1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
__________________
VŨ ANH TUẤN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN – 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_____________________
VŨ ANH TUẤN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
các bộ, ngành về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đã tạo điều kiện
cho việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực,
các ngành, các cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, đẩy nhanh
tốc độ phát triển kinh tế - xã hội.
Chỉ thị 58/CT-TW ban hành ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị đề ra
một số mục tiêu cơ bản cần đạt tới cho lĩnh vực CNTT của nước ta và đặc biệt
nhấn mạnh: Công nghệ thông tin phải được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh
vực trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh
tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng.
4
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
được thông qua tại Đại hội XI của Đảng đã đưa ra quan điểm về giáo dục theo
đường lối đổi mới, nhấn mạnh: “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát
triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và
đào tạo là đầu tư phát triển”
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 trong văn kiện Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ XI nêu rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng
đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn
hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi
mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là
khâu then chốt”.
- Chủ trương của ngành:
Trong giảng dạy, CNTT đã thay thế các công nghệ cũ trước đó.
Trong quản lý, việc ứng dụng CNTT góp phần không nhỏ vào việc nâng
cao chất lượng quản lý giáo dục của Nhà trường. Đến nay ngành giáo dục
và đào tạo cũng đã ứng dụng CNTT trong một số mặt như: Các trường đại
học, cao đẳng, trường phổ thông đã được kết nối Internet; môn tin học đã
việc theo kiểu hành chính nhà nước cho hết nhiệm kỳ. Một bộ phận khác khi
còn là GV thì năng nổ phấn đấu, khi vào cương vị CBQL thì đã lớn tuổi
khoảng vài năm thì lại lười học tập, bồi dưỡng chuyên môn nên lạc hậu với
cái mới, lạc hậu với CNTT.
Đối với một số CBQL sợ CNTT, không có khả năng tiếp cận CNTT,
thường là rào cản lớn nhất cho việc triển khai ứng dụng CNTT trong
trường học nói chung và ứng dụng CNTT trong công tác quản lý nói riêng,
chiếc máy vi tính thường chỉ là công cụ thay thế cho chiếc máy đánh chữ
đã đi vào dĩ vãng.
6
Tuy nhiên, đa số các CBQL hiện nay đều ít nhiều biết sử dụng máy vi
tính và hiểu tầm quan trọng của CNTT trong mọi lĩnh vực hoạt động. Họ có
chủ trương và quyết tâm đổi mới cách quản lý với công cụ là chiếc máy vi
tính với các phần mềm ứng dụng, ít nhiều đã thay đổi phương thức quản lý.
Nhưng ứng dụng như thế nào để mang lại hiệu quả cho công tác? Đó là điều
mà tất cả các CBQL đều quan tâm.
- Tình hình ứng dụng CNTT trong công tác quản lý ở các trường THPT
quận Thủ Đức - TP.Hồ Chí Minh:
Việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý ở các trường THPT trên
địa bàn Thủ Đức hiện nay tùy thuộc vào trình độ sử dụng CNTT của cán bộ
quản lý ở từng trường. Đa số chỉ tập trung khai thác hệ phần mềm Office,
phần mềm hỗ trợ xếp thời khóa biểu… Điều này chưa đáp ứng được yêu cầu
đổi mới công tác quản lý, chưa đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác
quản lý nhà trường một cách toàn diện.
Từ các lý do trên tác giả lựa chọn “Một số biện pháp ứng dụng
CNTT trong công tác quản lý ở các trường trung học phổ thông quận
Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ nhằm đáp
Chí Minh.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập các thông tin lý
luận để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài. Cụ thể là:
+ Phân tích - tổng hợp tài liệu thu thập được về thực trạng công tác
quản lý từ các trường trung học phổ thông trên toàn quốc hoặc ở nước ngoài.
+ Khái quát hóa các nhận định độc lập về hệ thống quản lý của các
trường có CNTT tham gia ít (hoặc không có CNTT tham gia) và về hệ thống
quản lý của các trường được áp dụng CNTT.
8
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát, thu thập các
thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Cụ thể là:
+ Điều tra, khảo sát triển khai, ứng dụng CNTT trong quản lý nhà
trường tại các trường THPT trên địa bàn Thủ Đức.
+ Hội thảo ứng dụng CNTT trong công tác quản lý của Sở Giáo dục và
Đào tạo TP. Hồ Chí Minh năm 2011.
+ Thực tiễn triển khai, ứng dụng CNTT trong quản lý nhà trường tại
trường THPT Nguyễn Hữu Huân - Thủ Đức.
- Phương pháp thống kê toán học: Nhằm xử lý các kết quả điều tra
nghiên cứu để lấy các số liệu làm căn cứ, các chỉ số đánh giá.
9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
và định hướng đến năm 2020; Chỉ thị số 55/2008/CT - BGDĐT ngày
30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và
ứng dụng CNTT trong ngành GD giai đoạn 2008 - 2012; Quán triệt và triển
khai Nghị định 102/2009/NĐ - CP ngày 6 tháng 11 năm 2009 về quản lý đầu
tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Các Sở GD&ĐT đã cùng với các Chi nhánh của Tổng công ty Viễn
thông quân đội Viettel, phối hợp với các sở, ban ngành địa phương tiếp tục
triển khai mạnh mẽ việc thực hiện kết nối Internet băng thông rộng miễn phí
đến các cơ sở giáo dục mẫu giáo, mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung
học phổ thông, các phòng giáo dục và đào tạo, các trung tâm giáo dục thường
xuyên, trung tâm học tập cộng đồng và các trường trung cấp chuyên nghiệp.
* Một số nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong quản lí:
- Ứng dụng CNTT trong quản lí hoạt động NCKH trong giáo dục. (Tác
giả Lê Lâm, Luận án tiến sĩ - Thư viện Quốc gia, 2009).
- Một số biện pháp tổ chức triển khai việc ứng dụng công nghệ thông
tin vào giảng dạy của hiệu trưởng trường THCS Văn Lang thành phố Việt Trì
- tỉnh Phú Thọ. (Tác giả Trần Thị Đản, luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục ĐHSPHN, năm 2006).
- Một số biện pháp chỉ đạo việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công
tác quản lý dạy học tại các trường THPT. (Tác giả Nguyễn Văn Tuấn, luận
văn thạc sĩ quản lý giáo dục - ĐHSPHN, năm 2006).
- Biện pháp ứng dụng CNTT trong quản lý dạy học ở các trường THPT
tỉnh Ninh Bình. (Tác giả Nguyễn Xuân Cảnh, luận văn thạc sĩ quản lý giáo
dục - ĐHSPHN, năm 2008).
11
- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng Công Nghệ thông tin
trong hoạt động quản lý ở các trường THCS Quận Bình Thạnh, thành phố Hồ
Chí Minh. (Tác giả Văn Công Lộc, luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục - Đại
các tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị với các cấp quản lý như Phòng GD
& ĐT, Sở GD & ĐT trong việc triển khai một số biện pháp quản lý ứng dụng
CNTT vào các trường thuộc phạm vi quản lý.
Tuy nhiên, việc “Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý” hiện
nay ở hầu hết các trường phổ thông nói chung và các trường THPT quận Thủ
Đức, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng còn tồn tại nhiều bất cập, chưa có
nghiên cứu thỏa đáng, đáp ứng yêu cầu đổi mới GD - ĐT và phát triển KT XH. Một trong những nguyên nhân chính của vấn đề này như Chỉ thị 40 CT/TW của BCH TW đã nêu là “Năng lực của đội ngũ CBQL GD chưa
ngang tầm với yêu cầu phát triển của công nghệ thông tin”. Chế độ, chính
sách và đầu tư trang bị còn bất hợp lý, chưa tạo động lực đủ mạnh để đẩy
mạnh hơn nữa việc “Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ”.
Từ các phân tích trên, tác giả nhận thấy việc ứng dụng CNTT trong
công tác quản lý ở trường THPT là một vấn đề cấp thiết nhưng chỉ được
nghiên cứu dưới góc độ tổng quan, chưa đáp ứng được thực trạng đặc thù của
từng địa phương. Thực tế ở Việt Nam việc đưa CNTT vào quản lý các hoạt
động nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng còn tồn tại
nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết. Vì thế tác giả đã đi sâu
nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi các trường THPT thuộc quận Thủ Đức,
thành phố Hồ Chí Minh nhằm hy vọng đề xuất được một số khả năng ứng
dụng CNTT trong biện pháp quản lý góp phần đổi mới công tác quản lý, nâng
cao hiệu quả quản lý trường học, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục trong
các trường THPT ở địa phương hiện nay.
13
1.2.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1.
- Elton Mayo (1880-1933) kết luận rằng, con người lao động cần được
xem xét trong toàn bộ hoàn cảnh xã hội của họ, trong môi trường hoạt động
của họ. Các yếu tố tình cảm cũng chi phối mạnh mẽ hành vi và kết quả hoạt
động của con người; những quan hệ tốt đẹp trong tổ chức cũng thúc đẩy công
nhân tăng năng suất không kém gì vai trò của lợi ích kinh tế và yếu tố kỹ
thuật. Đó chính là cách nhìn về nhân bản hoạt động quản lý. Ông nhấn mạnh
muốn quản lý thành công phải tìm hiểu các nhóm nhỏ và không nên tách công
nhân ra khỏi nhóm của họ.[2]
- Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng
kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Trong đó, các nguồn lực có
thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên
nhiên. Đầu thế kỷ 20 Mary Parker Follett định nghĩa quản lý là "nghệ thuật
khiến công việc được làm bởi người khác" [2]
Các nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ góc độ khác nhau cũng đã
đưa ra những khái niệm quản lý.
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là
tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
trong một tổ chức nhằm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của
mình”. [10]
Theo quan điểm hệ thống, tác giả Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là
dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ
thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới” [11]
Tóm lại, do đối tượng quản lý đa dạng, phức tạp và có những thay đổi
tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử phát triển của xã hội, nên các nhà quản lý đã đưa
ra những nội dung cơ bản của quản lý ở các khía cạnh khác nhau. Song khái
niệm quản lý theo tác giả có thể định nghĩa như sau:
15
16
trong cùng một tổ chức... nhờ nó mà chủ thể quản lý có thể điều phối tốt các
nguồn lực phục vụ cho mục tiêu đề ra.
- Chỉ đạo: Là tác động nhằm hướng dẫn, thúc đẩy, động viên người
dưới quyền làm việc có hiệu quả để đạt được mục tiêu đề ra.
- Kiểm tra: Là đo lường đánh giá và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm
đảm bảo rằng các mục tiêu của tổ chức và các kế hoạch đặt ra được hoàn
thành. Hoạt động kiểm tra là một hoạt động giám sát các hoạt động để đảm
bảo rằng các hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch và điều chỉnh các
sai lệch nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
1.2.1.2. Quản lý nhà trường
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý Giáo dục là hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của các chủ thể quản
lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng,
thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, thực hiện được
các mục tiêu GD đề ra”. [22]
Theo tác giả Thái Văn Thành, quản lý vi mô, nó là một hệ thống con
của quản lý vĩ mô: Quản lý giáo dục.
Theo đó, quản lý nhà trường là tiến hành những qui luật phù hợp để vận
hành nhà trường theo đường lối chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước,
tuân theo quỹ đạo chung của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đạt được mục
tiêu giáo dục. Quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có
mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức - sư phạm của
chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo
dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp,
tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận
hành tối ưu để đạt được những mục tiêu dự kiến.
nghề. Trung học chuyên nghiệp được thực hiện từ 3-4 năm đối với người đã
có bằng tốt nghiệp THCS, từ 1-2 năm đối với người có bằng THPT. Dạy nghề
18
nhằm đào tạo người lao động có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp phổ thông,
công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.
