Khoá luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới
hiện nay, kiểm toán đóng vai trò vô cùng quan trọng. Do vậy, hoạt động kiểm
toán cần tiếp tục hoàn thiện và phát triển lên một tầm cao mới. Hiện tại cả ba
lĩnh vực của kiểm toán là kiểm toán độc lập, kiểm toán Nhà nước và kiểm
toán nội bộ đều đã hình thành và đang hoạt động có hiệu quả đối với nền kinh
tế nước ta.
Trước đây kiểm toán chủ yếu chỉ phục vụ cho cơ quan quản lý Nhà
nước, nhưng càng ngày nó càng trở thành công cụ điều hành thiết thực cho
doanh nghiệp, nhà đầu tư, chủ sở hữu vốn và các thành phần kinh doanh của
nền kinh tế thị trường. Mới xuất hiện trong hơn 15 năm qua, Công ty TNHH
Kiểm toán và Tư vấn (A&C) đã khẳng định tên tuổi của mình trong lĩnh vực
kiểm toán độc lập. Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn (A&C) tự hào là
một trong bốn Công ty kiểm toán độc lập hàng đầu của ngành kiểm toán độc
lập Việt Nam.
Nhằm giúp cho sinh viên có cơ hội hiểu sâu hơn và kỹ hơn về lĩnh vực
kiểm toán, trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện cho sinh viên
xuống các doanh nghiệp thực tập. Sau một thời gian tìm hiểu về Công ty
TNHH Kiểm toán và Tư vấn (A&C), em nhận thấy bằng chứng kiểm toán
đóng vai trò vô cùng quan trọng, là cơ sở hình thành ý kiến kết luận kiểm
toán. Sự thành công của toàn bộ cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc
thu thập và sau đó là đánh giá bằng chứng kiểm toán của kiểm toán viên. Vì
vậy em quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng
kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm
toán và Tư vấn (A&C)”.
Phạm Hồng Nhung Kiểm toán 46A
1
Khoá luận tốt nghiệp
Đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong
các bằng chứng kiểm toán thích hợp, KTV sử dụng kết hợp kỹ thuật thu thập
bằng chứng khác nhau, ví dụ kỹ thuật phỏng vấn, gửi thư xác nhận, tính
toán…
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 có quy định: “Bằng chứng
kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin mà kiểm toán viên thu thập được liên
quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán viên hình
thành nên ý kiến của mình”. Từ đó có thể cho thấy, bằng chứng kiểm toán bao
Phạm Hồng Nhung Kiểm toán 46A
3
Khoá luận tốt nghiệp
gồm cả thông tin nhân chứng và vật chứng mà kiểm toán viên thu thập làm cơ
sở cho nhận xét của mình về BCTC được kiểm toán.
Trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 cũng quy định: ‘Kiểm
toán viên và Công ty kiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm
toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến của mình về báo cáo tài chính của
đơn vị được kiểm toán”.
1.1.2. Phân loại
Bằng chứng kiểm toán được phân loại chủ yếu theo nguồn gốc và theo
loại hình.
1.1.2.1. Theo nguồn gốc
Bằng chứng kiểm toán dựa theo nguồn gốc của thông tin, tư liệu liên
quan tới hoạt động của đơn vị và báo cáo tài chính mà kiểm toán viên thu
được trong quá trình kiểm toán.
Bằng chứng kiểm toán do kiểm toán viên tự tìm kiếm và khai thác: Đó là
các bằng chứng thu được qua việc kiểm kê tài sản như kiểm kê tiền, hàng tồn
kho tại đơn vị… Hay các bằng chứng thu được qua quan sát các hoạt động
của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên tại đơn
vị. Và bằng chứng thu được từ việc tính toán lại các biểu tính toán của doanh
nghiệp.
Bằng chứng kiểm toán do bên thứ ba cung cấp: Bằng chứng kiểm toán
xưởng, hệ thống kiểm soát nội bộ…
1.1.3. Vai trò, tính chất
1.1.3.1. Vai trò
Bằng chứng kiểm toán có vai trò quan trọng, là cơ sở hình thành kết
luận kiểm toán. Các loại bằng chứng kiểm toán khác nhau sẽ có ảnh hưởng
khác nhau đến việc hình thành ý kiến kiểm toán. Sự thành công của toàn bộ
cuộc kiểm toán phụ thuộc vào việc thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm
toán của kiểm toán viên. Nếu kiểm toán viên không thu thập đầy đủ và đánh
giá đúng các bằng chứng kiểm toán thích hợp thì kiểm toán viên đó khó có
Phạm Hồng Nhung Kiểm toán 46A
5
Khoá luận tốt nghiệp
thể đưa ra một nhận xét xác đáng về đối tượng kiểm toán. Đối với các doanh
nghiệp kiểm toán độc lập hoặc cơ quan kiểm toán Nhà nước, cơ quan pháp lý,
bằng chứng kiểm toán còn là cơ sở để giám sát đánh giá chất lượng hoạt động
của kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán.
