1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-------------------------
TRỊNH TRUNG KIÊN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN NGỌC LẶC,
TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2013
2
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
- Ban giám hiệu và quý thầy cô phòng sau đại học, khoa Giáo dục trường
Đại học Vinh.
- Tất cả quý thầy, cô đã tham gia quản lý, hướng dẫn, giảng dạy trong suốt
khóa học.
- Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư-Tiến sĩ
Nguyễn Thị Mỹ Trinh, người thầy đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
- Ban giám hiệu và giáo viên các trường THCS huyện Ngọc Lặc: THCS
8. Đóng góp mới của luận văn...............................................................................4
9. Cấu trúc của luận văn.........................................................................................4
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý giáo dục bảo vệ môi trường
thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh trung học cơ
sở............................................................................................................................5
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề.............................................................5
1.2. Các khái niệm cơ bản......................................................................................8
1.3. Một số vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trung học cơ sở.......................................... ..16
1.4. Một số vấn đề về quản lý giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trung học cơ sở................................. ..23
Kết luận chương 1............................................................................................. ..34
Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục bảo vệ môi trường thông qua
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học
4
cơ sở huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa......................................................... .36
2.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội, giáo dục trung học cơ sở
huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.......................................................................36
2.2. Khái quát về quá trình nghiên cứu thực trạng...............................................40
2.3. Thực trạng giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp cho học sinh trung học cơ sở huyện Ngọc Lặc,
tỉnh Thanh Hóa....................................................................................................41
2.4. Thực trạng quản lý giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trung học cơ sở huyện Ngọc Lặc,
tỉnh Thanh Hóa.....................................................................................................49
2.5. Đánh giá chung thực trạng............................................................................64
Kết luận chương 2………………………………...…………………….……....67
Cán bộ quản lý
CSVC
Cơ sở vật chất
GD
Giáo dục
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
GDBVMT
Giáo dục bảo vệ môi trường
GDMT
Giáo dục môi trường
GV
Giáo viên
HĐGDBVMT
Hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường
Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh
UBND
Ủy ban nhân dân
6
DANH SÁCH CÁC BIỂU BẢNG
Bảng
Trang
Bảng 2.1: Mạng lưới trường, lớp học trên địa bàn huyện Ngọc Lặc...................37
Bảng 2.2: Kết quả điều tra nhận thức của GV THCS về sự cần thiết và tầm
quan trọng của của GDBVMT thông qua HĐGDNGLL....................................43
Bảng 2.3.Khảo sát nhận thức của GV về các nội dung và hình thức GDBVMT
thông qua HĐGDNGLL...................................................................................... 43
Bảng 2.4: Khảo sát đánh giá mức độ và chất lượng thực hiện thường xuyên các
nội dung GDBVMT thông qua các HĐGDNGLL...............................................44
Bảng 2.5. Đánh giá mức độ và chất lượng thực hiện các hình thức GDBVMT
thông qua HĐGDNGLL.......................................................................................47
Bảng 2.6 : Các biện pháp GDBVMT được sử dụng............................................48
Bảng 2.7: Đánh giá về việc thực hiện chức năng lập kế hoạch của Hiệu trưởng
trong GDBVMT thông qua HĐGDNGLL...........................................................50
Bảng 2.8. Chủ thể xây dựng kế hoạch HĐGDNGLL ở các trường THCS.........54
Bảng 2.9. Đánh giá về xây dựng lực lượng GDBVMT thông qua
HĐGDNGLL..56
11
12
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ khi xuất hiện trên trái đất, cuộc sống của con người đã gắn bó với thiên
nhiên, con người đã chủ động khai thác tài nguyên thiên nhiên để duy trì cuộc
sống của mình. Trong quá trình lao động và sản xuất con người đã cải tạo thiên
nhiên, nhưng ngược lại cũng đã đốt rừng, tiêu diệt các loài động thực vật, sử
dụng chất độc hoá học, chất phóng xạ... huỷ hoại thiên nhiên gây nên tình trạng
khủng hoảng sinh thái, ô nhiễm môi trường
Việt Nam là một quốc gia đông dân trên thế giới, nền kinh tế phụ thuộc
chủ yếu vào thiên nhiên, để phát triển kinh tế chúng ta phải khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Chính điều này đã làm cho môi trường của nước ta hiện nay
không những cạn kiệt mà còn bị hủy hoại nghiêm trọng, nguy cơ mất cân bằng
sinh thái và sự cạn kiệt tài nguyên làm ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống, sự
phát triển bền vững của đất nước.
