Những giải pháp nhằm áp dụng NEP có hiệu quả ở Việt Nam - Pdf 31

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Một thời khi khi hệ thống các nớc xã hội chủ nghĩa còn lớn mạnh và là đối
trọng của phe T bản duy trì trật tự thế giới, với sự lớn mạnh cả về kinh tế và quân
sự của Liên Xô các nớc Xã Hội Chủ Nghĩa thực sự là mối đe doạ đối với t bản chủ
nghĩa . Liên Xô chính là nớc đầu tiên đi theo con đờng XHCN, sau cuộc Cách
mạng Tháng 10 ở nớc Nga và là Liên Xô sau này đã viết lên một trang sử mới
trong lịch sử nhân loại : thời kì phấn đấu lên Chủ nghĩa Xã hội .
Dới sự dẫn dắt cử Đảng Cộng Sản Liên Xô, từ một nớc Nga với nền nông
nghiệp lạc hậu đã trở thành Liên Xô con chim đầu đàn của hệ thống các nớc
XHCN . Nhân dân Liên Xô đã làm nên điều kì diệu trong lịch sử .
Để làm lên một kì tích nh thế chúng ta phải nhấn mạnh tới sức mạnh của học
thuyết Mác Lênin, học thuyết mang tính định hớng cho không chỉ riêng Liên
Xô mà cho bất kì một nớc nào, dân tộc nào muốn xây dựng CNXH .
Tiếp bớc các lí luận mang tính chất định hớng, là mở đầu cho một học thuyết
về CNXN của Các Mác, Lênin đã cụ thể hoá từng chặng đờng và cụ thể gắn với
tình hình tổ quốc ông Nớc Nga . Chính điều này làm cho CNXH trở thành mục
tiêu có thể hớng tới để xây dựng .
Trong thời kì đầu của nớc Nga của nhân dân khi mà tình hình một triều đại
mới thành lập còn đầy khó khăn, giải quyết vấn đề lơng thực kinh tế là nhiệm vụ
cần thiết . Chính sách Kinh tế mới chính là phần đáng quan tâm nhất, đây có
thể coi là công trình gần cuối đời của Lênin một công trình còn dang dở . Chính
sách Kinh tế mới (NEP) thể hiện tầm nhìn xa rộng của một con ngời có suy nghĩ
luôn đi trớc thời đại . Nghiên cứu về chính sách này không chỉ cho ta thấy điều đó,
điều đáng nói là ngay cả đối với thời điểm hiện nay nó vẫn còn những ý nghĩa nhất
định . Đặc biệt là đối với Việt Nam, chúng ta đang xây dựng CNXH từ một nền
tảng không phải là hoàn toàn nhng một vài phần giống với nớc Nga thời Lênin,
biết đâu ta sẽ có những bài học của riêng mình.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đề cơng chi tiết

2.1. Chế độ chính trị .
2.2. Kinh tế .
2.3. Xã hội .
3. Chính sách kinh tế mới củaV.I.Lênin với công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
3.1. Vận dụng quan hệ hàng tiền trong thời kì đổi mới cơ chế quản lý ở cơ
sở-kinh tế nhà nớc.
3.2. Những điểm mới trong luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam .
4. Thành tựu và những mặt hạn chế sau những năm đổi mới .
4.1. Thành tựu .
4.2. Hạn chế .
5. Những giảipháp nhằm áp dụng NEP có hiệu quả ở việt nam .
5.1 Xây dựng t duy lý luận và quan điểm lý luận đúng đắn .
5.2. Vận dụng t duy lý luận chính trị vào hoạt động thực tiễn.
C. kết luận.
1. Tổng hợp về chính sách (NEP).
2. Bài học kinh nghiệm .

3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
B- Phần nội dung
I. Những nét cơ bản về NEP
1. Tình hình lịch sử ra đời của NEP
1.1. Đặc điểm nớc Nga trớc cách mạng Tháng 10.
Nớc Nga là nớc có lãnh thổ lớn nhất ở Châu Âu và cũng là nơi quá trình
chuyển từ chế độ phong kiến sang chế độ T bản diễn ra muộn nhất . Trong khi vào
cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19 các nớc phơng Tây nô nức tiến lêm theo con đờng T
Ban Chủ Nghĩa thì nớc Nga vẫn duy trì chế độ phong kiến và không có biểu hiện
gì cho thấy một sự chuyển biến đáng kể .
Về kinh tế, kinh tế nớc Nga mang nặng tính chất của kinh tế tiểu nông . Quan
hệ phổ biến trong nông nghiệp là quan hệ nông nô-địa chủ . Công cụ sản xuất lạc

thành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, viết lên một trang sử mới cho lịch
sử nhân loại . Cách mạng Nga có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với sự nghiệp cách
mạng của rất nhiều quốc gia khác trên thế giới. Và trong suốt quá trình tranh đấu,
những ngời cộng sản giai cấp lãnh đạo - luôn lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm
sợi chỉ đỏ dẫn đờng để đạt tới mọi mục tiêu cần hớng tới .
Sau khi thủ tiêu chế độ phong kiến giành chính quyền, hoà bình đã đạt đợc
nhng nhiệm vụ đặt ra trớc mắt còn khó khăn hơn nhiều . Thực tế lúc đó tình trạng
của nớc Nga là cực kì thảm hại, vốn dĩ nền kinh tế trì trệ, nông nghiệp lạc hậu,
công nghiệp manh mún nặng về thủ công không thể đảm bảo vững chắc cho nền
móng xây dựng chế đọ mới lại thêm do tham chiến vào cuộc chiến tranh thế giới
thứ nhất lại càng đẩy nớc Nga lún sâu hơn vào những khó khăn kinh tế : sản lợng
tổng nền kinh tế chỉ còn bằng cha đến 1/3 trớc chiến tranh . Xã hội do mới có sự
thay đổi lớn về chế độ một cách dồn dập nên không tránh khỏi tình trạng náo loạn,
lộn xộn trong xã hội, hoang mang trong quần chúng nhân dân . Mặt khác, giai cấp
t sản trớc đây liên minh cùng quần chúng chống lại phong kiến nay quay sang
chống lại những ngời vô sản, bọn tay chân của chính quyền cũ, tay chân của
những nớc t bản phơng Tây cũng gia sức phá rối thậm chí làm bạo loạn hòng lật
đổ chế độ mới non trẻ .
Sau khi cách mạng nổ ra ở Nga chứng tỏ khả năng tiến lên một xã hội mới
cao hơn chủ nghĩa T bản là có thực, phong trào cách mạng ở khắp Châu Âu diễn ra
ngày càng mạnh mẽ, đe doạ sự tồn tại của chủ nghĩa T bản . Lo sợ cách mạng sẽ
xảy ra trên đất nớc mình, năm 1919 liên quân 14 nớc t bản áp sát tấn công nớc
Nga trên cả 3 mặt biên giới .
Tình thế của cuộc cách mạng hiện thời là không vững và rõ ràng là nguy kịch
. Mặc dù biết nh vậy là trái quy luật khách quan nhng Lênin buộc phải đề nghị áp
dụng chính sách Cộng sản thời chiến .
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.2. Chính sách Cộng sản thời chiến
Chính sách này ra đời trong tình thế cực kì cấp bách của đất nớc Nga, khi mà

nghĩa t bản .
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tuy nhiên nh đã nói ở trên Chính sách Cộng sản thời chiến là không phù
hợp với quy luật khách quan . Chính sách này chỉ có thể duy trì trong thời gian
ngắn, trong hoàn cảnh dặc biệt khó khăn, cấp bách . Các chính sách do nhà nớc
quy định vẫn còn duy trì sau khi chiến tranh đã kết thúc gây ra trở ngại không nhỏ
cho sự phát triển của nền kinh tế và sự bất mãn trong nhân dân . Cụ thể là :
Với sự bãi bỏ thị trờng, và tiền tệ làm cho lu thông hàng hoá cực kì chậm
chạp các sản phẩm cần thiết không đến tay ngời dân kịp thời .
Sự can thiệp quá sâu của các Uỷ ban gieo trồng vào sản xuất ở nông thôn,
làm cho nông dân trở thành giống nh những cái máy hoạt động theo sự sai bảo của
giai cấp vô sản đặc biệt chính sách trng thu lơng thực thừa gây sự thiếu lơng thực
thậm chí là trầm trọng đối với hầu hết các gia đình ngay cả ở nông thôn, sự bất
mãn của nông dân ngày càng tăng . Điều này có thể hiểu và có thể chịu đựng khi
có chiến tranh nhng khi chiến tranh đã kết thúc thắng lợi thì không có lí do gì mà
ngời nông dân không đợc hởng các thành quả do chính mình làm ra .
Chủ nghĩa cộng sản thời chiến đã không còn phù hợp với tình hình thực
tại . Đặc biệt là sự lãnh đạo bằng các mệnh lệnh cụ thể từ trên xuống, chỉ đạo nền
kinh tế quốc dân từ một trung tâm duy nhất, thủ tiêu mọi quyền tự quản của xí
nghiệp, thủ tiêu mọi kích thích phát triển kinh tế không làm cho kinh tế phát triển
mà còn làm cho nó suy thoái . ý định cộng sản hoá toàn bộ đất nớc một cách
nhanh chóng và triệt để của chính sách Cộng sản thời chiến vớng phải trở ngại
lớn đó chính là quần chúng nông dân . Muốn cộng sản hoá nền kinh tế phải bắt
đầu từ ngời tiểu nông, mà muốn cải tạo đợc ngời tiểu nông cả về kiến thức và tâm
lí phải trải qua nhiều thế hệ mới có thể hoàn thành .
2. Chính sách Kinh tế mới và sự áp dụng chính sách Kinh tế mới ở
Nga
Sự phát triển của Đảng cộng sản Nga đã chỉ ra cho ta thấy một bớc ngoặt lịch
sử mà nớc Nga và cả thế đang trải qua, trong thời điểm này đòi hỏi Đảng cộng sản

đầu cơ và mu toan của giai cấp t sản muốn lật đổ chính quyền gây ra . Việc đẩy
mạnh phát triển kinh tế trong nớc, việc giữ vững một trật tự tối thiểu đang đặt ra tr-
ớc mắt, và trong tơng lai nh Lênin đã khẳng định đó là nhiệm vụ giúp đỡ cách
mạng các nớc phơng Tây và các nớc khác thực hiện thành công . Nh vậy nhiệm vụ
trớc đã rõ, và để thực hiện thành công nhiệm vụ thì nớc Nga cần một phơng hớng
mới cách thức mới trong quản lí, phát triển kinh tế .
Ngay từ sau khi kết thúc chiến tranh Lênin đã để ý đến nhng hạn chế không
thể chối cãi của chính sách Cộng sản thời chiến . Lênin đã trực tiếp tiếp xúc
với nhân dân, lắng nghe những ý kiến đóng góp của ngời dân . Đặc biệt là sau
cuộc bạo loạn ở Cronstad, sau nạn mất mùa năm 1920, nạn thiếu cỏ, bệnh dịch các
gia súc, Ngời đã cảm thấy thực sự cần có một chính sách mới phù hợp hơn với tình
hình hiện tại và cả cho lâu dài . Lênin đã làm việc tận tuỵ vừa thu thập từ nhân dân
vừa dựa theo những lí tởng chung nhất của chủ nghĩa Mác để da ra chính sách,
một chính sách mang tính thời đại và ngay cả với tơng lai, chính sách Kinh tế
mới .
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chính sách Kinh tế mới ra đời không chỉ khác căn bản với chính sách Cộng
sản thời chiến mà còn khác ngay với cả những chính sách trong những ngày đầu
của cuộc cách mạng về các vấn đề hợp lí hoá quá trình sản xuất, quản lí lao động,
tổ chức sản xuất, ... và hơn hết là ở sự tranh luận về kích thích kinh tế và sự phát
triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ .
Đồng thời chính sách Kinh tế mới đòi hỏi tính kế thừa lịch sử và t tởng, tiếp
tục khuyến khích các cá nhân bằng cách quan tâm đến nhu cầu thiết yếu của họ
bằng chế độ hạch toán kinh tế . Các nội dung chủ yếu của chính sách Kinh tế mới
là :
+ Bãi bỏ sắc lệnh trng thu lơng thực thừa và thay bằng thuế lơng thực
+ Cho T nhân thuê lại các xí nghiệp vừa và nhỏ
+ Khôi phục lại sản xuất nông nghiệp và công nghiệp
+ Mở rộng trao đổi hàng hoá giữa thành thị và nông thôn, công nghiệp và

việc trng thu lơng thực bằng thuế lơng thực, từ đó ngời nông dân có thể tự do buôn
bán lúa gạo, lơng thực một khi mà họ đã nộp đủ thuế, tức là xoá luôn cả sắc lệnh
cấm buôn bán lúa mì trớc đây .
2.1. Chính sách thuế lơng thực .
Chính sách thuế lơng thực có nội dung nh sau : bãi bỏ chính sách trng thu l-
ơng thực thừa trớc đây trng thu toàn bộ lơng thực thừa của nông dân, nay thay thế
huy động lơng thực bằng chính sách thuế theo đó nông dân phải nộp một lợng l-
ơng thực nhất định trong một năm cho nhà nớc số lơng thực còn thừa thì nông dân
có quyền giữ lại và tuỳ ý sử dụng .
Chính sách thuế lơng thực đã đợc cụ thể hoá bằng sắc lệnh của đại hội Đảng
công sản Nga ki ngày 21 tháng 3 năm 1921 . Theo sắc lệnh này thuế ngũ cốc đối
với nông dân giảm so với chế độ trng thu từ 423 xuông còn 240 triệu pút ( giảm
40%) là con số để chi trả tối thiểu cho các thành phố và quân đội . Sau đó lại giảm
xuống 160 triệu do nạn mất mùa . Các sản phẩm khác cũng giảm đáng kể : thịt
giảm 74.5%, dầu giảm 36.1%, sợi lanh giảm 16 lần ... về sau còn đợc giảm nữa .
Chính sách này bãi bỏ việc tập thể chịu trách nhiệm nộp thuế ở nông thôn .
Hội dân uỷ chịu tráhc nhiệm giám sát lao động, đảm bảo công bằng cho mọi ngời
nông dân . Giải tán các Uỷ ban gieo trồng .
Thừa nhận, áp dụng thuế lơng thực chính là thừa nhận vấn đề phấn đấu lên
chủ nghĩa xã hội không phải là một tiến trình theo đờng thẳng, mà phải có bớc
ngoặt thậm chí bớc lùi . Thuế lơng thực chính là chính sách để chuyển đất nớc từ
trạng thái sẵn sàng cho chiến tranh sang trạng thái xây dựng chủ nghĩa xã hội bình
thờng . Nớc Nga còn trong trạng thái hoang tàn sau chiến tranh hậu quả của chiến
tranh quá nặng nề và không có gì đảm bảo rằng ngày mai không xảy ra nữa . Một
khi đã nh vậy thì không thể đảm bảo đáp ứng đầy đủ cho nông dân những gì cần
thiết cho sản xuất nông nghiệp và nh thế nguồn lơng thực cho các tầng lớp giai cấp
khác và cho quân đội sẽ là không đủ . Thuế lơng thực chính là phần lơng thực còn
thiếu cho những nhu cầu tối thiểu của các thành viên khác trong xã hội .
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Một hình thái đợc Lênin coi là có triển vọng của hình thức sản xuất nhỏ đó
là hình thức hợp tác xã trong nông nghiệp . Hợp tác xã là một tập hợp một số nông
dân góp chung phần ruộng đất của họ để cùng sản xuất và đến khi thu hoạch thì
phân phối theo phần lao động các hành viên đóng góp . Dới chủ nghĩa cộng sản
thời chiến, hợp tác hoá đợc áp dụng có tính chất bắt buộc và giám sát chặt chẽ bởi
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhà nớc, phân phối sản phẩm bằng hiện vật . Hợp tác xã đợc xem nh là một công
cụ cho hệ thống cộng sản tập trung, một công cụ để nhà nớc quản lí đất nớc .
Trong chính sách kinh tế mới vai trò của hợp tác xã nông nghiệp vẫn đợc đặc
biệt coi trọng tuy nhiên bản chất thì khác hẳn. Hợp tác xã nông nghiệp là hoàn
toàn tự nguyện của nông dân, các hội nông dân đợc củng cố . Các hợp tấc xã phát
triển còn chậm nhng sẽ là tiền đề cho các nông trờng lớn và hiệu quả sau này .
2.3. Phát triển sản xuất công nghiệp .
Đối với sản xuất công nghiệp, vốn dĩ nền công nghiệp của nớc Nga đã không
lấy gì làm phát triển ngay cả trớc chiến tranh . Là một nớc t bản trung bình, nớc
Nga trớc chiến tranh nền công nghiệp cũng chỉ dừng lại ở dạng công nghiệp nhỏ
nặng tính thủ công, tuy là quốc gia co tài nguyên phong phú nhng trình độ, kĩ
thuật công nghệ không cho phép phát huy đợc nhiều . Nhất là từ khi tham gia
chiến tranh mức độ công nghiệp sản xuất phục vụ cho nông nghiệp và các ngành
kinh tế khác càng hạn chế những công cụ làm ra không thể đáp ứng đủ nhu cầu sử
dụng . Phát triển sản xuất nông nghiệp là trọng tâm, nhng muốn đạt đợc những
điều mong muốn thì không thể quên nhiệm vụ đối với ngành công nghiệp . Vẫn
phải duy trì công nghiệp ở mức độ cần thiết hiện tại thì không thể làm mạnh mẽ đ-
ợc vì phải lo vấn đề lơng thực trớc mắt, nhng về sau này, khi mà vấn đề lơng thực
đã đợc giải quyết rồi thì chính nền công nghiệp chử không phải cái gì khác mới là
công cụ chủ yếu trên con đờng phấn đấu đi lên một nớc Xã hội chủ nghĩa .
Không thế phục hồi ngay các nhà máy lớn của nền đại sản xuất xã hội đợc vì
để làm nh vậy cần phải có nguồn lơng thực dự trữ dồi dào và khối lợng nguyên
liệu, năng lợng lớn, phải thay thế đợc những cỗ máy vốn đã quá lạc hậu và không

thể không cần sự đóng góp của giai cấp nông dân .
Nếu nh trong thời kì thực hiện chính sách Cộng sản thời chiến nông dân là
ngời thiệt thòi trong việc đóng góp lơng thực đặc biệt là sắc lệnh trng thu lơng
thực gây bất bình đối với nông dân thậm chí theo nh Lênin cảnh báo mối liên
minh nói trên có nguy cơ bi rạn nứt . Thì nay trong chính sách mới Lênin nhấn
mạnh việc giải quyết quyền lợi cho nông dân, chính sách mới đối với nông dân đ-
ợc coi là dễ dãi hơn thức thời hơn, đồng thời gia tăng mối liên kết công nhân
nông dân .
2.4.2. Trao đổi hàng hoá giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa thành thị với
nông thôn .
Biểu hiện của liên minh giai cấp Công- Nông ra bên ngoài có thể xét chính là
quan hệ trao đổi qua lại giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị với nông
thôn . Đây là biểu hiện về kinh tế phản ánh đầy đủ nhất mối quan hệ hai giai cấp .
Hoàn cảnh đặc biệt trớc đây buộc chính quyền Xô Viết thực hiện việc trng thu l-
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ơng thực nh thế có nghĩa là nông dân đã mất đi phần lơng thực thừa, cũng có thể
nói một phần những sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của họ thì nay theo Lênin
nhận xét đối với giai cấp vô sản đang thực hiện quyền chuyên chính của mình
trong một nớc tiểu nông thì một cách đúng đắn là tổ chức việc việc trao đổi những
sản phẩm công nghiệp cần thiết cho nông dân để lấy lúa mì .
Sự trao đổi hàng hoá giữa các thành phần kinh tế trong một đất nớc là vấn
đề tối quan trọng trong sự phát triển các thành phần đó và ngay cả với cấc thành
phần khác đặc biệt nông nghiệp và công nghiệp là 2 ngành dờng nh không thể tách
rời khỏi nhau . Vì nông nghiệp cung cấp lơng thực thực phẩm cho công nghiệp nói
riêng, nền kinh tế nói chung, ngợc lại công nghiệp cung cấp cho nông nghiệp nhng
sản phẩm là công cụ sản xuất, phơng tiện chuyên chở, phân bón . Các sản phẩm đó
đôi với mỗi bên đều là những thứ không thể thiếu nói cách khác sự tồn tạivà phát
triển của ngành này quy định sự tồn tại và phát triển của ngành kia . Cần cố gắng
hớng dẫn sự hợp tác,phát huy ý kiến để tăng gia và tăng cờng sự giao hoán giữa

có thể đủ khả năng ta sẽ không phải nộp một khoản cống vật nào nữa . Nói
theo cách của Lênin là dùng chính kiến thức của t sản để đào tận gốc những mầm
mống còn sót lại của chủ nghĩa t bản để rồi tiêu diệt nó . Việc cho thuê này ban
đầu sẽ có lợi cho cả hai bên, t sản sẵn lòng thoả thuận với chính quyền, họ quản lí
xí nghiệp theo đờng lối t bản để ấy lợi nhuận, ngoài ra họ còn nhận đợc những
nguồn nguyên liệu mà họ không thể kiếm bằng con đờng nào khác, nếu có cũng
vô cùng khó khăn . Chính quyền Xô viết cũng có lợi, đó là các lực lợng sản xuất
phát triển, khối lợng sản phảm tăng ngay trong một thời gian ngắn nhất .
Nếu không cho t bản thuế những cơ sở sản xuất thì nhà nớc cũng không thể
quản lí đợc tất cả các cơ sở trong nớc . Thực tế tại những nơi do nhà nớc quản lí
mà không đủ vốn và kĩ thuật thì các đại doanh nghiệp kinh doanh kếm hiệu quả
làm suy yếu kinh tế địa phơng, nông dân không còn tin vào chính quyền nữa. Nếu
đúng chừng mực và khôn khéo thì việc cho t bản thuê là hợp lí và đời sống nhân
dân đợc nâng lên một cách nhanh chóng .
Có ngời lại lo lắng rằng nếu làm nh thế giai cấp t bản có thể phát triển trở
lại . Không, chúng ta không phải lo ngại điều ấy vì thực tế nhà nớc đã nắm những
phần cơ bản nhất của nền kinh tế . Đặc biệt Lênin đã nhắc đến một hình thái đặc
biệt đợc coi là bớc quá độ của các doanh nghiệp quốc doanh, một hình thái là bớc
qua độ từ công ty t bản lên các nhà máy của chủ nghĩa xã hội : chủ nghĩa t bản nhà
nớc . Chủ nghĩa mày có vài hình thức trong đó hình thức cho t bản thuê nhà máy,
cơ sở sản xuất nh trên là là hình thức đơn giản nhất, rõ ràng nhất, rành mạch nhất,
có hình thể chính xác nhất .
Ngoài ra, còn một hình thức khác mà chính quyền Xô viết cũng có thể áp
dụng là nhà nớc thuê nhà t sản nh một nhà buôn, nhà nớc trả cho họ một số tiền
hoa hồng để họ bán các sản phẩm của nhà nớc và mua các sản phẩm của ngời của
các nhà sản xuất nhỏ. Nh vậy là lại thừa nhận sự tồn tại của thơng nhân .
2.6. Tài chính - tiền tệ.
Lập lại các ngân hàng nhà nớc, các quỹ tín dụng, tập hợp các hợp tác xã tín
dụng vẫn hoạt động lâu nay vào tổ chức chung . Một mặt phát hành tiền củng cố
15

nhà nớc .
Chính sách thơng nghiệp, thị trờng, quan hệ hàng hoá tiền tệ tỏ ra là phơng
tiện hữu hiệu xoá bỏ sự căng thẳng về chính trị thông qua giải quyết các vấn đề
của nền kinh tê . Chính sách này đợc thực hiện trong chính sách Kinh tế mới gốp
phần ngăn chặn đầu cơ lúa mì, ổn định thị trờng, xoá bỏ độc quyền .
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status