Báo cáo kiểm toán cần cung cấp những thông tin đáng tin cậy cho
người sử dụng. Kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm về tính trung thực và
khách quan của báo cáo tài chính đưa ra. Do vậy, kiểm toán viên cần thu thập
bằng chứng kiểm toán đảm bảo tính thích hợp và đầy đủ.
1.1.3.2. Tính chất
Bằng chứng kiểm toán có ảnh hưởng trực tiếp đến kết luận kiểm toán,
do vậy kiểm toán viên cần thu thập các bằng chứng kiểm toán có tính thuyết
phục. Tính thuyết phục được quyết định bởi hai tính chất quan trọng: Tính
hiệu lực và tính đầy đủ.
• Tính hiệu lực:
Hiệu lực là khái niệm dùng để chỉ độ tin cậy hay chất lượng của bằng
chứng kiểm toán. Yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu lực của bằng chứng kiểm
toán:
Loại hình hay dạng của bằng chứng: Bằng chứng thu thập dưới dạng
toán ở mức độ có tính chất thuyết phục hơn là có tính chất chắc chắn. Những
yếu tố ảnh hưởng đến tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán gồm:
Tính hiệu lực của bằng chứng: Bằng chứng có độ tin cậy càng thấp thì
càng cần thu thập nhiều. Một số ít các bằng chứng kiểm toán có độ tin cậy
thấp thì chưa đủ để có thể nhận định một cách xác đáng về đối tượng kiểm
toán cụ thể.
Tính trọng yếu: Trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 có định
nghĩa: “Trọng yếu là thuật ngữ dùng để chỉ tầm quan trọng của một thông tin
hay một số liệu trong báo cáo tài chính. Thông tin được coi là trọng yếu nếu
thiếu thông tin đó và thiếu chính xác thông tin sẽ ảnh hưởng trọng yếu đến
các quyết định kinh tế của những người sử dụng báo cáo tài chính”. Như vậy,
Phạm Hồng Nhung Kiểm toán 46A
7
Khoá luận tốt nghiệp
đối tượng cụ thể được kiểm toán càng trọng yếu thì số lượng bằng chứng
kiểm toán cần thu thập càng nhiều để từ đó kiểm toán viên có thể đưa ra ý
kiến xác đáng về đối tượng kiểm toán. Hơn thế nữa, mục tiêu của kiểm toán
tài chính là khẳng định báo cáo tài chính được trình bày trung thực trên mọi
khía cạnh trọng yếu. Do vậy, kiểm toán viên phải phát hiện mọi sai phạm có
ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính. Sai phạm được xem là trọng yếu
thường có giá trị lớn. Nếu sai sót xảy ra ở những đối tượng này thường có thể
ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính. Còn đối với những khoản mục
quy mô nhỏ nếu có sai phạm thì khó ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài
chính. Việc ước lượng tính trọng yếu ban đầu thường mang tính xét đoán
nghề nghiệp. Tính trọng yếu mang tính tương đối gắn liền với quy mô của
khách hàng.
Mức độ rủi ro: Trong chuẩn mực kiểm toán quốc tế IAG 25 có đưa ro
khái niệm rủi ro kiểm toán: “Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà kiểm toán
viên có thể mắc phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng về các thông
tin tài chính và đó là các sai sót nghiêm trọng. Những đối tượng cụ thể
thúc; hoặc có thể rất lâu sau khi kỳ kế toán đó kết thúc.
1.2. Các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán
Trong quá trình thu thập bằng chứng kiểm toán, kiểm toán viên áp
dụng các phương pháp kỹ thuật để thu thập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ
và thích hợp và tiến hành đánh giá chúng.
Kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán là các thủ tục, biện pháp tác
nghiệp mà kiểm toán viên tiến hành nhằm thu được các bằng chứng kiểm toán
đầy đủ và có hiệu lực.
Các phương pháp kỹ thuật thường được vận dụng trong kiểm toán báo
cáo tài chính gồm: Kiểm kê, quan sát, điều tra, lấy xác nhận, xác minh tài
liệu, tính toán và phân tích.
1.2.1. Kiểm tra vật chất (kiểm kê)
Phạm Hồng Nhung Kiểm toán 46A
9
Khoá luận tốt nghiệp
Kiểm tra vật chất là quá trình kiểm tra tại chỗ hay tham gia kiểm kê các
loại tài sản của doanh nghiệp. Kiểm tra vật chất thường áp dụng đối với các
loại tài sản cụ thể như: Tài sản cố định hữu hình, hàng tồn kho, tiền mặt và
các giấy tờ thanh toán có giá trị.
Kiểm toán viên có trách nhiệm quan sát việc kiểm tra vật chất của
khách hàng. Trong quá trình thực hiện kỹ thuật kiểm kê, kiểm toán viên cần
đánh giá tính tin cậy của thủ tục kiểm kê mà ban quản lý áp dụng, từ đó đánh
giá tính tin cậy của kết quả kiểm kê.
Trong quá trình quan sát vật chất, kiểm toán viên cần xem xét đến các
thủ tục kiểm tra chi tiết như: Quan sát các nhân viên của khách hàng, hàng tồn
kho có được đánh dấu hợp lý, tiền mặt được phân loại hợp lý, có những khẳng
định về hàng tồn kho, tài sản hay tiền mặt đã kiểm kê được đánh dấu riêng
tránh nhầm lẫn với những tài sản chưa được kiểm kê.
Kỹ thuật kiểm kê có những ưu điểm sau: Nó cung cấp các bằng chứng
có độ tin cậy cao nhất vì đó là quá trình xác minh sự hiện hữu của tài sản
chỉ của kiểm toán viên. Thường thì đơn vị được kiểm toán có thể gửi thư nhờ
xác nhận đến người thứ ba theo yêu cầu của kiểm toán viên, nhưng trả lời vẫn
phải gửi trực tiếp về địa chỉ của kiểm toán viên và kiểm toán viên phải kiểm
soát được toàn bộ việc gửi và nhận các xác nhận.
Việc gửi thư xác nhận cần được thực hiện trước hoặc trong cuộc kiểm
toán hàng năm của Công ty kiểm toán nhằm thực hiện theo đúng tiến độ của
cuộc kiểm toán. Nếu gửi thư xác nhận lần đầu mà không nhận được thư phúc
đáp thì kiểm toán viên có thể yêu cầu đơn vị được kiểm toán gửi thư xác nhận
lần thứ hai và lần thứ ba nếu khoản mục cần xác nhận là quan trọng.
Kỹ thuật xác nhận được áp dụng trong hầu hết các cuộc kiểm toán và
thường được sử dụng khi muốn xác minh về số dư các tài khoản tiền, tài
khoản phải thu, tài khoản phải trả.
Phạm Hồng Nhung Kiểm toán 46A
11
Khoá luận tốt nghiệp
Ưu điểm: Bằng chứng sẽ có độ tin cậy cao nếu kiểm toán viên thực
hiện theo đúng quy trình và đảm bảo thông tin phải được xác nhận theo yêu
cầu của kiểm toán viên, sự xác nhận phải được thực hiện bằng văn bản, sự
độc lập của người xác nhận thông tin, kiểm toán viên phải kiểm soát được
toàn bộ quá trình gửi thư xác nhận.
Hạn chế: Chi phí thực hiện khá lớn, do vậy phạm vi áp dụng tương đối
giới hạn, đặc biệt là đối với đơn vị được kiểm toán có quy mô rộng, quan hệ
rộng, đa quốc gia…
Gửi thư xác nhận có thể áp dụng theo một trong hai hình thức: Gửi thư
xác nhận dạng khẳng định và gửi thư xác nhận dạng phủ định.
Gửi thư xác nhận dạng khẳng định: Kiểm toán viên yêu cầu người xác
nhận gửi thư phản hồi cho tất cả các thư xác nhận dù thực tế có trùng khớp
với thông tin mà kiểm toán viên quan tâm hay không.
Gửi thư xác nhận dạng phủ định: Kiểm toán viên chỉ yêu cầu người
xác nhận gửi thư phản hồi khi có sai khác giữa thực tế với thông tin kiểm toán
trình kiểm tra về tài sản như các trái phiếu có giá, tiền mặt…kết hợp với quá
trình kiểm tra chứng từ như chi phiếu và chứng từ bán hàng…Đối với tài liệu
được kiểm toán là một hoá đơn mua hàng, không có giá trị thanh toán thì bằng
chứng kiểm toán đó là một tài liệu chứng minh. Còn đối với trái phiếu khi
chưa được đăng ký, nó là một chứng từ, sau khi có chữ ký nó sẽ là một tài sản,
sau khi thanh toán nó là một chứng từ.
Tóm lại, kiểm tra vật chất quan tâm đến tính tài sản, tính có giá trị của
nó, còn xác minh tài liệu lại quan tâm đến tính tuân thủ.
1.2.4. Quan sát
Khái niệm: Quan sát là phương pháp được sử dụng để đánh giá một
thực trạng hay hoạt động của đơn vị được kiểm toán.