Để bảo vệ môi trường (BVMT), trước hết phải giáo dục ý thức BVMT
cho thế hệ trẻ, những người chủ tương lai của đất nước, Ở nước ta, bên cạnh
Luật bảo vệ môi trường 2005 [19] vấn đề giáo dục môi trường (GDMT) cũng là
mối quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước. Nghị quyết IV của Ban chấp hành
Trung ương Đảng khoá VII năm 1993 đã đề ra nhiệm vụ: “Đẩy mạnh giáo dục
pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ, dân số, môi trường, rèn luyện thể chất cho học
sinh” [22]
Trong hệ thống nhà trường, việc GDMT cần được coi trọng đặt biệt ở cấp
trung học cơ sở (THCS), bởi lẽ: THCS là cấp phổ cập của hệ thống giáo dục
quốc dân trong giai đoạn hiện nay. Thế hệ trẻ một khi đã được trang bị hành
14
chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp quản lý giáo dục bảo vệ
môi trường thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các
trường THCS huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng GDBVMT
thông qua HĐGDNGLL cho HS các trường THCS huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh
Hóa, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục GDBVMT cho HS trên địa
bàn này.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quản lý GDBVMT thông qua HĐGDNGLL
cho HS ở các trường THCS.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý GDBVMT thông qua
HĐGDNGLL cho HS các trường THCS huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu để xuất và áp dụng các biện pháp quản lý mang tính khoa học, khả thi
thì có thể nâng cao chất lượng GDBVMT thông qua HĐGDNGLL cho HS các
trường THCS huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý GDBVMT thông qua HĐGDNGLL
cho HS THCS.
- Nghiên cứu thực trạng quản lý GDBVMT thông qua HĐGDNGLL cho
HS các trường THCS huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đề xuất và thăm dò tính cần thiết, khả thi của một số biện pháp quản lý
GDBVMT thông qua HĐGDNGLL cho HS các trường THCS huyện Ngọc Lặc,
tỉnh Thanh Hóa.
16
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Thuật ngữ GDMT được sử dụng lần đầu tiên từ năm 1948, trong hội nghị
liên hiệp quốc về BVMT và tài nguyên thiên nhiên ở Pari. Kể từ đó GDMT đã
được nhiều quốc gia, các tổ chức, các nhà khoa học trên thế giới quan tâm.
Tại hội thảo quốc tế về GDMT ở Belgrade (Nam Tư) tháng 10 năm 1975,
chương trình GDMT quốc tế (IEEF) đã đưa ra nghị định khung và tuyên bố về
nguyên tắc hướng dẫn GDMT. Từ sau hội thảo Belgrade, chương trình GDMT
quốc tế bắt đầu được triển khai và có khoảng hơn 60 quốc gia trên thế giới đã
đưa GDMT vào trong trường học.
Ở các quốc gia phát triển trên thế giới như: Anh, Pháp, Mỹ .....trong hệ
thống các trường trung học phổ thông, GDMT được tiến hành có hiệu quả.
GDMT được xem là một nội dung quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân:
Ở Mỹ, liên đoàn quốc gia bảo vệ cuộc sống hoang dã (NWF) đã tiến hành giảng
dạy 33 bài học về môi trường ngay ở các trường tiểu học. Ở Pháp chương trình
hành động GDMT được đưa vào trường tiểu học và trung học. Ở Anh GDMT
được xác định là một môn học khoảng vài ba thập kỷ gần đây, còn ở Ba Lan kiến
thức về môi trường và BVMT được trang bị từ lớp 1 trong các môn học chủ yếu
như: Địa lí, Sinh học, Văn học, Mỹ thuật...Thậm chí có một số môn học còn có
những tiết dạy riêng về GDMT.
