Luận văn cuối khoá Khoa: Kế toán
LỜI MỞ ĐẦU
Dịch vụ kiểm toán tuy mới ra đời và phát triển trong khoảng 15 năm trở
lại đây nhưng đang dần dần khẳng định vị trí quan trọng của mình trong nền
kinh tế hội nhập hiện nay. Với sự phát triển không ngừng của các doanh
nghiệp về số lượng, hình thức và qui mô hoạt động, đồng thời, trước đòi hỏi
về sự minh bạch, lành mạnh tài chính của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường và hội nhập kinh tế thế giới thì sự trợ giúp của các công ty kiểm toán
là vô cùng cần thiết. Kiểm toán giờ đây đã trở thành công cụ hiệu quả để quản
lý thuế, ngân sách nhà nước, thị trường chứng khoán bên cạnh quản lý tài
chính nói chung. Số lượng các công ty kiểm toán đã ngày càng gia tăng,
chứng tỏ nhu cầu đối với lĩnh vực này ngày càng cao. Trong đó, sự ra đời của
Công ty TNHH Deloitte Việt Nam được đánh dấu là một mốc lịch sử cho
ngành kiểm toán tại Việt Nam. Trong quá trình hơn 15 năm phát triển,
Deloitte Việt Nam đã thu được nhiều thành công, khẳng định vai trò đầu đàn
trong ngành kiểm toán độc lập ở Việt Nam.
Với sự gia tăng số lượng các công ty kiểm toán như hiện nay, các công
ty kiểm toán thực sự cần nâng cao chất lượng dịch vụ của mình để có thể phát
triển và cạnh tranh. Deloitte Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng phát triển
đó. Trong đó, kiểm toán Báo cáo tài chính là dịch vụ truyền thống và chiếm
chủ yếu doanh thu của một công ty kiểm toán. Có thể nói, sự thành công của
một cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thập và sau đó là đánh
giá bằng chứng kiểm toán của KTV. Bằng chứng kiểm toán không chỉ giúp
KTV đưa ra kết luận mà còn đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán. Trong
kiểm toán BCTC, để thu thập được bằng chứng kiểm toán có giá trị (đầy đủ
và thích hợp) cần những phương pháp kỹ thuật phù hợp. Tuy nhiên, những gì
học được trên ghế nhà trường chỉ là khung lí thuyết chung nhất về các kỹ
thuật thu thập bằng chứng. Thực tế, mỗi công ty kiểm toán lại vận dụng các
Lê Thanh Ngân Lớp: CQ 43/22.02
1
Luận văn cuối khoá Khoa: Kế toán
1.1.1.1. Khái niệm về bằng chứng kiểm toán
Theo Lenin thì hết thảy mọi vật chất đều có một đặc tính về bản chất gần
giống như cảm giác, đó là đặc tính phản ánh . Phản ánh là thuộc tính phổ biến
của vật chất, tức là mọi sự vật, sự việc đều được phản ánh trên hai phương
diện: phản ánh vật chất (phản ánh bởi các vật về thông tin của sự vật được tìm
hiểu, tồn tại dưới dạng vật chất) và phản ánh ý thức (là phản ánh của não
người – dạng phản ánh cao nhất của thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về
thế giới khách quan – về sự vật được tìm hiểu). Như vậy, một sự thật khách
quan luôn tạo thành dấu vết, được phản ánh trên những mặt riêng lẻ, những
khía cạnh khác nhau, bộ phận khác nhau. Vì vậy, muốn chứng minh một điều
đúng hay sai, thật hay giả, tồn tại hay không tồn tại ta có thể thu thập cái phản
ánh sự thật khách quan của sự vật, trên cả hai phương diện là vật chất và ý
thức, được gọi là chứng cứ. Chứng cứ là cái được dẫn ra để dựa vào đó mà
xác định điều gì đó đúng hay sai, thật hay giả
1
. Ta có thể hiểu chứng cứ được
thu thập nhằm chứng minh một điều nhất định, với mục đích nhất định.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 thì “Bằng chứng kiểm toán
là tất cả các tài liệu, thông tin do Kiểm toán viên thu thập được liên quan đến
cuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này, Kiểm toán viên hình thành nên ý
kiến của mình” và “Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thu thập đầy đủ
các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến của mình về
báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán” (trích đoạn 02 và 05). Bằng
1
Đại từ điển Tiếng Việt, 1999, Nguyễn Như Ý, NXB Văn hóa thông tin
Lê Thanh Ngân Lớp: CQ 43/22.02
3
Luận văn cuối khoá Khoa: Kế toán
chứng kiểm toán có một vai trò quan trọng, là cơ sở hình thành kết luận của
KTV, là những minh chứng cụ thể cho những kết luận kiểm toán. Trong kiểm
được ghi nhận đầy đủ, không bị khai thiếu.
Thứ ba là tính đúng đắn của tính giá, tức là tài sản cũng như chi phí đều
được tính theo phương pháp phù hợp theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện
hành.
Thứ tư là tính chính xác cơ học, tức là các phép tính số học được thực hiện
chính xác, cộng sổ chuyển sổ chính xác. Một nghiệp vụ hay một sự kiện được
ghi chép theo đúng giá trị của nó, doanh thu hay chi phí được ghi nhận đúng
kỳ, đúng khoản mục.
Thứ năm là tính đúng đắn trong phân loại và trình bày, tức là BCTC được
tuân thủ theo các quy định cụ thể trong chuẩn mực và chế độ kế toán hiện
hành về phân loại tài sản và vốn. Quá trình kinh doanh, thể hiện qua các tài
khoản tổng hợp và chi tiết được phản ánh đúng theo quan hệ đối ứng để có
thông tin hình thành BCTC chính xác. Những trường hợp đặc biệt cần được
giải trình rõ ràng.
Thứ sáu là tính đúng đắn trong phản ánh quyền và nghĩa vụ của đơn vị kế
toán, tức là tài sản được phản ánh trên BCTC phải thuộc quyền sở hữu (hoặc
sử dụng lâu dài) của đơn vị, vốn và công nợ phải phản ánh đúng nghĩa vụ
tương ứng của đơn vị (nghĩa vụ phải trả nợ, nghĩa vụ phải chia lãi cho cổ
đông góp vốn…)
“Khi có nghi ngờ liên quan đến cơ sở dẫn liệu có thể ảnh hưởng trọng yếu
đến báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải thu thập thêm bằng chứng kiểm
toán để loại trừ sự nghi ngờ đó. Nếu không thể thu thập đầy đủ bằng chứng
thích hợp, kiểm toán viên sẽ phải đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần, hoặc ý
kiến không thể đưa ra ý kiến.” – Đoạn 19 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
500.
Lê Thanh Ngân Lớp: CQ 43/22.02
5
Luận văn cuối khoá Khoa: Kế toán
Một khoản mục khi kiểm toán cần được đảm bảo các mục tiêu chung trên.
Vì vậy, bằng chứng kiểm toán thuyết phục phải đáp ứng các mục tiêu trên của
cậy cao hơn khi hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động có
hiệu quả. Bằng chứng được thu thập từ bên thứ ba độc lập sẽ có hiệu lực hơn
từ bên thứ ba có liên quan. Bằng chứng được thu thập từ các chuyên gia sẽ có
tin cậy hơn từ những người có hiểu biết. Bằng chứng được KTV thu thập trực
tiếp qua so sánh, kiểm tra tài liệu, quan sát, kiểm kê có tính thuyết phục hơn
bằng chứng được thu thập gián tiếp bằng phỏng vấn hay thư xác nhận…
Thứ năm: Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu: Mẫu được chọn có quy
mô lớn thì thuyết phục hơn quy mô nhỏ. Chọn mẫu xác suất giúp bằng chứng
cung cấp có tính giá trị hơn vì được dựa trên các quy tắc xác suất, giúp KTV
độc lập khi đưa ra xét đoán, tránh những định kiến ban đầu.
Thứ sáu: Sự kết hợp của các bằng chứng kiểm toán. Đoạn 17 Chuẩn mực
Kiểm toán Việt Nam số 500 có ghi “Bằng chứng kiểm toán có sức thuyết
phục cao hơn khi có được thông tin từ nhiều nguồn và nhiều loại khác nhau
cùng xác nhận. Trường hợp này kiểm toán viên có thể có được độ tin cậy cao
hơn đối với bằng chứng kiểm toán so với trường hợp thông tin có được từ
những bằng chứng riêng rẽ. Ngược lại, bằng chứng có từ nguồn này mâu
thuẫn với bằng chứng có từ nguồn khác, thì kiểm toán viên phải xác định
những thủ tục kiểm tra bổ sung cần thiết để giải quyết mâu thuẫn trên.”
Ngoài ra còn một số các yếu tố khác như tính chất và thời điểm của cuộc
kiểm toán, tính chất đúng lúc của việc cung cấp bằng chứng (bằng chứng
được cung cấp ngày khi KTV yêu cầu có giá trị hơn bằng chứng được cung
cấp sau thời gian trì hoãn) … Tùy vào tình huống và trường hợp cụ thể mà
KTV có thể thu thập được những bằng chứng có độ tin cậy cao nhất.
Sự đầy đủ chỉ số lượng hay quy mô cần thiết của bằng chứng kiểm toán
cần thu thập. Không có thước đo nào quy định số lượng bằng chứng bao
Lê Thanh Ngân Lớp: CQ 43/22.02
7
Luận văn cuối khoá Khoa: Kế toán
nhiêu là đủ. Điều này đòi hỏi rất nhiều ở kinh nghiệm của KTV. Vì vậy mà
các chuẩn mực thường chấp nhận KTV thu thập bằng chứng kiểm toán ở mức
Rủ ro tiềm
tàng
Rủi ro kiểm
soát
Rủi ro phát
hiện
Số lượng
bằng chứng
1 Cao Thấp Thấp Cao Thấp
2 Thấp Thấp Thấp Trung bình Trung bình
3 Thấp Cao Cao Thấp Cao
4 Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình
5 Cao Thấp Trung bình Trung bình Trung bình
Thứ tư: Kết quả của các lần kiểm toán trước: KTV căn cứ vào số sai phạm
phát hiện được từ những cuộc kiểm toán trước đó để xác định số lượng bằng
chứng thích hợp.
1.1.1.3. Phân loại bằng chứng kiểm toán
Căn cứ vào nguồn gốc của thông tin, tài liệu có liên quan đến hoạt động
của đơn vị và báo cáo tài chính mà kiểm toán viên thu thập được trong quá
trình kiểm toán, bằng chứng kiểm toán được chia thành:
Thứ nhất, Bằng chứng kiểm toán do kiểm toán viên tự khai thác và phát
hiện được bằng cách: kiểm kê tài sản thực tế, tính toán lại các biểu tính toán
của doanh nghiệp, quan sát hoạt động của kiểm toán viên nội bộ.
Thứ hai, Bằng chứng kiểm toán là các chứng từ, sổ sách, báo cáo và các
tài liệu khác do đối tượng kiểm toán cung cấp cho kiểm toán viên.
Thứ ba, Bằng chứng kiểm toán do bên thứ ba cung cấp từ các nguồn
khác nhau: các bằng chứng do những người bên ngoài đơn vị cung cấp trực
tiếp cho những KTV; các bằng chứng do những người bên ngoài đơn vị liên
quan đến báo cáo tài chính của đơn vị lập; các ghi chép độc lập hoặc các báo
cáo thống kê tổng hợp theo chuyên ngành có liên quan đến doanh nghiệp.
yếu tố như: tính chất trọng yếu của khoản mục sẽ được kiểm tra so với toàn
bộ thông tin tài chính; nội dung và mức độ phức tạp của các khoản mục kể cả
những rủi ro và sai sót trong đó; các bằng chứng kiểm toán khách quan có
Lê Thanh Ngân Lớp: CQ 43/22.02
10
Luận văn cuối khoá Khoa: Kế toán
hiệu lực đối với các khoản mục này. Việc dự kiến sử dụng ý kiến chuyên gia
thường một số lĩnh vực như: đánh giá tài sản (đất đai, nhà cửa, máy móc, thiết
bị, các công trình nghệ thuật, đá quý); Xác định số lượng hoặc chất lượng
hiện có của tài sản (trữ lượng quặng, khoáng sản, nhiên liệu trong lòng đất,
thời gian hữu ích còn lại của tài sản máy móc); hoặc trong trường hợp dùng
các phương pháp đặc biệt để xác định tổng giá trị như phương pháp ước
lượng của thống kê; xác định các phần việc sẽ hoàn thành và đã hoàn thành
trong quá trình thực hiện hợp đồng kiểm toán để xác định doanh thu; khi cần
các ý kiến của luật sư về cách diễn giải các hợp đồng và luật pháp.
Việc thu thập và sử dụng tư liệu của chuyên gia được tiến hành như:
Đánh giá kỹ năng, trình độ nghiệp vụ của chuyên gia (thể hiện qua bằng cấp
chuyên môn, giấy phép hành nghề, là thành viên của tổ chức chuyên ngành,
kinh nghiệm của chuyên gia); Đánh giá tính khách quan của chuyên gia; Xác
định công việc của chuyen gia (về mục đích, phạm vi công việc nội dung
công việc nguồn tư liệu của chuyên gia làm bằng chứng kiểm toán của KTV
có đầy đủ và thích hợp không); phạm vi đánh giá của các chuyên gia, xác định
mối quan hệ giữa chuyên gia với khách hàng, yêu cầu giữ bí mật thông tin của
khách hàng, các phương pháp mà chuyên gia sử dụng. Tuy nhiên, người chịu
trách nhiệm cuối cùng trong việc đưa ra ý kiến trong báo cáo tài chính vẫn là
KTV.
Ngoài ra, KTV phải thu thập giải trình của Giám đốc đơn vị được kiểm
toán dưới dạng văn bản, thừa nhận trách nhiệm của mình trong việc lập và
trình bày báo cáo tài chính trung thực, hợp lý, phù hợp với chuẩn mực và chế
độ kế toán hiện hành và đã phê duyệt báo cáo tài chính. Trường hợp không có
2
, quan sát, điều tra, xác nhận, tính toán và quy trình phân tích.
Việc thực hiện các phương pháp này một phần tùy thuộc vào thời gian thu
2
Kiểm tra bao gồm Kiểm tra vật chất – Kiểm kê và Kiểm tra tài liệu
Lê Thanh Ngân Lớp: CQ 43/22.02
12
Luận văn cuối khoá Khoa: Kế toán
thập được bằng chứng kiểm toán” (Đoạn 20 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
số 500). Mỗi phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán sẽ cung cấp những
loại bằng chứng khác nhau với độ tin cậy khác nhau và từng phương pháp có
những ưu điểm và hạn chế riêng của mình. Do đó, KTV cần phối hợp sử dụng
những phương pháp kỹ thuật khác nhau tùy từng trường hợp cụ thể để đạt
được mục tiêu kiểm toán. Nói cách khác, tùy trường hợp cụ thể, KTV sẽ sử
dụng xét đoán nghề nghiệp để lựa chọn phương pháp thu thập bằng chứng
kiểm toán thích hợp. Bằng chứng kiểm toán thu thập được sẽ được lưu vào
giấy tờ làm việc và hồ sơ kiểm toán.
1.1.2.1 Kiểm kê vật chất
Kỹ thuật này thường được áp dụng đối với tài sản doanh nghiệp có dạng
vật chất cụ thể như hàng tồn kho, tài sản cố định hữu hình, tiền mặt, các giấy
tờ thanh toán có giá trị. KTV có thể trực tiếp tham gia kiểm kê hoặc quan sát
kiểm kê. Ưu điểm của kỹ thuật này là cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao
vì nó xác minh tính hiện hữu của tài sản một cách khách quan. Hơn nữa, cách
thực hiện cũng đơn giản. Tuy nhiên, kiểm kê chỉ cho biết kết quả về sự hiện
hữu của một số tài sản cố định như nhà xưởng, đất đai, phương tiện vận tải…
mà không cho biết quyền sở hữu hợp pháp hoặc kiểm soát lâu dài của doanh
nghiệp đối với tài sản đó, bởi lẽ chúng hiện hữu nhưng có thể là tài sản thuê
ngoài, hàng hóa nhận giữ hộ hoặc đã bị đơn vị thế chấp. Đồng thời, đối với
hàng tồn kho, kiểm kê cũng chỉ cho biết sự hiện hữu về mặt số lượng chứ
không chứng minh chất lượng, tình trạng của tài sản, giả trị của tài sản trong
điểm khác. Phương pháp này cần đi kèm với các thủ tục khác.
1.1.2.3. Điều tra
Điều tra là việc thu thập các thông tin phù hợp từ những người am hiểu
công việc ở trong và ngoài đơn vị được kiểm toán. Việc điều tra có thể tiến
hành theo cách gửi văn bản, phỏng vấn hoặc trao đổi kết quả điều tra, sẽ cung
Lê Thanh Ngân Lớp: CQ 43/22.02
14
Luận văn cuối khoá Khoa: Kế toán
cấp cho KTV những thông tin chưa có, hoặc những thông tin bổ sung để củng
cố các bằng chứng đã có. Kỹ thuật điều tra thường được sử dụng nhiều và phổ
biến trong quá trình kiểm toán là kỹ thuật phỏng vấn: Đây là quá trình KTV
thu thập thông tin bằng văn bản hay bằng lời nói qua việc phỏng vấn những
người hiểu biết về các vấn đề mà KTV quan tâm như yêu cầu người quản lý
giải thích những quy định về kiểm soát nội bộ, hoặc hỏi các nhân viên về việc
thực hiện quy chế này… Thủ tục này có thể được thực hiện theo một trong
các cách thức: KTV có thể yêu cầu được thực hiện một cuộc phỏng vấn trực
tiếp đối với những người có trách nhiệm trong đơn vị, hay bằng cách tiếp cận
và trao đổi một cách thân mật với những người được phỏng vấn hoặc cũng có
thể được KTV thực hiện bằng cách chuẩn bị sẵn các câu hỏi cần thiết trên một
hệ thống các bảng biểu đã được xây dựng sẵn và đề nghị những người có
trách nhiệm trong đơn vị trả lời trực tiếp vào các bảng biểu đó. Quá trình
phỏng vấn có thể được chia làm ba giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: Lập kế hoạch phỏng vấn. KTV xác định mục đích, đối
tượng và nội dung cần thiết để đưa ra trọng điểm cần phỏng vấn, thời gian
phỏng vấn …
Giai đoạn thứ hai: Thực hiện phỏng vấn. KTV đặt ra câu hỏi, có thể ở
dạng “đóng” (dùng để xác nhận với cụm từ Có hay Không) hay “mở” (thu
thập thông tin đầy đủ với cụm từ Thế nào, Cái gì, Tại sao ..), sau đó lắng nghe
câu trả lời và đánh giá các câu trả lời đó. Nếu cảm thấy câu trả lời chưa cung
cấp bằng chứng cần thiết, KTV có thể hỏi thêm các câu hỏi liên quan nhưng
Công ty khách hàng) được gửi trực tiếp tới Bên thứ ba và yêu cầu phản hồi lại
cho KTV theo hai hình thức: hình thức thư xác nhận khẳng định (phúc đáp dù
số liệu xác nhận và số liệu của bên thứ ba có chênh lệch hay không) và hình
thức thư xác nhận khẳng định (phúc đáp chỉ khi có chênh lệch). Tùy vào mức
Lê Thanh Ngân Lớp: CQ 43/22.02
16
Luận văn cuối khoá Khoa: Kế toán
độ hệ trọng của thông tin cần xác nhận mà KTV sẽ xác định hình thức gửi thư
xác nhận phù hợp.
Phương pháp này có ưu điểm là thông tin được cung cấp từ bên ngoài, có
độ tin cậy cao nếu đảm bảo thông tin được xác nhận theo yêu cầu của KTV,
sự xác nhận được thực hiện bằng văn bản, bên thứ ba là độc lập và KTV kiểm
soát được quá trình gửi và nhận thư xác nhận. Tuy nhiên, thực hiện kỹ thuật
này đòi hỏi chi phí lớn nên phạm vi áp dụng bị giới hạn hoặc có khả năng đơn
vị kiểm toán và bên thứ ba có sự dàn xếp nên kỹ thuật này thường chỉ áp dụng
đối với một số đối tượng kiểm toán như công nợ, tiền gửi ngân hàng …
Biểu 2.
Các loại thông tin thường cần phải xác nhận
Thông tin Nơi xác nhận
Tài sản
Tiền gửi ngân hàng Ngân hàng
Khoản phải thu Khách nợ
Phiếu nợ phải thu Người lập phiếu
Hàng tồn kho gửi trong Công ty lưu kho Công ty lưu kho
Giá trị bằng tiền của bảo hiểm nhân thọ Công ty bảo hiểm
Công nợ
Khoản phải trả Chủ nợ
Phiếu nợ phải trả Người cho vay
Khách hàng trả tiền trước Khách hàng
Cầm cố phải trả Người nhận cầm cố
chênh lệnh). Kỹ thuật này gồm ba loại:
Thứ nhất: Phân tích ngang, bao gồm Kiểm tra tính hợp lý và Phân tích
tính hợp lý. Kiểm tra tính hợp lý thường bao gồm các so sánh cơ bản như so
sánh số thực tế và số kế hoạch, số dự toán, số dự đoán của KTV; so sánh chỉ
tiêu của đơn vị với chỉ tiêu chung của ngành … để phát hiện ra chênh lệch,
cân nhắc và tìm ra sai sót có thể xảy ra.
So sánh số thực tế với số kế hoạch: sai lệch lớn giữa số liệu thực tế và số
liệu trong kế hoạch, dự toán có thể cho thấy những sai lệch trong BCTC, hoặc
các biến động lớn trong tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị.
So sánh giữa các chỉ tiêu của đơn vị với những chỉ tiêu bình quân ngành:
các chỉ tiêu như tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu, tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu
Lê Thanh Ngân Lớp: CQ 43/22.02
18
Luận văn cuối khoá Khoa: Kế toán
chính trong giá thành sản phẩm… của đơn vị thường có mối liên hệ tương
đồng nhất định với chỉ tiêu bình quân ngành. Việc so sánh này giúp KTV có
hiểu biết sâu sắc hơn về đơn vị. Tuy nhiên, khi áp dụng cần chú ý sự khác biệt
về quy mô, việc áp dụng các chính sách kế toán của đơn vị…
Phân tích xu hướng xem xét sự thay đổi của số dư kỳ này với kỳ trước,
phân tích xem sự thay đổi này có hợp lý không, nhằm phát hiện những biến
động bất thường. KTV có thể so sánh số dư hoặc số phát sinh của tài khoản
giữa các kỳ để phát hiện tài khoản có biến động bất thường. Thí dụ, sự gia
tăng bất thường của khoản phải thu khách hàng cuối kỳ có thể là xuất phát từ
sự thay đổi chính sách bán chịu, tình trạng nợ khó đòi gia tăng hoặc đang có
chênh lệch trọng yếu trong số dư cuối kỳ. KTV cũng có thể so sánh tỷ số giữa
các kỳ để phát hiện ra những tài khoản có thể bị sai lệch. Thí dụ, số vòng
quay của hàng tồn kho giảm đột ngột có thể phản ánh những sai lệch trong số
dư hàng tồn kho, hoặc hàng hóa bị ứ đọng hay mất phẩm chất. Việc so sánh
cũng có thể được tiến hành trên các đối tượng chi tiết của tài khoản, hoặc sự
biến động chi tiết gữa các kỳ trong tháng, quý, năm.
gian, chi phí thấp mà vẫn có thể cung cấp bằng chứng về sự đồng bộ, chuẩn
xác và giá trị về mặt kế toán, giúp KTV đánh giá được tổng thể mà không sa
vào các nghiệp vụ cụ thể. Tuy nhiên, việc phân tích chỉ có ý nghĩa khi các chỉ
tiêu có mối liên hệ với nhau (nếu giữa chúng không có mối liên hệ với nhau
thì việc phân tích là vô nghĩa. Trong nhiều trường hợp, để có thể so sánh cần
phải loại trừ các thông tin gây nhiễu bằng các phương pháp thích hợp), đồng
nhất về nội dung và phương pháp tính, đòi hỏi mức hiểu biết chung về ngành
kinh doanh của KTV… Với các khoản mục trọng yếu thì không thể chỉ đơn
thuần áp dụng kỹ thuật phân tích mà còn phải kiểm tra chi tiết. Đặc biệt, với
mức rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát cao (nhất là khi hệ thống kiểm soát
Lê Thanh Ngân Lớp: CQ 43/22.02
20
Luận văn cuối khoá Khoa: Kế toán
nội bộ yếu kém), việc áp dụng đơn thuần thủ tục phân tích để đi đến kết luận
sẽ có rủi ro rất cao.
1.1.2.7. Kiểm tra tài liệu
Kiểm tra chi tiết là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu các chứng từ sổ
sách liên quan có sẵn trong đơn vị được kiểm toán như hóa đơn, phiếu nhập-
xuất kho … KTV có thể dựa vào một kết luận có trước, thu thập tài liệu để
khẳng định kết luận đó hoặc có thể kiểm tra tài liệu của một nghiệp vụ từ khi
phát sinh đến khi vào sổ để dẫn đến kết luận (kiểm tra từ chứng từ rồi đối
chiếu với sổ sách hoặc kiểm tra từ sổ sách rồi đối chiếu với chứng từ). Hai
hướng kiểm tra trên sẽ cung cấp hai loại bằng chứng để thỏa mãn các mục
tiêu khác nhau. Việc kiểm tra từ chứng từ gốc (từ khi nghiệp vụ phát sinh)
cho đến sổ sách sẽ cho thấy mọi nghiệp vụ phát sinh đều được ghi sổ (tính
đầy đủ). Ngược lại, việc kiểm tra các nghiệp vụ khởi đầu từ sổ sách quay về
chứng từ gốc sẽ cho biết rằng có phải mọi nghiệp vụ ghi trên sổ sách đều thực
sự xảy ra hay không (tính hiện hữu). Trong kỹ thuật này, bằng chứng thu thập
được thường là bằng chứng tài liệu.
Việc kiểm tra này thuận tiện do tài liệu có sẵn, chi phí thu thập bằng
hiện khi hệ thống kiểm soát nội bộ tồn tại và được đánh giá là hoạt động có
hiệu quả. Hai loại thử nghiệm này có quan hệ chặt chẽ với nhau, khi hệ thống
kiểm soát nội bộ được đánh giá hiệu quả, thử nghiệm tuân thủ được thực hiện
và sẽ giảm thiểu số lượng thử nghiệm cơ bản được thực hiện. Ngược lại khi
hệ thống kiểm soát nội bộ không hiệu quả, thử nghiệm cơ bản sẽ được tăng
cường để đảm bảo độ tin cậy vào kết luận kiểm toán.
Việc áp dụng các phương pháp kiểm toán hình thành nên các trắc
nghiệm trong kiểm toán. Tuỳ yêu cầu và đối tượng cụ thể các phép kết hợp
giữa các phương pháp kiểm toán cơ bản cũng khác nhau cả về số lượng và
trình tự kết hợp từ đó hình thành 3 loại trắc nghiệm: trắc nghiệm công việc,
Lê Thanh Ngân Lớp: CQ 43/22.02
22
Luận văn cuối khoá Khoa: Kế toán
trắc nghiệm trực tiếp số dư, trắc nghiệm phân tích. Trắc nghiệm công việc
hướng tới xác định tính đúng đắn trong tổ chức hệ thống kế toán: mức đạt yêu
cầu về thủ tục và độ tin cậy của các thông tin con số kế toán. Trắc nghiệm đạt
yêu cầu còn được gọi là trắc nghiệm kiểm soát, dựa trên kỹ thuật phỏng vấn,
quan sát, xác minh tài liệu đánh giá hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Trắc nghiệm độ tin cậy thường được sử dụng với kỹ thuật tính toán lại để
kiểm toán viên có thể khẳng định mức độ thoả mãn mục đích đảm bảo độ tin
cậy của thông tin của hệ thống kiểm soát nội bộ. Trắc nghiệm trực tiếp số dư
là việc kết hợp đối chiếu lôgic, phân tích đối chiếu trực tiếp với kiểm kê và
kiểm tra thực tế để xác định độ tin cậy của các số dư cuối kỳ. Trắc nghiệm
phân tích xem xét mối quan hệ kinh tế và xu hướng biến động của các chỉ tiêu
kinh tế bằng việc sử dụng ba loại hình phân tích chủ yếu: đánh giá tính hợp
lý, phân tích xu hướng và phân tích tỷ suất.
Lê Thanh Ngân Lớp: CQ 43/22.02
23
Luận văn cuối khoá Khoa: Kế toán
Sơ đồ 1.
thông tin cơ sở của khách hàng kiểm toán; thông tin về các nghĩa vụ pháp lý
và bằng chứng thu được từ thủ tục phân tích từ đó đánh giá mức độ trọng yếu
và rủi ro. Phương pháp kiểm toán được sử dụng trong giai đoạn này kết hợp
cả kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ. Ví dụ để có được thông tin cơ sở
của khách hàng, kiểm toán viên kiểm toán ngoài chứng từ, kỹ thuật phỏng
vấn, kỹ thuật thu thập tài liệu, điều tra nhằm tìm hiểu ngành nghề kinh doanh,
kỹ thuật quan sát được sử dụng góp phần giúp kiểm toán viên trực tiếp có
nhận định ban đầu, kỹ thuật kiểm tra tài liệu từ hồ sơ kiểm toán trước giúp
Lê Thanh Ngân Lớp: CQ 43/22.02
24
Bằng chứng đầy đủ, có hiệu lực với chi phí
kiểm toán thấp
Luận văn cuối khoá Khoa: Kế toán
kiểm toán viên hiểu về bản chất của sự biến động. Kỹ thuật thu thập tài liệu
sử dụng hiệu quả trong việc thu thập các thông tin về nghĩa vụ pháp lý của
khách hàng như: giấy phép thành lập, điều lệ công ty, báo cáo tài chính, biên
bản họp hội đồng cổ đông… Thủ tục phân tích được sử dụng nhằm thu thập
hiểu biết về nội dung báo cáo tài chính, những biến động quan trọng về kế
toán và hoạt động kinh doanh. Thủ tục phân tích thường gồm hai loại cơ bản:
phân tích ngang và phân tích dọc. Trong giai đoạn lập kế hoạch, thiết kế
chương trình kiểm toán đòi hỏi những phán xét nghề nghiệp của kiểm toán
viên. Các kỹ thuật thu thập tài liệu được sử dụng hết sức đa dạng ngay từ giai
đoạn này nhưng kỹ thuật được sử dụng nhiều nhất là phỏng vấn trực tiếp với
KTV đã làm khách hàng này năm trước hoặc nhân viên, Ban Giám đốc của
khách hàng. Ngoài ra, KTV có thể tự nghiên cứu qua sách báo, tạp chí, tài
nguyên mạng…. Tuy nhiên bằng chứng thu thập trong giai đoạn này chỉ mang
tính tổng quát làm cơ sở để kiểm toán viên tiếp tục thực hiện trong giai đoạn
tiếp theo.
Giai đoạn tiếp theo là thực hiện kế hoạch kiểm toán, đây là quá trình sử
dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán thích ứng với đối tượng kiểm toán