Kiến thức, thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người chế biến thức ăn trong các trường mầm non xã tam hiệp, huyện thanh trì, hà nội năm 2014 và kết quả sau can thiệp - Pdf 31

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhắc tới thế hệ măng non chắc hẳn trong mỗi chúng ta đều nhớ đến câu nói
của Bác lúc sinh thời: “Trẻ em như búp trên cành- biết ăn biết ngủ, biết học hành là
ngoan”. Thật vậy mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng và
phát triển. Trong đó mặt nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ đang được gia đình, xã
hội quan tâm và chú trọng một cách đặc biệt. Trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển
về thể lực và trí lực [21].
Hiện nay vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang trở thành thời sự “nóng
bỏng”, là mối quan tâm lớn của toàn xã hội [24]. Vệ sinh an toàn thực phẩm rất cần
thiết đối với con người, càng quan trọng hơn đối với các trường mầm non, bởi vì
hiện nay 100% trẻ đều tham gia ăn bán trú tại trường. Trong khi các trường mầm
non học sinh đang ở lứa tuổi 2 đến 5 tuổi, đây là giai đoạn phát triển thể chất, chưa
có ý thức tự bảo vệ sức khỏe cho mình như vấn đề dinh dưỡng hay vệ sinh an toàn
thực phẩm và đặc biệt ăn uống của các em phụ thuộc hoàn toàn vào nhà trường.
Nhà trường không chỉ đảm bảo dinh dưỡng, phong phú, hấp dẫn mà còn phải đảm
bảo cả về chất lượng an toàn của thực phẩm [23].
Theo số liệu thống kê báo cáo hàng năm của cục vệ sinh an toàn thực phẩm
(VSATTP) giai đoạn 2006- 2010 tổng cả nước có 944 vụ ngộ độc thực phẩm, làm
33.168 người bị ngộ độc phải nhập viện và 259 người tử vong. Trung bình mỗi năm
có 189 vụ ngộ độc thực phẩm, 6.633 người mắc và 52 người tử vong [7]. Ngày
03/10/2014 tại tỉnh Hòa Bình, bệnh viện Đa Khoa tiếp nhận 25 học sinh trường
mầm non thị trấn Chi Nê, huyện Lạc Thủy có biểu hiện ngộ độc thực phẩm.
Các vụ ngộ độc thực phẩm có xu hướng ngày càng tăng và có xu hướng lan
rộng ra nhiều quốc gia. Ở những nước đang phát triển như tại Úc hiện nay mỗi năm
vẫn có khoảng 4,2 triệu ca ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm
[12]. Ngày 22/5/2013 xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm ở các trường tiểu học và trường
cấp hai tại tỉnh Thanh Hải- Trung Quốc làm 500 học sinh phải nhập viện [31]. Tại
Ấn Độ, ngày 16/7/2013 xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tại ngôi trường thuộc bang
Bihar làm 80 em nhập viện, trong đó có 27 em tử vong [31].

1

các tác nhân vật lý, hoá học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải
là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe con người.
- An toàn thực phẩm (ATTP): là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại
đến sức khỏe, tính mạng con người.
- Tác nhân gây ô nhiễm: là yếu tố không mong muốn, không được chủ động
cho thêm vào thực phẩm có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến an toàn thực phẩm.
- Thời hạn sử dụng thực phẩm: là thời hạn mà thực phẩm vẫn giữ được giá
trị dinh dưỡng và bảo đảm an toàn trong điều kiện bảo quản được ghi trên nhãn theo
hướng dẫn của nhà sản xuất.
- Chế biến thực phẩm (CBTP): là quá trình xử lý thực phẩm đã qua sơ chế
hoặc thực phẩm tươi sống theo phương pháp công nghiệp hoặc thủ công để tạo
thành nguyên liệu thực phẩm hoặc sản phẩm thực phẩm.
- Ngộ độc thực phẩm (NĐTP): là tình trạng bệnh lý do hấp thụ thực phẩm bị
ô nhiễm hoặc có chứa chất độc.
- Nguy cơ ô nhiễm thực phẩm (NCÔNTP): là khả năng các tác nhân gây ô
nhiễm xâm nhập vào thực phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
- Bếp ăn tập thể (BATT): là cơ sở chế biến, nấu nướng phục vụ cho một tập
thể cùng ăn tại chỗ hoặc ở một nơi khác.
- Nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm: Có 4 nhóm [24].
+ Ngộ độc do vi sinh vật: vi khuẩn, virus…

3


+ Ngộ độc do hóa chất: hóa chất bảo vệ thực vật, sử dụng phụ gia không đúng…
+ Ngộ độc do bản thân thực phẩm chứa chất độc tự nhiên: nấm độc, cóc, sắn độc…
+ Ngộ độc do thực phẩm bị biến chất:

Vệ sinh an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành,
nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú y, cơ sở chế biến thực

bởi tác nhân xâm nhập vào cơ thể thông qua việc tiêu hóa thực phẩm. Mỗi người
đều có nguy cơ mắc bệnh truyền qua thực phẩm.
Bệnh truyền qua thực phẩm là khái niệm bao gồm cả NĐTP và nhiễm trùng
thực phẩm, do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm tác nhân gây ngộ độc thực phẩm, ảnh
hưởng đến sức khỏe, tính mạng của con người. Hiện tượng dị ứng do mẫn cảm của
cá thể với một loại thức ăn được xác định nào đó không được coi là bệnh truyền qua
thực phẩm [3].
1.2. Tình hình ngộ độc thực phẩm
1.2.1. Trên thế giới:
Vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề được quan tâm ngày
càng sâu sắc trên phạm vi mỗi quốc gia bởi sự liên quan trực tiếp của nó đến sức
khỏe và tính mạng con người, ảnh hưởng đến sự duy trì và phát triển giống nòi,
cũng như quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với xu hướng phát
triển của xã hội và toàn cầu hóa, bệnh truyền qua thực phẩm và ngộ độc thực phẩm
đang đứng trước nhiều thách thức mới, diễn biến mới về cả tính chất, mức độ và
phạm vi ảnh hưởng.
Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO-2000), hơn 1/3 dân số các
nước phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm. Đối với
các nước đang phát triển, tình trạng lại càng trầm trọng hơn rất nhiều. Hàng năm

5


các bệnh tiêu chảy do thực phẩm và nước gây ra là nguyên nhân dẫn đến 2,2 triệu
người tử vong trong đó có tới 1,9 triệu trẻ em [12].
Thực tế cho thấy các bệnh do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm chất độc hoặc tác
nhân gây bệnh đang là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng ở các nước đã phát triển
cũng như các nước đang phát triển và đây là vấn đề sức khỏe của toàn cầu.
1.2.2. Tại Việt Nam
Ở Việt Nam những năm gần đây, công tác bảo đảm chất lượng ATTP phòng

thực phẩm không an toàn, phương pháp chế biến, bảo quản không đúng quy định.
1.2.3. Thực trạng ATTP tại bếp ăn tập thể trong các trường học.
Trên địa bàn Hà Nội, theo thống kê của chi cục vệ sinh an toàn thực phẩm tình
hình ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn tập thể năm 2011 có 29 vụ ngộ độc thực phẩm
với 2.656 người mắc và có 2.491 người phải nhập viện [8].
Một số vụ điển hình xảy ra gần đây tại BATT ở các trường học như:
Ngày 25/12/2013, trên địa bàn xã Phước Thể, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình
Thuận đã xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tại trường mầm non Phước Thể làm 165 cháu
phải nhập viện sau ăn bữa chiều, thực đơn của trẻ ngày hôm đấy là ăn phở [10].
Ngày 18/04/2014 đã xãy ra trường hợp ngộ độc thực phẩm tại trường tiểu học
Long Bình quận 9 có khoảng 100 em trong số 545 học sinh ăn trưa bị ngộ độc thực
phẩm. Thực đơn các em ăn là cơm chiên Dương châu, canh súp và bánh Flan [5].
Khoảng 6h30 ngày 13/10/2014, bệnh viện Bà Rịa (phường 12- tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu) đang cấp cứu 33 học sinh trường trung học cơ sở Nguyễn Gia Thiều do
ngộ độc thực phẩm. Các cháu ăn bún, phở ở căng tin của nhà trường [6].
Hậu quả của những vụ NĐTP này là hàng trăm cháu phải nghỉ học, kèm theo
đó là sự lo âu của các phụ huynh và dư luận xã hội không chỉ trên địa bàn xảy ra.
Cơ sở giáo dục mầm non là nơi tập trung đông trẻ nhỏ, cơ thể còn non nớt, sức đề
kháng kém, trẻ chưa có ý thức tự bảo vệ sức khỏe cho mình. Chính vì vậy, ngoài
việc dạy dỗ các cháu, nhà trường còn có nhiệm vụ rất quan trọng là nuôi dưỡng,
chăm sóc để trẻ có sức khỏe tốt, phát triển một cách toàn diện về thể lực và trí lực.
Muốn vậy, BATT tại các trường mầm non (MN) phải được vận hành theo
đúng quy định về ATTP. Đây là vấn đề rất cấp bách đối với các lãnh đạo, chính
quyền và ngành y tế trong công tác đảm bảo ATTP tại BATT, nhất là bếp ăn tại các
trường MN.
Theo kết quả báo cáo công tác kiểm tra về VSATTP của trung tâm y tế Thanh
Trì tại các bếp ăn tập thể năm học 2013- 2014 cho biết các trường MN trên địa bàn
xã Tam Hiệp tuy chưa có vụ ngộ độc nào xảy ra trên địa bàn nhưng vẫn còn một số
vấn đề đáng chú ý như thực hành vệ sinh của nhân viên nhà bếp chưa thật tốt, thể

7

69,9% nhân viên có kiến thức đúng, 54,5% thực hành đúng về ATTP. Kết quả cũng đã
chỉ ra đào tạo chuyên môn về CBTP an toàn, trình độ văn hóa, tuổi nghề, tập huấn về

8


ATTP, điều kiện cơ sở vật chất, công lập và dân lập có liên quan đến kiến thức, thực
hành của người chế biến [18].
Năm 2004 nghiên cứu của Trần Thu Hương cho biết kiến thức, thực hành về
VSATTP còn hạn chế ở cả 2 đối tượng là người chế biến và cô giáo. Kiến thức
chung về VSATTP của người chế biến là 63,8%, cô giáo là 57,3%. Hiểu biết về
VSATTP trong chế biến của giáo viên là 48,5%, người chế biến là 59,6%. Thực
hành VSATTP của người chế biến là 59,6%. Mức độ ô nhiễm bàn tay của cô giáo
và người chế biến là khá cao [27].
Theo WHO việc ô nhiễm TP đã phản ánh tình trạng mất vệ sinh trong chế
biến, bảo quản và vận chuyển thực phẩm. Tình trạng thiếu vệ sinh nơi CBTP, gây ô
nhiễm thức ăn do ruồi, nhặng, côn trùng, nguồn nước… Vì vậy giải quyết vấn đề
rác, vệ sinh môi trường cũng là việc cần quan tâm. Kinh nghiệm trên thế giới chỉ ra
rằng, trong mọi việc làm khi cộng đồng có nhận thức và thực hành tốt thì sẽ mang
lại hiệu quả rõ rệt, vì vậy người trực tiếp CBTP có vai trò đặc biệt quan trọng đối
với công tác ATTP tại các bếp ăn. Thuật ngữ “Vệ sinh thực phẩm” gắn liền với “Vệ
sinh cá nhân”. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích San năm 2010 có nói một NCB
nếu không đảm bảo về mặt vệ sinh cá nhân cũng như không được trang bị đầy đủ
kiến thức về vệ sinh ATTP thì sẽ dẫn đến việc thực hành vệ sinh ATTP không đảm
bảo làm tăng nguy cơ gây ô nhiễm TP [18]. Đặc biệt đối với vệ sinh cá nhân thì vệ
sinh bàn tay được quan tâm và chú trọng nhất vì đây được coi như một con đường
lây truyền mầm bệnh vào TP. Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Uynh và các cộng
sự mô tả tình hình thực hiện điều kiện VSATTP của các bếp ăn tập thể tại huyện
Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2013 thì tỷ lệ kiến thức đúng về VSATTP của
người chế biến tại BATT có thời điểm rửa tay là 69,4% [20].

những người trực tiếp chế biến ở đây cũng phải có kiến thức và thực hành tốt về
ATTP trong suốt quá trình từ việc lựa chọn TP đến việc sơ chế, chế biến, bảo quản
và sử dụng TP [25]. Do vậy, việc bảo đảm ATTP trên địa bàn có nhiều loại hình sản
xuất, kinh doanh thực phẩm là một vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp. Đặc biệt
công tác kiểm tra, giám sát còn chưa bao quát được, do hàng năm chỉ có một lần
thanh tra và như các cơ sở được cấp giấy chứng nhận “Đủ điều kiện VSATTP”.
Chính vì vậy việc tìm hiểu những lý do và nguyên nhân sâu xa của những sai phạm
về ATTP của các trường học là cơ sở để các cơ quan chức năng đưa ra giải pháp
phù hợp với tình hình hiện nay.
Hiện nay thực phẩm của trẻ được ban giám hiệu các nhà trường ký hợp đồng
hàng năm với các công ty nhà nước, các chủ hàng TP luôn đảm bảo TP tươi ngon,
chất lượng tốt, giá cả phù hợp với thị trường.
Hàng ngày khâu giao nhận TP được ban giám hiệu quản lý chặt chẽ, phân
công giáo viên, cô trực tiếp nấu ăn, kế toán, thủ kho giao nhận trực tiếp TP trong
ngày. Chính vì vậy TP để chế biến món ăn cho trẻ luôn đảm bảo chất lượng tốt.
Cơ sở vật chất của nhà trường: đầu tư đầy đủ đồ dùng trang thiết bị hiện đại
phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ như: tủ cơm ga, tủ hấp sấy bát, bàn
sơ chế, các dụng cụ bằng Inox, máy khử ozon, máy lọc nước 1h lọc được 125m3 ...
Trường thực hiện theo quy trình bếp 1 chiều từ khâu giao nhận thực phẩm
đến khâu sơ chế và chế biến luôn đảm bảo đúng vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy
định của ngành [1].

11


CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Người trực tiếp chế biến trong 8 bếp ăn tập thể ( 4 trường công lập, 4 trường
tư thục) của các trường mầm non tại xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

- Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi ( phiếu phỏng vấn người chế biến tại
bếp ăn tập thể) có cấu trúc, thông tin người chế biến tại bếp ăn để đánh giá kiến
thức, thực hành.
- Phỏng vấn mỗi người chế biến thực phẩm 2 lần. Cụ thể như sau:
+ Lần 1: vào cuối tháng 3/2014 khi người chế biến chưa được tập huấn về
VSATTP.
+ Lần 2: vào cuối tháng 6/2014 sau khi người chế biến đã đựơc tập huấn về
VSATTP vào ngày 12/05/2014.

2.7. Biến số nghiên cứu:
- Thông tin chung: tuổi, giới tính, mô hình trường, trình độ chuyên môn,
thời gian công tác.
- Kiến thức chung về ATTP của người chế biến trong bếp ăn:
+ Kiến thức về thực phẩm an toàn của người chế biến (từ câu 1 đến câu 4).
+ Kiến thức về ngộ độc thực phẩm của người chế biến (từ câu 5 đến câu 8).
+ Kiến thức về sức khoẻ của người lao động (từ câu 9 đến câu 11).
+ Kiến thức về sử dụng thức ăn của người chế biến (từ câu 12 đến câu 15).
+ Kiến thức về ATTP của người chế biến (câu 16).

13


- Thực hành chung về ATTP của người chế biến trong bếp ăn:
+ Thực hành về sử dụng trang phục và quy trình chế biến (câu 1 đến câu 2).
+ Thực hành về vệ sinh khi tiếp xúc với thực phẩm (từ câu 3 đến câu 5).
+ Thực hành về sử dụng thực phẩm (từ câu 6 đến câu 10).
+ Thực hành về ghi chép và vệ sinh hàng ngày (từ câu 11 đến câu 15).
+ Thực hành về ATTP của người chế biến (câu 16).
2.8. Tiêu chuẩn đánh giá :
2.8.1. Đánh giá về kiến thức

khoa học, không vì bất kỳ mục đích nào khác.
2.11. Hạn chế của đề tài:
Sai lệch thông tin trong nghiên cứu này có thể xảy ra vì những biến số về
VSATTP không thể đo lường chính xác được mà chỉ đánh giá qua yếu tố chủ quan
của người phỏng vấn.
Nghiên cứu chỉ xác định tỷ lệ kiến thức và thực hành đúng của người chế
biến thực phẩm (NCBTP) ở một thời điểm nhất định.
Hạn chế của đề tài là chỉ khảo sát về kiến thức và thực hành VSATTP, chưa
khảo sát đến những điều kiện về cơ sở vật chất của bếp ăn nên cũng hạn chế một số
biện pháp can thiệp nhằm cải thiện tình hình VSATTP và kết quả nghiên cứu chỉ có
giá trị trên địa bàn xã Tam Hiệp.

15


CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Các thông tin chung:
Bảng 3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu:

TT

1

2

3

4



1

1,7

Nữ

57

98,3

Tổng

58

100

Công lập

46

79,3

Bán công

0

0

Tư thục


6,9

Tổng

58

100

Dưới 36 tháng

27

46,6

Từ 36 tháng trở lên

31

53,4

Tổng

58

100

Tuổi

Giới tính


2

Nguyên nhân gây ra TP không an toàn

24

41,4

3

Tác hại của thực phẩm không an toàn

25

43,1

4

Bảo quản thực phẩm trong tủ lạnh

35

60,3

Trước can thiệp có dưới 50% ĐTNC biết nguyên nhân gây ra thực phẩm
không an toàn và tác hại của thực phẩm không an toàn.
Bảng 3.3. Kiến thức về ngộ độc thực phẩm của người chế biến thức ăn
trước can thiệp:
STT


4

Bệnh phẩm giữ lại khi có ngộ độc TP xảy ra

58

100

Có 32,8% người chế biến thức ăn trước can thiệp biết nguyên nhân gây ra
ngộ độc thực phẩm.
Bảng 3.4. Kiến thức về sức khoẻ của người chế biến thức ăn trước can thiệp:
STT

Chỉ số

n

%

1

Thời gian khám sức khỏe định kỳ

42

72,4

2


45
Thời gian chế biến đến bữa ăn
56
Nơi lưu mẫu thực phẩm
56
Thời gian quy định lưu mẫu thực phẩm
50
Kiến thức của người chế biến về sử dụng thức ăn thừa trước can

%
77,6
96,6
96,6
86,2
thiệp có tỷ

lệ rất cao 77,6%.
3.3. Thực hành chung về ATTP của người chế biến thức ăn trước can thiệp:
Bảng 3.6. Thực hành về sử dụng trang phục và quy trình chế biến
trước can thiệp:
STT
Chỉ số
n
1
Trang phục khi CBTP
21
2
Quy trình CBTP
44
Có 36,2% người chế biến trước can thiệp có thực hành đạt về sử

n
%
1
Xử lý TP trong ngăn đá
36
62,1
2
Che đậy thức ăn chín
57
98,3
3
Chia thức ăn
49
84,5
4
Dụng cụ đựng thức ăn
56
96,6
5
Mang thức ăn về lớp
56
96,6
Có trên 62,1% ĐTNC trước can thiệp có thực hành đạt về sử dụng thực phẩm.
Bảng 3.9. Thực hành về ghi chép và vệ sinh hàng ngày trước can thiệp:
STT

Chỉ số

n



Thời gian đổ rác

49

84,5

Có trên 55,2% ĐTNC trước can thiệp có thực hành đúng về ghi chép và vệ
sinh hàng ngày.

Kiến thức trước can thiệp

Thực hành trước can thiệp

Biểu đồ 3.1. Kiến thức và thực hành về ATTP của NCB thức ăn trước can thiệp.
Đối tượng nghiên cứu trước can thiệp có kiến thức đạt 74.1% và thực hành
đạt về VSATTP chiếm 63.8%.

19


3.4. Kiến thức chung về ATTP của người chế biến thực ăn sau can thiệp:
Bảng 3.10. Kiến thức về thực phẩm an toàn của người chế biến thức ăn
sau can thiệp:
Kiến thức đạt
STT

Chỉ số

Trước can thiệp

39

67,2

55

94,8

p < 0,05

24

41,4

54

93,1

p < 0,05

25

43,1

56

96,6

p < 0,05


Thông báo khi có NĐTP
Bệnh phẩm giữ lại khi có ngộ

p

thiệp
n
%

thiệp
n
%

29

50

55

94,8

p < 0,05

19
57

32,8
98,3

57



1
2
3

Thời gian khám sức khỏe định kỳ
Các bệnh không được trực tiếp
tiếp xúc và CBTP
Xử trí khi mắc bệnh

n
42

%
72,4

n
57

%
98,3

p < 0,05

16

27,6

56

Nơi lưu mẫu thực phẩm
Thời gian quy định lưu mẫu TP

Kiến thức đạt
Trước can
Sau can
thiệp
thiệp
n
%
n
%
45
77,6
55
94,8
56
96,6
57
98,3
56
96,6
58
100
50
86,2
58
100

p

75,9
53
91,4

p
p < 0,05
p < 0,05

Sau can thiệp tỷ lệ người chế biến thức ăn có thực hành đạt về sử dụng trang
phục và quy trình khi chế biến thực phẩm đều tăng cao trên 89,7%. Sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Bảng 3.15. Thực hành về vệ sinh khi tiếp xúc với thực phẩm sau can thiệp :
STT

Chỉ số

1
2

Tiếp xúc với TP đã nấu chín
Rửa tay

Thực hành đạt
Trước can thiệp Sau can thiệp
n
%
n
%
58
100

p
n
%
n
%
1
Xử lý TP trong ngăn đá
36
62,1
52
89,7
p < 0,05
2
Che đậy thức ăn chín
57
98,3
58
100
p > 0,05
3
Chia thức ăn
49
84,5
56
96,6
p < 0,05
4
Dụng cụ đựng thức ăn
56
96,6

n
%
49
84,5
55
94,8

p < 0,05

36

p < 0,05

55,2

52

89,7

p

46
79,3
53
91,4
p < 0,05
3 bước hàng ngày
4
Đựng rác và chất thải
32


Kiến thức

Kiến thức

trường

chưa đạt
10

đạt
2

(83,3%)
5

(16,7%)
41

(100%)
46

χ2 = 26,064

(10,9%)
15

(89,1%)
43


Tổng

Kiến thức

Kiến thức

chưa đạt

đạt

12

18

30

(40%)

(60%)

(100%)

3

25

28

(10,7%)
15

Trung cấp
Đại học, cao đẳng
Tổng

Kiến thức

Kiến thức

chưa đạt

đạt

15

39

54

(27,8%)
0

(72,2%)
4

(100%)
4

(0%)
15


8

đạt
4

(66,7%)
13

(33,3%)
33

(100%)
46

χ2 = 6,078

(28,3%)
21

(71,7%)
37

(100%)
58

CI = [1,302-19,801]

(36,2%)

(63,8%)


11

4

15

Chưa đạt

(73,3%)

(26,7%)

(100%)

χ2 = 12,074

Kiến thức

10

33

43

OR = 9,075

Đạt

(23,3%)

chiếm tới 98,3%, kết quả này cũng tương tự kết quả nghiên cứu của Đỗ Thị Thu
Trang, Tô Gia Kiên năm 2009 với tỉ lệ 97% [13]. Điều này cũng dễ hiểu vì đây là
công việc mang tính nội trợ, nhẹ nhành phù hợp với nữ hơn.
Tổng số ĐTNC làm ở trường công lập đông hơn trường tư thục là 79.3%.
Bởi vì các trường công lập có quy mô lớn hơn, đông cháu hơn nên cần số lượng
NCB nhiều hơn để đúng với quy định, điều lệ của ngành, nhà nước đề ra.
ĐTNC có trình độ chuyên môn chủ yếu là trung cấp chiếm 93,1% vì NCB
bếp ăn chưa được Đảng và nhà nước quan tâm, có một chế độ ưu đãi nào như công
chức, hỗ trợ 35% như giáo viên trực tiếp giảng dạy. Chính vì vậy những người có
trình độ cao hơn họ tìm những nơi làm việc có thu nhập cao hơn để đáp ứng nhu
cầu cuộc sống.

25


Trích đoạn Mối liên quan kiến thức và thực hành của nhân viên chế biến thực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status