17
Hiền, Nguyễn Thị Phương Nhung hay đặc biệt luận án tiến sỹ của Nguyễn Như
An (Khoa giáo dục - Đại học Vinh)…đã có sự đột phá trong việc tìm ra những
giải pháp nâng cao năng lực GDBVMT cho SV và GV.
Ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh
khác nhau của HĐGDNGLL như vai trò, hình thức tổ chức, biện pháp tổ chức
trong nhà trường và ngoài nhà trường ở các bậc học khác nhau: Giáo dục mầm
non, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở, giáo dục trung học phổ thông,
giáo dục đại học.
Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục, HĐGDNGLL được chính thức đưa vào
trong chương trình giáo dục phổ thông với yêu cầu thực hiện bắt buộc và thống
nhất trong toàn quốc dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Để triển khai
chương trình và sách GV “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” ở phổ thông,
nhiều tác giả, các nhà nghiên cứu đã đề cập tới nhiều lĩnh vực khác nhau của
HĐGDNGLL.
Trong sách “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” Hà Nhật Thăng- Sách
giáo viên từ lớp 6 đến lớp 9 [30], [31], [32], [33] cũng đã nêu lên mục tiêu, nội
dung, chương trình, phương tiện, trang thiết bị của việc tổ chức HĐGDNGLL,
hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các chủ điểm giáo dục, cũng như đánh giá kết
quả tổ chức hoạt động này.
Trong bài viết của tác giả Nguyễn Dục Quang đã đề cập đến vấn đề đổi
mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức HĐGDNGLL, giáo dục quốc tế
cho học sinh qua HĐGDNGLL [24], ngoài ra còn có các luận văn Thạc sĩ, các
khoá luận đại học đã nghiên cứu vấn đề này ở các khía cạnh khác nhau.
19
Tác giả Đỗ Nguyên Hạnh trong công trình nghiên cứu của mình [15] đã
xuất phát từ đặc điểm ham thích HĐGDNGLL của học sinh đã đề xuất các hình
thức hoạt động: trưng bày ảnh, bình thơ, tiếp xúc với người thực, việc thực, tham
- Môi trường xã hội là tổng hòa các mối quan hệ giữa con người với con người.
Đó là các luật lệ, thể chế, quy định nhằm hướng các hoạt động của con người
theo một khuôn khổ nhất định, tạo thuận lợi cho sự phát triển cuộc sống
của con người.
Như vậy "môi trường là tất cả những gì xung quanh chúng ta, tạo điều
kiện để chúng ta sống, hoạt động và phát triển »
1.2.1.2. Giáo dục bảo vệ môi trường
Giáo dục bảo vệ môi trường là một quá trình (thông qua các hoạt động
giáo dục chính quy và không chính quy) hình thành và phát triển ở người học sự
hiểu biết, kĩ năng, giá trị và quan tâm tới những vấn đề về môi trường, tạo điều
kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái.
Giáo dục bảo vệ môi trường nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có
sự hiểu biết và nhạy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó (nhận thức);
những khái niệm cơ bản về môi trường và BVMT (kiến thức); những tình cảm,
mối quan tâm trong việc cải thiện và BVMT (thái độ, hành vi); những kĩ năng
giải quyết cũng như thuyết phục các thành viên khác cùng tham gia (kĩ năng);
tinh thần trách nhiệm trước những vấn đề môi trường và có những hành động
thích hợp giải quyết vấn đề (tham gia tích cực).
1.2.2. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Cuộc sống con người là một dòng hoạt động. Con người là chủ thể các
hoạt động nối tiếp nhau. Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ
21
của con người của con người với thế giới tự nhiên, với xã hội, với người khác và
với bản thân. Đó là quá trình chuyển hóa năng lực, lao động và các phẩm chất
tâm lý khác nhau của bản thân thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngược lại
là quá trình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ
thể,biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể. Muốn tồn tại được trong thế giới
học – kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn
hoá văn nghệ, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí… để giúp các em hình
thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường…)” [17].