* Giáo dục đại học và sau đại học
- Giáo dục đại học đào tạo trình độ cao đẳng và đại học. Đào tạo
trình độ cao đẳng được thực hiện trong 3 năm đối với người đã có bằng tốt
nghiệp THPT hoặc bằng tốt nghiệp THCN. Đào tạo trình độ đại học được
thực hiện từ 4-6 năm học tùy theo ngành nghề, áp dụng cho người đã có
bằng tốt nghiệp THPT hoặc 1-2 năm học đối với người đã tốt nghiệp Cao
đẳng cùng chuyên ngành.
- Giáo dục sau đại học đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ. Đào tạo thạc sĩ
được thực hiện trong 2 năm đối với người đã có bằng tốt nghiệp đại học. Đào
tạo tiến sĩ được thực hiện trong 4 năm đối với người đã có bằng tốt nghiệp đại
học, hoặc đào tạo 2-3 năm đối với người đã có bằng thạc sĩ.
* Ngoài ra còn có giáo dục không chính qui là phương thức giáo dục
giúp mọi người vừa làm, vừa học, học liên tục, học suốt đời để hoàn thiện
nhân cách mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn chuyên môn
nghiệp vụ.
Trong phạm vi mục này, tập trung chủ yếu vào giáo dục bậc THPT.
Luật giáo dục 2005 Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: Điều 4.
Hệ thống giáo dục quốc dân, mục 2. Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ
thống giáo dục quốc dân, khoản b nêu rõ: Giáo dục phổ thông có: tiểu học,
trung học cơ sở, trung học phổ thông.
Trường THPT gồm 3 năm: Lớp 10, lớp 11 và lớp 12. Đối tượng học
sinh THPT gồm tất cả trẻ em trong độ tuổi từ 15 đến 18, tuy nhiên cũng có
CNTT và ứng dụng CNTT
20
1.2.4.1. CNTT
Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương
tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn
thông, nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên
thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con
người và xã hội. CNTT phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý Nhà
nước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt
động kinh tế - xã hội khác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống
của nhân dân. CNTT được phát triển trên nền tảng phát triển của các công
nghệ Điện tử - Tin học - Viễn thông và tự động hoá (Theo Nghị định 49/CP).
1.2.4.2 Ứng dụng CNTT
Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh
vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác
nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả của các hoạt động này (điều 4,
Luật CNTT).
Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT thực hiện số hóa thông tin, xử
lý thông tin dưới dạng số. Điều này đã làm thay đổi phương thức lao động của
con người. Công cụ lao động trong xã hội tin học hóa là các thiết bị máy móc
thông minh, hiện đại, tự động…mà con người sử dụng hằng ngày từ trong gia
đình cho đến cơ quan làm việc. Ngày nay CNTT được ứng dụng vào mọi lĩnh
vực trong đời sống, giúp con người xử lý công việc nhiều hơn, nhanh hơn,
chính xác hơn khi chưa có CNTT. CNTT mở ra thời kỳ mới của nhân loại:
Thời kỳ “nền kinh tế tri thức”
+ Ứng dụng CNTT trong lĩnh vực truyền thông: Thông tin được xử lý
trong một hệ thống, trong một địa điểm cụ thể thì không truyền bá được cho
+ Ứng dụng CNTT trong lĩnh vực quản lý: CNTT làm thay đổi cách
quản lý, trong đó có QLGD. CNTT tham gia vào tất cả các khâu trong QLGD
một cách mạnh mẽ, có hiệu quả. Thông tin được lưu chuyển nhanh hơn, rộng
22
rãi hơn giúp cho các nhà QLGD phải tự thay đổi mình cho phù hợp hoàn cảnh
mới. CNTT là một công nghệ mới, cách thức quản lý cũ không còn phù hợp
nên người quản lý phải thay đổi cách thức quản lý. Người quản lý phải biết sử
dụng các phương tiện CNTT để có thể thực hiện các công việc quản lý từ xa,
thông qua máy tính xách tay, máy tính bảng, internet, điện thoại di động mà
không nhất thiết phải có mặt ở cơ quan.
1.3. Công tác quản lý ở trường THPT
1.3.1. Mục đích quản lý
Mục đích quản lý ở trường THPT là làm thế nào để điều khiển, thúc
đẩy hệ thống nhà trường hoạt động một cách trôi chảy, đạt được hiệu quả cao
nhiệm vụ từng năm học. Muốn đạt được mục đích quản lý, người quản lý giáo
dục cần phải nắm rõ các hoạt động cơ bản của công tác quản lý nhà trường,
đó chính là nội dung quản lý nhà trường.
1.3.2. Nội dung quản lý
1.3.2.1. Quản lý việc thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo của nhà trường
Điều 2 của Luật Giáo dục nêu mục tiêu giáo dục là đào tạo con người
Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và
nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. [12]
Điều 27 của Luật Giáo dục đã chỉ rõ mục tiêu của giáo dục phổ thông
là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và
các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo,
Việc tổ chức thực hiện kế hoạch gồm các công việc sau: Truyền đạt,
giải thích nhiệm vụ cho các bộ phận, các cá nhân thực hiện kế hoạch, phân
công thực hiện, quy định chức năng, quyền hạn cho từng bộ phận; phân bố
kinh phí và các điều kiện vật chất cho việc thực hiện kế hoạch; xác lập cơ chế
24
phối hợp giữa các bộ phận thành viên, thiết lập mối quan hệ quản lý; lập
chương trình thực hiện kế hoạch và ra các quyết định thực hiện kế hoạch;
CBQL nhà trường phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế
hoạch. Sau khi kiểm tra đánh giá sơ bộ, nếu thấy cần thiết có thể điều chỉnh
kế hoạch. Kiểm tra giai đoạn cuối, đánh giá tổng thể kế hoạch là một trong
những cứ liệu để xây dựng kế hoạch mới.
Đôn đốc, động viên khen thưởng hay xử phạt kịp thời là một yếu tố
quan trọng nhằm hạn chế những yếu kém, phát huy hết năng lực các cá nhân
để tạo nên sức mạnh tổng hợp của tập thể nhằm hoàn thành xuất sắc mục tiêu
đã đặt ra của kế hoạch.
Kiểm tra và đánh giá kịp thời từng giai đoạn thực hiện kế hoạch nhằm
điều chỉnh sai lệch nếu có để định hướng đi đúng đắn, thậm chí giúp người
quản lý có cơ sở để mạnh dạn thay đổi hướng đi nếu cần.
1.3.2.3. Quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT
Quản lý hoạt động dạy và học là quản lý quá trình dạy của giáo viên và
quá trình học của học sinh:
- QL quá trình dạy của giáo viên: Bao gồm QL việc thực hiện chương
trình dạy học, việc soạn bài, chuẩn bị lên lớp của GV; việc kiểm tra đánh giá
kết quả học tập của học sinh; quản lý toàn diện các hoạt động chuyên môn
nghiệp vụ của GV; tổ chức đánh giá, xếp loại chuyên môn nghiệp vụ cho GV.
- QL quá trình học của HS: Thông qua GV, hiệu trưởng QL hoạt động
học của HS. Hoạt động đó xảy ra ở trong lớp, ngoài lớp, ngoài trường, ở gia
phương pháp dạy học bậc THPT, đáp ứng với xu thế phát triển của GD trong
nước và trên thế giới.
- Xây dựng tập thể HS bằng việc lập kế hoạch xây dựng tập thể HS, chỉ
đạo xây dựng đội ngũ GVCN... Quản lý học sinh và các hoạt động của học
sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký
xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình trường THPT và quyết