở cho


8
hoạt động tiết chế dinh dưỡng. Quá trình đánh giá TTDD giúp xây dựng kế
hoạch chăm sóc dinh dưỡng cho BN và cũng là cơ sở cho việc theo dõi các

Thay đổi(%)= Trọng lượng trước đây (kg) – Trọng lượng hiện tại (kg) x 100
Trọng lượng trước đây
Công thức này được sử dụng để tính toán tỷ lệ trọng lượng cơ thể giảm
đi hơn là là tỷ lệ tặng lên, bởi vì tỷ lệ giảm đi là một chỉ tiêu quan trọng để
xác định nguy cơ suy dinh dưỡng của bệnh nhân. Khi sử dụng ”tỷ lệ giảm cân
” như là một thông số để can thiệp dinh dưỡng khi: bệnh nhân sut cân không
mong muốn > 10% trong vòng 3 đến 6 tháng hoặc bệnh nhân có BMI < 18,5
và có sụt cân không mong muốn > 5% trong 3 đến 6 tháng [26].
1.3.2.1.2. Chiều cao
- Chiều cao đứng: có thể đo bằng thước đo chiều cao riêng biệt hoặc
loại gắn trên tường.
- Trường hợp chiều cao đứng không thể đo được có thể ước tính bằng
cách sử dụng bằng các biện pháp thay thế như:
+ Người bệnh tự khai chiều cao, đặc biệt là người già thường
không nhận thấy quá trình giảm chiều cao theo tuổi và thường ước tính chiều
cao của họ thấp hơn bình thường khoảng 2 cm.
+ Đo chiều cao khi nằm cũng rất chính xác nhưng thường dài hơn
chiều cao đứng 2%.
+ Ước đoán chiều cao của bệnh nhân bởi người nhà hoặc người
chăm sóc với sai số là 1%.


10
+ Một số đo khác có thể giúp ước tính được chiều cao như chiều dài
xương cẳng tay, xương cẳng chân [26].
1.3.2.1.3. Chiều dài cẳng tay:
Là phương pháp dễ dàng và nhanh nhất với bệnh nhân nặng. Tính hợp
thức khi đo cẳng tay trái
1.3.2.2. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân thông qua đo khối mỡ.
1.3.2.2.1. Vòng eo: là chỉ số dự báo chính xác về khối mỡ bụng khi nó dùng


Suy dinh dưỡng trung bình

17 – 18,4

Suy dinh dưỡng nhẹ

25 – 29,9

Thừa cân

30 – 34,9

Béo phì độ I

35 – 39,9

Béo phì độ II

>40

Béo phì độ III

1.3.2.3. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân thông qua dự trữ năng
lượng của cơ thể
1.3.2.3.1. Dự trữ Lipid:
- Có khoảng 50% mô mỡ của cơ thể nằm dưới da. Bằng cách đo bề
dày nếp gấp da (BDNGD) cơ tam đầu, dưới cơ bả vai, bụng, hông đánh giá
được dữ trữ lipid của cơ thể.
- Trung bình nếp gấp da cơ tam đầu


Albumin huyết thanh (từ 28 – 35g/l):

Suy dinh dưỡng mức độ nhẹ.

Albumin huyết thanh (từ 21 – 27g/l):

Suy dinh dưỡng mức độ vừa.

Albumin huyết thanh < 21g/l:

Suy dinh dưỡng mức độ nặng

Tuy nhiên, nồng độ Albumin huyết thanh bị ảnh hưởng bởi một số yếu
tố khác ngoài yếu tố dinh dưỡng như giảm nhanh trong trạng thái stress và
tình trạng nhiễm trùng; albumin bị mất trong một số trường hợp bệnh lý khác
[6], [29].
1.3.2.4. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân thông qua phương pháp
điều tra khẩu phần:
Các phương pháp chính là phương pháp hỏi ghi khẩu phần 24 giờ,
điều tra tần suất tiêu thụ lương thực, thực phẩm. Đây là một phương pháp sử


13
dụng để phát hiện sự bất hợp lý (thiếu hụt hoặc thừa) dinh dưỡng ngay ở giai
đoạn đầu tiên. Thông qua việc thu thập, phân tích số liệu về tiêu thụ lương
thực, thực phẩm và tập quán ăn uống (chỉ số về dinh dưỡng của các thực
phẩm dựa vào bảng thành phần hóa học Việt Nam của viện dinh dưỡng) từ đó
cho phép rút ra các kết luận về mối liên quan giữa ăn uống và tính trạng sức
khỏe [22] [26] [30].

hiệu. SGA được sử dụng rộng rãi trong nhiều bệnh viện, nhiều loại hình chăm
sóc y tế.
Theo Detsky AS (1987) [6] SGA là một kỹ thuật kết hợp dữ liệu từ
các khía cạnh chủ quan và khách quan. SGA có 2 phần đánh giá.
Phần 1: Kiểm tra bệnh sử (Thay đổi cân nặng, chế độ ăn uống, các
triệu chứng tiêu hóa, và những thay đổi chức năng)
Phần 2: Kiểm tra lâm sàng (mất lớp mỡ dưới da, teo cơ, phù mắt cá
chân và cổ chướng) giúp sàng lọc dinh dưỡng khi bệnh nhân vào viện. Hiệu
quả của ưu điểm này là biết rõ được thời điểm gần đây bệnh nhân có thay đổi
tình trạng dinh dưỡng. (phụ lục số III)
* Cách tính điểm
- Phương pháp SGA không phải tính điểm bằng số
- Điểm nguy cơ dinh dưỡng không thể không dựa vào mối nguy cơ
riêng lẻ
- Không nên sử dụng hệ thống tính điểm cứng nhắc dựa trên các tiêu
chuẩn cụ thể.


15
* Hầu hết tính điểm từ
Phần 1:
-Sụt cân
- Khẩu phần ăn
Phần 2
-Giảm khối cơ
- Giảm dự trữ mỡ
* Chỉ số gợi ý nhiều đến tính điểm ”A” hoặc ít nguy cơ dinh dưỡng
- Cân nặng bình thường hoặc gần đây tăng cân trở lại.
- Khẩu phần ăn bình thường hoặc cải thiện khẩu phần ăn
- Mất lớp mỡ dưới da tối thiểu hoặc không mất.

– năng lượng mãn tính (BMI), tình trạng thay đổi (giảm cân không mong
muốn) và hiện trạng của bệnh tật có tính cấp tính dẫn đến không có khẩu phần
ăn > 5 ngày.
MUST được xây dựng để sử dụng cho tất cả các đối tượng trưởng
thành, bệnh nhân nội, ngoại trú, đa khoa, cộng đồng. MUST là công cụ cấu
thành bởi 5 bước để xác định SDD, nguy cơ SDD của người trưởng thành và
bao gồm hướng dẫn xử trí dinh dưỡng [25].


17
Bước 1: Cân cân nặng và đo chiều cao để tính toán BMI. Nếu không
thể cân đo trực tiếp dùng các phương pháp thay thế như:
+ Sử dụng số liệu ghi chép trước đây.
+ Nếu đối tượng không thể biết chiều cao, sử dụng phương pháp thay
thế như đo chiều dài cẳng tay.
+ Nếu cân nặng và chiều cao không thể có, thay thế bằng đo vòng cánh
tay (MUAC) để ước tính BMI. Nếu MUAC < 23,5 cm, BMI < 20, nếu
MUAC > 32cm, BMI > 30.
Bước 2: Ghi nhận tỷ lệ giảm cân không mong muốn và cho điểm mức
độ giảm cân, nếu không thể tính toán được mức độ giảm cân thì:
Áp dụng cách tự khai mức giảm cân (tin cậy và hiện thực)
Bước 3: Tính điểm cho các bệnh cấp tính.
Bước 4: Cộng điểm cho các bước 1, 2 và 3 để xác định nguy cơ chung
của SDD.
Bước 5: Sử dụng thông tin về hướng dẫn quản lý đối tượng và điều
kiện cụ thể để xây dựng kế hoạch chăm sóc thích hợp.
Với BMI: Ghi nhận/đánh giá trên lâm sàng khi đối tượng rất gầy, bình
thường, thừa cân béo phì.
1.3.4.2.3. Phương pháp đánh giá dinh dưỡng tối thiểu (MNA)
Được xây dựng nhằm đánh giá nhanh và hiệu quả để sàng lọc dinh

Thu nhập thấp
Thiếu hoặc không có khả năng giao tiếp về nhu cầu
Người già
Phụ nữ
Thay đổi các số đo nhân trắc
Mất khối mỡ khối cơ
Thừa cân, béo phì
Bệnh tim mạch hoặc tiết niệu mãn tính có biến chứng
Bệnh đái tháo đường và các biến chứng
Vết loét do tỳ đè, tổn thương da
Ung thư và tác dụng phụ của điều trị
Rối loạn đường tiêu hóa
Điều kiện thể lực Tăng dị hóa, tăng chuyển hóa
Các vấn đề bất Giảm khả năng vận động
Bệnh loãng xương
thường về xét
Tổn thương thần kinh
nghiệm
Tổn thương thị giác
Protein huyết thanh (Albumin, Transfein...)
Mỡ máu


19

Sử dụng/điều trị
bằng thuốc

Hemoglobin, hematocrite
Ure trong máu,creatinin, điện giải

1. Nhu cầu các chất dinh dưỡng

Cơ cấu khẩu phần
E (Kcal): 700 – 1000

- Năng lượng: 35 – 40Kcal/kg cân nặng hiện tại/ngày

P (g): < 10 - < 25

- Protid: 1 – 1,2g/kg cân nặng hiện tại.

L (g): < 15

- Lipid: 15 – 20% tổng năng lượng

G (g): 158 – 225

2. Đường nuôi


20
a. Nuôi qua đường ruột:
- Năng lượng: 700 – 1000 Kcal/ngày
- Protid: < 25 g/ngày
- Lipid: < 15g/ngày
- Thực phẩm: gạo, khoai tây, quả chin, sữa đã thủy
phân protein và Lipid chuỗi trung bình. Trong các
trường hợp đặc biệt, tùy theo độ cắt giảm thể tích hấp
thu mà lựa chọn các thực phẩm công thức có chứa các
chuỗi peptid, hoặc ở các dạng acid amin và Lipid ở

- Protid: 30 – 45g/ngày
- Lipid < 20 g/ngày
- Số bữa ăn: 4- 6 bữa/ngày
b. Nuôi qua đường tĩnh mạch
Số lượng chất dinh dưỡng = nhu cầu – số lượng chất
dinh dưỡng nuôi qua đường ruột
1.4.4 .Nhu cầu DD cho BNPT đường tiêu hóa, giai đoạn hồi phục
Nguyên tắc

Cơ cấu khẩu phần

- Năng lượng: 1800 – 1900Kcal/ngày

E (Kcal): 1800 – 1900

- Protid: 12 – 14% tổng năng lượng

P (g): < 55 - 65

– Protid: 15 – 25% tổng năng lượng. Acid béo chưa L (g): < 40 - 50
no một nối đôi chiếm 1/3, nhiều nối đôi chiếm 1/3 và G (g): 275 – 325
acid béo no chiếm 1/3 trong tổng số Lipid
Natri (mg): < 2400
- Số bữa ăn: 4 – 6 bữa/ngày
Nước (l): 2 – 2,5


22
1.5. Các phương pháp nuôi dưỡng bệnh nhân sau phẫu thuật.
1.5.1. Phương pháp nuôi dưỡng bệnh nhân sau phẫu thuật đường bằng

- Bốn phương pháp nuôi qua ống thông là: Mũi – dạ dày, mũi – tá
tràng, mở thông dạ dày, mở thông hỗng tràng. Trong đó 2 phương pháp đầu
thường dùng trong nuôi ngắn hạn và hai phương pháp sau thường dùng để
nuôi dài hạn (> 3 tuần).
- Nuôi ăn qua ống thông đòi hỏi phải lựa chọn thức ăn phù hợp nhất
và tính toán nhu cầu nước và các chất dinh dưỡng cần thiết. Chất xơ trong
thức ăn nuôi qua ống thông làm tăng sự chấp nhận của đường tiêu hóa. Dù
lượng nước trong một số trường hợp hạn chế thì nhu cầu VTM và khoáng
chất vẫn phải được cung cáp đầy đủ.
- Lựa chọn công thức nuôi ăn qua ống thông.
- Đường nuôi qua ống thông.
Việc lựa chọn đường nuôi dựa vào 4 yếu tố: Tình trạng sinh lý của
đường tiêu hóa, nguy cơ hít sặc, thời gian phải nuôi qua ống thông, kỹ thuật
phù hợp. Ống thông mũi – dạ dày thường dùng với bệnh nhân có tình trạng
tương đối ổn định, nuôi ngắn ngày không có các biến chứng như nôn, trào
ngược... Nuôi qua ống thông mũi – ruột non chỉ định trên những bệnh nhân
đường tiêu hóa còn hoạt động nhưng không được nuôi qua dạ dày. Mở thông
thực quản có chỉ định nếu không đặt qua đường mũi. Nuôi qua mở ống thông
dạ dày được thực hiện khi thực quản bị tổn thương trong khi dạ dày bình
thường hoặc có trào ngược thực quản mà không có rối loạn nhu động dạ dày,
tá tràng, hoặc khi cần nuôi ống thông dài ngày trên 3 tuần.
- Phương pháp nuôi ăn
Ba phương pháp nuôi ăn chính: nhỏ giọt liên tục, nhỏ thức ăn từng
lúc và bơm thức ăn. Nhỏ giọt liên tục áp dụng đối với trẻ sơ sinh, khi mới bắt
đầu tiến hành nuôi qua ống thông, khi bệnh quá nặng...Nhỏ thức ăn từng lúc


24
từ 5 – 8 lần/ngày tương tự các bữa ăn thông thường, phương pháp này đưa
thức ăn bằng trọng lực. Dùng bơm tiêm bơm có bất lợi nếu thức ăn vào nhanh

1.6.1. Trên thế giới
- Theo nghiên cứu của trường Đại học Minnesoltra (Mỹ): có tới 25 –
50% bệnh nhân nhập viện bị suy dinh dưỡng, 25 – 30 % bệnh nhân bị suy
dinh dưỡng trong thời gian nằm viện, 69 % bệnh nhân nội trú có sự giảm sút
về dinh dưỡng, nhìn chung suy dinh dưỡng dẫn tới 25% biến chứng, 5% tử
vong và kéo dài thời gian điều trị, suy dinh dưỡng dẫn tới giảm khối lượng và
chức năng của tất cả các cơ quan: tim, phổi, tế bào máu, thận, hệ miễn dịch
[44] [45] [46].
- Nghiên cứu của Pirlich tại Đức cho thấy 22% bệnh nhân nằm viện bị
SDD [81], tỉ lệ SDD của bệnh nhân nằm viện ở Argentina là 47% trong đó
SDD nặng chiếm 12% [2], tỉ lệ SDD của bệnh nhân nằm viện ở Brazil là
56,5% trong đó SDD nặng là 17,4%, SDD trung bình là 39,1% [3] [47].
- SDD gặp ở tất cả các nhóm bệnh, dao động từ 20-70% ở nhóm bệnh
phổi mạn tính [48], [49], [50] [51], từ 10-25% ở nhóm suy tim mạn [52], [53]
[54] [55], 8-16% ở bệnh nhân đột quỵ, 30-76% ở bệnh nhân suy thận mạn
[56], [57], [58] [59].
- SDD làm tăng nguy cơ các biến chứng như nhiễm khuẩn, viêm phổi,
chậm liền sẹo sau phẫu thuật, suy hô hấp. Detsky nghiên cứu 202 bệnh nhân
phẫu thuật đường tiêu hoá ở bệnh viện thực hành Torento cho thấy 10% bị
biến chứng liên quan đến dinh dưỡng [6], nghiên cứu của Detsky cho thấy tỷ
lệ biến chứng ở bệnh nhân SDD nặng là 67% [6]. SDD liên quan chặt chẽ với
thời gian nằm viện. Thời gian nằm viện càng kéo dài thì tỷ lệ suy dinh dưỡng
càng cao [8].
1.6.2. Tại Việt Nam
-

Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của

bệnh nhân phẫu thuật. Tuy nhiên các nghiên cứu chỉ rõ suy dinh dưỡng là tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status