Từ các định nghĩa trên, có thể thấy rằng:
HĐGDNGLL - còn được gọi là hoạt động ngoại khóa - là hoạt động giáo
dục được tổ chức ngoài thời gian học tập trên lớp. Đây là một trong hai hoạt
động giáo dục cơ bản, được thực hiện một cách có tổ chức, có mục đích theo kế
hoạch của nhà trường, hoạt động tiếp nối và thống nhất hữu cơ với các hoạt động
học tập trên lớp, nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo
mục tiêu đào tạo, đáp ứng những yêu cầu đa dạng của xã hội đối với thế hệ trẻ.
HĐGDNGLL do nhà trường tổ chức và quản lý với sự tham gia của các
lực lượng xã hội. Nó được tiến hành xen kẽ hoặc tiếp nối chương trình dạy học
trong phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội do nhà trường chỉ đạo, diễn
ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục, làm
cho quá trình đó có thể được thực hiện mọi nơi, mọi lúc.
HĐGDNGLL là một hoạt động quan trọng trong quá trình giáo dục toàn
diện nhân cách học sinh, chính vì vậy nó được quy định bắt buộc trong các nhà
trường, đặc biệt là trường THCS.
Vậy, HĐGDNGLL là một hoạt động cơ bản, được thực hiện một cách có
mục đích, có tổ chức, có kế hoạch ở bên ngoài giờ học các môn học góp phần
thực hiện quá trình hình thành nhân cách cho HS, đáp ứng yêu cầu của xã hội.
23
1.2.3. Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý GDBVMT
1.2.3.1. Quản lý
Từ nhiều góc độ, có thể có những định nghĩa khác nhau về quản lý, song về
cơ bản khái niệm quản lý có nội hàm sau:
Thứ nhất: Quản lý là sự lựa chọn các tác động có chủ đích, có tổ chức của
môn hóa lao động càng cao.
Theo tác giả Trần Hữu Cát và Đoàn Minh Duệ: “Chức năng quản lý là loại
hình đặc biệt của hoạt động điều hành, là sản phẩm của tiến trình phân công lao
động và chuyên môn hóa quá trình quản lý”.
Hoạt động quản lý gồm có bốn chức năng quản lý chủ yếu, cơ bản là: Kế
hoạch hóa; Tổ chức; Chỉ đạo – lãnh đạo; Kiểm tra”.[6]
- Kế hoạch hóa: Là sự xác định mục tiêu. Mục đích cần đạt được trong
tương lai của tổ chức và chỉ rõ các con đường, biện pháp, cách thức để đưa tổ
chức đạt được mục tiêu đã đề ra. Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế
hoạch hóa: Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức: Xác
định và bảo đảm (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ
chức để đạt được mục tiêu này; Quyết định xem những hoạt động nào là cần
thiết để đạt được mục tiêu đó.
- Tổ chức: Là sự bố trí sắp xếp, điều phối một cách khoa học các nguồn
lực (nhân lực, vật lực, tài lực) có trong tổ chức và các nguồn lực khác để chuyển
hóa các ý tưởng được hình thành trong kế hoạch thành hiện thực. Nhờ việc tổ
chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp và điều phối tốt hơn các nguồn
lực sẵn có.
- Lãnh đạo (chỉ đạo): Là quá trình định hướng dài hạn cho chuỗi các tác
động của chủ thể quản lý, lãnh đạo là quản lý những mục tiêu rộng lớn hơn, xa
25
hơn, khái quát hơn. Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã được hình
thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì cần phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn
dắt tổ chức. Lãnh đạo (chỉ đạo) là chức năng điều hành, liên kết, huy động các
nguồn lực để biến kế hoạch thành hiện thực, biến mục tiêu đã định thành kết quả.
- Kiểm tra: Là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một
nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành