MỤC LỤC
MỤC LỤC....................................................................................................................................1
A. PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................................2
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :......................................................................................................2
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:.....................................................................3
III. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:.............................................................................................3
IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:.........................................................................................3
V. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:................................................................................................3
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:...................................................................................3
B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU :..................................................................................................4
1.Thực trạng đề tài :................................................................................................................4
2. Nội dung cần giải quyết :....................................................................................................4
3. Biện pháp giải quyết :........................................................................................................5
S ?..........................................................................................................................................17
4. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng của đề tài :....................................................................19
5. Triển vọng của đề tài:.......................................................................................................20
C. KẾT LUẬN :..........................................................................................................................21
1. Tổng kết – rút kinh nghiệm:..............................................................................................21
2.Phạm vi áp dụng :..............................................................................................................21
3.Lời kết thúc :......................................................................................................................21
Đề tài
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Toán Hình học “
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
*Đặt vấn đề :
minh, hiểu biết vấn đề, trình bày - lý luận thiếu mạch lạc, không lôgic.
Tôi có thể khẳng định: Học sinh nào giỏi toán hình học thì hầu như cũng đều giỏi
các loại toán khác. Vì muốn giỏi toán hình học thì trước hết học sinh phải có tinh
thần, ý chí học tập kiên trì, đó chính là đức tính cần thiết của học sinh giỏi và
cũng chính là nền tảng của các nhà khoa học trẻ sau này và cũng đồng thời có
những khả năng tư duy là cơ sở để hình thành những kỹ năng giải toán – nói
riêng – và kỹ năng giải quyết những vấn đề khác ở mọi góc cạnh nói chung .
“Hình học” đối với tôi – người trực tiếp đứng lớp trước đây và bây giờ là một
người cán bộ quản lý trực tiếp chỉ đạo về các hoạt động dạy và học trong nhà
Đề tài
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Toán Hình học “
2
trường, học sinh học yếu về môn Toán nói chung, toán hình học nói riêng là một
nỗi trăn trở, những mong góp phần tham gia giúp các em học sinh học tốt môn
Toán (nói chung) và bài tập dạng toán hình học (nói riêng)
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
-Từ những lý do nói trên, khi tôi đứng lớp dạy các em học sinh tôi đã ấp ủ
đề tài này từ những năm học còn đứng lớp cho đến nay tôi viết nên bằng lời
những ấp ủ đó. Tôi cũng chỉ mong là những trao đổi nghiệp vụ nhằm nâng cao
chuyên môn của người giáo viên.
-Mục đích chính của đề tài là :
* Tìm hiểu các yếu kém của học sinh về hình học để đề ra giải pháp khắc
phục.
* Tìm hiểu, phân dạng các bài toán liên quan đến chu vi, diện tích, thể tích
các hình (chủ yếu là ở khối 4 và 5) đồng thời phân tích, nhận xét nêu ra các bước
đi nhằm dạy từng dạng toán sao cho phù hợp với khả năng của học sinh.
3
B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU :
1.Thực trạng đề tài :
- Trong những năm làm giáo viên đứng lớp, tôi
nhận thấy việc học sinh hạn chế về tư duy hình
học là rất lớn. Các em chỉ quen giải các bài toán
hình học đơn giản (tức là chỉ giải dễ dàng các bài
tập áp dụng công thức sẵn có).
- Còn năm học 2009 – 2010, khi qua đợt khảo sát
đầu năm.
• Số liệu về thống kê khảo sát toán đầu năm của toàn trường :
Điểm giỏi
(9-10)
Điểm khá
(7 – 8)
Điểm TB
(5 – 6)
Điểm yếu
(3 – 4)
SL
%
31,4
29
28.4
30
29,4
10
9,8
1
0,98
L3
92
92
29
31,5
28
25,3
15
20,0
7
9,3
L5
78
78
17
21,8
15
19,2
17
21,8
21
4,9
Lớp
• Về số liệu chung, chỉ nêu được tổng quát về thống kê môn Toán, còn đi
sâu về phân tích chất lượng học sinh rất yếu khi giải bài hình học thì
hơn nửa lớp giải không đúng hoặc giải không được một câu hình học
đơn giản.
• Xin dẫn chứng 1 câu thuộc kiến thức hình học có hơn 70% học sinh giải
thiếu sót, giải sai hoặc không làm được để tiện tham khảo cho thực
trạng giải toán hình của các em học sinh đầu lớp 5: Một miếng đất hình
chữ nhật có chu vi 480 m. Chiều dài gấp 3 lần chiều rộng. Tính diện
tích miếng đất đó? (3 điểm)
2. Nội dung cần giải quyết :
a. Các nội dung về con người và phương pháp:
a.1 . Tìm hiểu và xây dựng các phương pháp giảng
dạy của giáo viên ảnh
hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến cách học của học sinh
như thế nào?.
a.2 . Các tích cực và hạn chế nơi học sinh?
Đề tài
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Toán Hình học “
4
b. Các nội dung, mục tiêu và sự liên kết các kiến
thức hình học ở khối 4 và khối 5?
Ví dụ : Bài “Hình tam giác”. Đến bài tập: Dùng ê – ke vẽ chiều cao các
hình tam giác sau:
Đáy
1
Đáy
2
3 Đáy
+ GV cần chuẩn bị ra phiếu luyện tập bài tập nói trên.
+ GV nên chia lớp thành 6 nhóm mỗi nhóm khoảng 5 HS, và tiến
hành làm việc.
Đề tài
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Toán Hình học “
5
+ Trong khi các nhóm làm việc, GV cần đến từng nhóm và đặt ra
những câu hỏi định hướng đồng thời theo dõi các em làm việc:
++ Cách cầm ê ke để kẻ vuông góc với 1 đường thẳng?
++ Thế nào là chiều cao của một hình tam giác?
++ Đáy của hình 1, hình 2, hình 3 ở vị trí nào? Đỉnh đối diện?
++ Yêu cầu tiến hành vẽ.
+ Sau khi các nhóm thực hiện xong, đại diện các nhóm lên trình bày.
Nhờ hình thức và phương pháp tổ chức dạy như thế học sinh biết rất rõ về
cách vẽ các chiều cao tương ứng với mỗi cạnh đáy. Chính nhờ bài tập này mà
khi GV dạy các em các bài toán nâng cao (dùng bồi dưỡng học sinh giỏi): Cho
tam giác ABC kéo dài đáy BC (có số đo) một đoạn… m , thì diện tích tăng thêm
từng cá thể học sinh. Tôi đề ra phương pháp để giáo viên giúp học sinh nắm được
các yếu tố sau:
++ Hình thành được các biểu tượng về hình học: Tùy
theo giai đoạn học tập, giáo viên cần giúp học sinh nhận dạng và vẽ được hình
đứng riêng lẻ hay hình có chứa nhiều đối tượng liên quan.
Ví dụ :
Đề tài
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Toán Hình học “
6
1. Khi tính diện tích của 1 hình tròn riêng lẻ, thì học sinh cần vẽ được hình
tròn đó và biết tìm được bán kính.
2. Bài tính diện tích của thành giếng. Học sinh phải vẽ được hình tượng trưng cho
thành giếng và miệng giếng. Qua hình vẽ như sau :
o
Sau khi vẽ được hình, các em dễ dàng hiểu được muốn tính được diện tích của
thành giếng thì cần phải tính được hiệu diện tích của 2 hình tròn đồng tâm.
++ Giúp học sinh phát triển trí tưởng tượng về không gian, năng lực tư
duy và kỹ năng thực hành hình học. Thông qua họat động dạy về toán hình học,
người giáo viên nâng dần khả năng tư duy, trí tưởng tượng của học sinh. Điều
này giúp học sinh có năng lực quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, dự đoán,
trừu tượng hóa và cuối cùng là thực hiện tốt được yêu cầu bắt người học sinh
phải giải quyết.
Ví dụ :
d=2m
đầy?
1,5 m
1
3
*
Trong giờ luyện tập giải toán,
GV cần phải chọn và phối hợp
nhiều phương pháp dạy học, không bao giờ làm việc với một phương pháp đơn
thuần, cũng như không cho phương pháp nào là chìa khóa vạn năng. Nhờ thế các
em học sinh của trường chúng tôi không cảm thấy mệt mỏi và chán nản khi
nghiên cứu và giải các đề toán. Ngược lại lúc nào lớp học cũng có không khí say
mê tìm tòi và “chinh phục” các đề bài khó. Người giáo viên phải luôn thực hiện
quan niệm “Trăm nghe không bằng một thấy” để lấy ích lợi của việc trực quan
cho bài dạy, nhưng cũng không thể chỉ sử dụng phương pháp này. Vì trực quan
có cái lợi nhưng cũng có hạn chế đến khả năng tư duy trừu tượng nơi học sinh,
nhưng nhiều khi khả năng tư duy của học sinh còn hạn chế thì người giáo viên
cần có phương pháp đàm thoại để định hướng cho tư duy …
* Song song với các phương pháp dạy – học, tôi còn lưu ý GV khi
dạy cần tổ chức các hình thức học tập:
+ Khi học ở lớp như: học nhóm (thường là nhóm đôi), tổ chức học cá nhân
… và tạo không khí thảo luận, đóng góp, kể cả phản biện nên học sinh nắm rất
chắc các vấn đề.
+ Ở nhà: Tôi chỉ đạo GV chuẩn bị nghiên cứu và dự kiến các tình huống sẽ
gây cho học sinh khó khăn trong bài mới của ngày hôm sau. Chính vì thế, khi GV
giao việc cho học sinh nghiên cứu (thường tổ chức các em học sinh ở gần nhà
nhau thành một nhóm và nghiên cứu một số mắc xích làm nền tảng cho việc giải
quyết các bài tập hoặc bài học mới)
hộp. Đó cũng làm hạn chế về việc nắm bắt kiến thức mới một cách chắc chắn
nơi học sinh đồng thời làm phí một lượng thời gian cần thiết cho luyện tập kỹ
năng.
b . Các tích cực và hạn chế nơi học sinh:
b.1. Các tích cực của học sinh:
+ Học sinh thích tham gia tìm hiểu, trình bày các ý kiến của mình,
nhất là các cách giải ngắn gọn hoặc một bài giải theo nhiều cách.
=> Chính từ xuất phát điểm này, bản thân tôi đã đặt mình vào
vị trí của các em để tìm ra cách “khêu gợi khả năng tiềm tàng” nơi các em. Chính
vì kinh nghiệm đã trải qua, tôi đã nhắc nhở và đưa vào tiêu chí trong việc kiểm
tra giảng dạy của GV: Các bài dạy – bài làm tôi luôn kết hợp với sự động viên,
tuyên dương khích lệ để mọi đối tượng học sinh đều được tham gia ý kiến. Khi
gặp các trường hợp các em lúng túng hoặc trả lời sai một vấn đề hoàn toàn, GV
giữ làm sao tránh cho các em sự ngượng ngập, xấu hổ. Vì có như thế lần sau các
em sẽ mạnh dạn hơn, suy nghĩ sâu hơn, đúng hơn … và qua các vấn đề các em
trình bày, người Giáo viên mới nhận ra cái thiếu, cái sai mà các em cần mình dạy
cho, cần mình điều chỉnh.
Ví dụ: Học sinh khi học về hình tam giác và hình thang, lúc tính diện tích
các em thường
quên chia hai, hoặc khi giải các bài toán về hình hộp tôi và GV qua trao đổi,
thống nhất mới nhận ra các em còn lẫn lộn giữa cách tìm diện tích hình chữ nhật
và chu vi. Cho các em xung phong sửa bài (ưu tiên cho học sinh yếu – trung
bình. Từ bài làm của các em, GV sẽ phát hiện kịp thời nên trong một thời gian
ngắn (khoảng 1 tuần), GV đã sửa chữa và khắc sâu được cho các em vấn đề đúng.
+ Học sinh hoàn toàn thích hợp với phương pháp dạy học mới. Điều này là
nền tảngcho người giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học tiến bộ đối với
học sinh. Cũng chính là sự đòi hỏi người giáo viên thật sự có nghiên cứu về đối
Đề tài
cho các phép tính về số và chỉ có một ít bài đơn giản về hình học), cũng như sẽ
có nhiều thời gian để nâng cao kiến thức
+ kỹ năng giải các bài toán hình học nâng cao, giúp các em xây dựng được
các tư duy về tóan hình học, nhằm tạo “vốn liếng” cho các em học sinh học về
toán hình học phẳng và toán hình không gian ở bậc trung học.
b.2 Các hạn chế của học sinh :
+ Ở một số học sinh việc đọc và phân tích đề rất yếu. Các em chỉ làm với
sự máy móc. Không chú ý cách tìm ra phương án giải quyết bài toán bằng cách đi
từ câu hỏi của đề để tìm ra từng yêu cầu nhỏ cần giải quyết.
++ Muốn giải quyết điều này: người giáo viên phải kiên trì với mục tiêu
đặt ra, thông qua các bài tập của sách giáo khoa. Khi các em đã làm quen với một
kiến thức mới, đã hiểu và thuộc quy tắc – công thức tính. Với mỗi bài tập, người
giáo viên phải dành một lượng thời gian cho các em tìm hiểu đề. Bằng một quy
trình cụ thể như sau:
• Đọc kỹ đề (3 – 5 lần)
• Gạch dưới những dữ kiện đề cho.
• Đọc kỹ câu hỏi.
Đề tài
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Toán Hình học “
10
• Tóm tắt đề. (vẽ hình nếu có).
• Đi từ câu hỏi để tìm ngược lên trên các yếu tố cần phải có hoặc cần phải
tìm, cho đến yếu tố cần tìm cuối cùng (Kết hợp với các công thức, các
kiến thức đã từng học qua).
• Trình bày lại bài giải theo hướng ngược lại khi phân tích (tổng hợp)
++ Thói quen này rất giúp ích khi các em làm các bài tập phức hợp
diện tích!
Đề tài
Phần học sinh thực hiện có hệ
thống,
có phương pháp :
- HS phải đọc kỹ đề bài, không được
chủ quan coi nhẹ bất cứ đề bài nào (dù
đã được làm qua), để nhằm làm chủ
được vấn đề cần giải quyết.
- HS phải gạch chân các dữ liệu, số
liệu.
- Phải đọc kỹ câu hỏi và phân tích
từng khía cạnh:
* Câu hỏi đòi giải quyết về khối lượng
lúa.
* Muốn tìm khối lượng lúa thì cần
xem xét khối lượng đó liên quan đến
điều gì? Tất nhiên theo hệ quả của tư
duy thì HS sẽ nhận ra rằng: mối liên
quan đó là về diện tích và khối lượng
lúa – diện tích là 2 đại lượng tỉ lệ
thuận.
* Muốn tìm được diện tích thì cần đòi
hỏi điều gì?
** Đây là hình thang => cần có sự
nắm vững về công thức tính diện tích
của hình này. Mà muốn tìm diện tích
của hình thang thì cần có những yếu
sâu)
chủ quan coi nhẹ bất cứ vấn đề nào
- HS chỉ có thể nắm được diện tích được nêu ra trong đề.
hình thang.
- HS phải gạch chân các dữ liệu, số
- Và có thể đi đến suy nghĩ là phải có liệu:
chiều cao mới tìm được tổng 2 đáy.
Shình thang : 60m2; hiệu2 đáy :4m; đáy lớn
- Với học sinh khá giỏi thì đến đây tăng : 2 m; Stăng thêm : 6m2
phát hiện thêm hiệu của 2 đáy cần - Đọc kỹ câu hỏi: tính độ dài mỗi đáy?
phải tìm tổng 2 đáy để giải theo dạng - HS đọc xong sẽ tóm tắt bằng hình
toán điển hình: tìm 2 số khi biết tổng
A
B
và hiệu.
- Và chắc chắn:
D
60m2
* Kết quả đối với HS trung bình thực
6m2
khó thể giải quyết hoàn tất bài tập
này.
H C
E
D
* Còn đối với HS khá – giỏi: rất lúng
m
HS
phân
tích
cách giải.
+ Việc nắm vững các công thức về hình học còn sai sót và lẫn lộn.
- Ví dụ : Công thức tìm P và S của các hình chữ
nhật và hình vuông.
+ Khi giải toán: đặt lời giải và viết đơn vị đo cũng chưa chính xác.
++ Người giáo viên cần phải kết hợp với phương pháp
phân tích và tổng hợp - đã nêu ở trên; để giúp HS hiểu rằng mình đang tính toán
điều gì và khi tính xong thì minh trình bày phép tính đó bằng câu văn ra sao?
Điều này thực sự cũng là một tồn tại mà các lớp cuối cấp thường gặp phải. Nếu
được xây dựng kỹ ở cuối HKII (với lớp 1) và trong suốt năm học với các lớp 2, 3
thì sẽ ích lợi biết bao cho các lớp trên.
Vì vậy, đây cũng là một vấn đề, giáo viên cũng rất
cần quan tâm để giải quyết trong việc tổ chức dạy các em nâng cao việc giải toán
hình học. Nếu các em biết rõ điều mình đang làm và ghi bằng lời văn cụ thể là
các em đã thể hiện được sự hiểu biết và trình bày được tư duy của chính mình.
Đồng thời qua việc trình bày đó, giáo viên chúng ta cũng sẽ nắm bắt rõ ràng trình
độ nhận thức và tiếp thu của học sinh nhằm chỉnh sửa hoặc phát huy cao hơn nữa.
3.2 . Các nội dung và sự liên kết các kiến thức hình học:
a.Người Giáo viên dạy ở hai khối lớp 4 và 1ớp 5, cần nắm vững sự
liên kết giữa các kiến thức hình học, mục tiêu cần đạt
Bài
dạy
Khối 4
Mục tiêu
Đề tài
Bài dạy
đáy tìm dài, tìm rộng của
chữ
một hình.
hộp chữ hình hộp.
nhật
- Biết cách tìm diện tích của nhật .
- Biết cách tìm thể tích của
hình chữ nhật và khi có diện
một phần cái hồ để từ đó
tích và một chiều thì có thể
tính được thời gian nước
tìm chiều còn lại.
chảy đầy hồ hoặc làm cho
- Biết cách tìm các thành phần
cạn …
của hình chữ nhật khi đề bài
- Hoàn chỉnh bảng đơn vị
cho một số dữ kiện liên quan.
đo chiều dài (ở dạng số đo
- Nắm vững mối quan hệ về
thập phân), bảng đơn vị đo
2
2
các đơn vị diện tích m ; dm ;
diện tích, bảng đơn vị đo
2
cm .
thể tích.
- Biết thế nào là chu vi một
tích …
Hình
- Như mục tiêu của hình
tam giác vuông và HCN nhưng còn
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Toán Hình học “
14
cung cấp thêm cho HS biết
về các thành phần và cách
tính diện tích trên nền tảng
của cách tính diện tích của
hình chữ nhật; HS nắm
vững sự tương ứng giữa
chiều cao với đáy.
- Như mục tiêu của hình
vuông và HCN nhưng còn
cung cấp thêm cho HS biết
về các thành phần và cách
tính diện tích trên nền tảng
Hình
của cách tính diện tích của
thang
hình tam giác; HS nắm
vững được mối liên kết 2
chiều giữa diện tích, chiều
cao với tổng hai đáy và
ngược lại.
b. Chiều dài 4/5 m, chiều rộng 1/3 m và chiều cao 1/4
m.
Nhận xét và hướng giải quyết:
• Bài toán nhằm mục đích rèn luyện cho HS nhuần nhuyễn công thức trên
ba dạng số: số tự nhiên, số thập phân, phân số.
• Ở bài tập này HS cũng được rèn luyện thêm về mối quan hệ giữa các
đơn vị đo.
• Khi HS giải toán xong, GV cần yêu cầu 100% HS nắm chắc được các
công thức tính toán và sửa chữa được các sai sót về đơn vị, lời giải …
+ Dạng toán đưa kết quả lên bảng tính:
Ví dụ : ( Toán 5 – trang 160)
Điền kết quả vào ô trống :
•
•
•
•
•
Hình hộp chữ nhật (1)
(2)
(3)
Chiều dài
4m
3/5 cm
0,4 dm
Chiều rộng
3m
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Toán Hình học “
16
a). d = 0,6 cm
b). d = 2,5 dm
c). d = 4/5 m
Nhận xét và hướng giải quyết: như ví dụ 1: (Toán 5 – trang
98)
• Dạng toán phải giải quyết một vài yếu tố rồi mới áp dụng công
thức:
+ Yếu tố chưa biết là bé hơn, lớn hơn hoặc có quan hệ tỉ lệ
với yếu tố đã biết:
Ví dụ : Bài 2 (SGK Toán 5 – trang 94)
Một thửa ruộng hình thang có đáy lớn 120 m; đáy bé bằng 2/3 đáy lớn.
Đáy bé dài hơn chiều cao 5 m. Trung bình mỗi 100 m 2 thu được 64,5 kg thóc.
Tính số ki-lô-gam thóc thu hoạch được trên thửa ruộng đó?
Nhận xét và hướng giải quyết :
• Đây cũng là một bài toán về tìm diện tích của một hình.
• GV cho HS đọc kỹ yêu cầu đề, gạch chân dữ liệu, câu hỏi và đi theo
hướng phân tích tổng hợp (như đã trình bày ở phần quy trình giải bài
toán có lời văn). HS đọc kỹ đề, tập luyện ngay từ các bài đơn giản quy
trình trên thì sau này với các bài phức hợp, bài khó các em dễ dàng tự
giải quyết được.
• HS sẽ tìm được các yếu tố cần thiết mà đề bài chưa cho để đi đến hoàn
chỉnh bài giải.
• Chú ý: GV lúc nào cũng cần biết rõ HS của mình đã thực sự hiểu vấn đề
và nắm vững công thức, áp dụng ra sao … để điều chỉnh, bổ sung kịp
thời.
(Tư duy: a và b không có thì phải dựa vào dữ
liệu. Dữ liệu cho gì?
Dữ liệu đã cho: Nửa chu vi: 0,15 km và tỉ số là
2/3.
Cho như vậy để làm gì ? đây là dạng toán gì?)
(Quá trình phân tích đã thực hiện xong
thì HS sẽ giải bài toán theo chiều ngược lại: quá trình tổng hợp)
• Dạng toán ứng dụng chu vi – diện tích – thể tích vào thực tế đời
sống:
•
•
•
•
•
•
Ví dụ : (Toán 5 - Bài 1 - trang 168)
Một căn phòng hình hộp có dài 6m, rộng 4,5m và cao 4
m. Người ta muốn quét vôi tường và trần nhà. Biết rằng tổng
diện tích các cửa là 8,5 m2. Hãy tính diện tích cần quét vôi?
Nhận xét và hướng giải quyết :
HS phân tích và nắm được bài toán cho dài, rộng, cao, diện tích các cửa.
HS phải hiểu được tìm diện tích xung quanh, diện tích trần nhà (1 đáy).
HS cũng phải hiểu là không quét vôi trên diện tích các cửa được.
Từ đó, HS tìm được diện tích quét vôi.
Các quy trình: như đã nêu.
Dạng toán tính thể tích của một vật thể nằm trong 1 bề nước (dựa
theo định luật a-si-mét đơn giản)
A
B
2,5 cm
2,5 cm
C
E
4 cm
3 cm
D
Nhận xét và hướng giải quyết.
• Đây là loại toán mà các yếu tố đã thể hiện trên hình vẽ.
• Bài tập này nhằm mục đích rèn luyện kỹ năng nhận biết các số liệu trên
hình vẽ và hiểu được diện tích của 1 hình còn là tổng diện tích các hình
nhỏ ghép nên nó.
• Giải bài toán này các em được rèn luyện lại kỹ hơn về các công thức
tính toán trên hình chữ nhật, tam giác cũng như rèn luyện lại kỹ năng
tính toán số đo thực sự với số đo của hình vẽ dựa trên tỷ lệ xích.
B
• Quy trình: như trên.
c
Dạng toán nâng cao:Ví dụ : (Toán 5 – bài 3 – trang 167)
Trên hình bên hãy tính diện tích:
4 cm
Số
bài
Đầu năm
458
Giữa HK I
Học kỳ I
Giữa HK II
Học kỳ II
HTTCTH
458
458
458
458
1-2
SL
10
%
2,2
3-4
SL
44
31,44
29,26
7 -8
SL
135
%
29,47
9 - 10
SL
%
110 24,0
146
170
180
31,88
37,11
39,30
120
135
139
26,2
29,92
30,35
tôi trăn trở để nghiên cứu đề tài này mà còn rất nhiều thầy, cô giáo cũng luôn trăn
Đề tài
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Toán Hình học “
20
trở tìm ra những biện pháp hay nhất để nâng cao chất lượng dạy học Toàn Hình
học ở Tiểu học cho học sinh.
Chỉ riêng đóng góp nhỏ bé của tôi, kết quả chẳng được là bao, đóng góp
cho việc dạy Toán ở trương Tiểu học, với tầm quan trọng của đề tài, với tâm
huyết của bản thân tôi và các thầy cô giáo khác, tôi tin tưởng rằng sẽ tìm ra
những biện pháp, giải của bài tập toán hình cho HS lớp 4, 5..
C. KẾT LUẬN :
1. Tổng kết – rút kinh nghiệm:
Do điều kiện và khả năng, cũng như thời gian thực hiện đề tài còn có hạn
chế, (nhất là khi chỉ mới áp dụng nhiều ở khối 4,5), nên đề tài còn nhiều thiếu sót
và chủ quan. Song qua quá trình thực hiện trong thực tiễn đề tài “Dạy giải toán
hình học ở Tiểu học” đã giúp tôi nhiều kinh nghiệm quý báu.
Với việc trình bày đề tài này chưa nêu hết mọi góc cạnh thiết yếu. Vì vậy,
trong những năm học tới bản thân tôi sẽ nghiên cứu và bổ sung tiếp, nhưng cũng
rất mong sự góp ý, hướng dẫn thêm những kinh nghiệm quý báu về chuyên môn
cho tôi, để tôi cập nhật hoá. Đó là niềm động viên to lớn, để tôi ngày càng hoàn
thiện công tác chỉ đạo giảng dạy môn toán đối với giáo viên của nhà trường.
Qua đề tài này, khi đi sâu về phương pháp, các giải pháp, chia các dạng
toán hình học … đã giúp tôi phân dạng các loại toán hình và định hướng để chỉ
đạo cụ thể việc dạy giải toán hình học cho GV có hệ thống hơn, việc giải toán của
học sinh đi vào bài bản và nhanh, chính xác hơn.
Qua đề tài này, thật sự tôi cũng rất tâm đắc vì nó đã giúp GV và HS của tôi
dụng với tất cả các bạn đồng nghiệp, với các trường bạn cùng bổ sung, góp ý,
điều chỉnh cho hoàn thiện hơn và được nhân rộng.
Văn Hán, ngày 30 tháng 4 năm 2011
Người viết
Nguyễn Thị Thức
Nhận xét của hội đồng chấm SKKN trường
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Đề tài
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Toán Hình học “
22
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Đề tài
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Toán Hình học “