Ví dụ: Kiểm toán viên có thể đi xem xét đơn vị được kiểm toán xem ấn
tượng chung về máy móc thiết bị của đơn vị, quan sát tính cũ mới cũng như
Phạm Hồng Nhung Kiểm toán 46A
13
Khoá luận tốt nghiệp
sự vận hành của máy móc hay việc quan sát các cá nhân thực hiện nhiệm vụ
để đánh giá về thực tế hoạt động của đơn vị…
Kỹ thuật quan sát là phương pháp cần thiết giúp kiểm toán viên đánh
giá độ tin cậy vào những thông tin mà khách hàng cung cấp.
Kỹ thuật khá hữu ích trong nhiều phần hành của quá trình kiểm toán,
bằng chứng thu được thường khá đáng tin cậy. Bằng chứng thu được từ kỹ
thuật này thường chưa thể hiện tính đầy đủ nên cần đi kèm các kỹ thuật khác.
Kỹ thuật này chỉ cung cấp bằng chứng về phương pháp thực hiện công việc ở
thời điểm quan sát, không chắc chắn có được thực hiện ở thời điểm khác hay
không.
1.2.5. Phỏng vấn
Khái niệm: Phỏng vấn là quá trình kiểm toán viên thu thập thông tin
bằng văn bản hay bằng lời nói qua việc thẩm vấn những người hiểu biết về
vấn đề kiểm toán viên quan tâm. Ví dụ, kiểm toán viên thẩm vấn khách hàng
kiểm toán phục vụ cho kiểm toán năm hiện hành và các cuộc kiểm toán về
sau.
Ưu điểm: Kỹ thuật này giúp kiểm toán viên thu thập được các bằng
chứng chưa có nhằm thu thập những thông tin phản hồi để củng cố luận cứ
của kiểm toán viên.
Nhược điểm: Độ tin cậy của bằng chứng thu thập qua phỏng vấn không
cao do đối tượng được phỏng vấn chủ yếu là người trong đơn vị được kiểm
toán nên thiếu tính khách quan và chất lượng cuộc phỏng vấn cũng phụ thuộc
vào trình độ và sự hiểu biết của người được hỏi. Do vậy, bằng chứng thu thập
nên được dùng để củng cố cho các bằng chứng khác, hay để thu thập các
thông tin phản hồi.
1.2.6. Tính toán
Khái niệm: Tính toán là quá trình kiểm toán viên kiểm tra chính xác về
mặt số học trong việc tính toán và ghi sổ.
Phạm Hồng Nhung Kiểm toán 46A
15
Khoá luận tốt nghiệp
Ví dụ: Đối với kiểm tra tính chính xác các hoá đơn, phiếu nhập kho,
phiếu xuất kho…kiểm toán viên sẽ xem xét tính chính xác bằng cách tính lại.
Đối với kiểm tra tính chính xác của việc ghi sổ, kiểm toán viên đối chiếu các
chứng từ có liên quan để xem cùng một thông tin được phản ánh trên chứng
từ khác nhau, ở những nơi khác nhau.
Kỹ thuật này thường chỉ quan tâm đến tính chính xác về số học, chưa
chú ý đến sự phù hợp của phương pháp tính được sử dụng. Do vậy, kỹ thuật
này thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp kỹ thuật khác như xác
minh tài liệu, kiểm tra vật chất, phân tích…trong quá trình thu thập bằng
chứng kiểm toán.
Ưu điểm: Kỹ thuật này cung cấp các bằng chứng có độ tin cậy cao xét
về mặt số học.
Nhược điểm: Các phép tính và phân bổ đôi khi khá phức tạp và tốn thời
khoản, nghiệp vụ. Loại phân tích này thường được kiểm toán viên sử dụng
qua so sánh thông tin tài chính kỳ này với thông tin tài chính kỳ trước hay
so sánh thông tin tài chính giữa các tháng trong kỳ hoặc so sánh số dư của
các tài khoản cần xem xét giữa các kỳ, từ đó phát hiện những biến động
bất thường để kiểm toán viên tiến hành tập trung kiểm tra chi tiết.
• Phân tích tỷ suất: Là cách thức so sánh các số dư tài khoản hoặc các loại
hình nghiệp vụ. Thông qua phân tích tỷ suất sẽ giúp so sánh tính hợp lý về
tình hình tài chính của một Công ty nào đó với một Công ty khác trong
cùng một tập đoàn hay với ngành đó.
Kiểm tra tính hợp lý kết hợp với các dữ liệu hoạt động, dữ liệu tài
chính và được lập để kiểm tra sự tương ứng giữa hai loại dữ liệu này. Do vậy,
kiểm tra tính hợp lý có thể cho thấy mức độ chính xác hay độ tin cậy của bằng
chứng thu thập được là cao nhất. Phân tích tỷ suất thì dựa trên mối quan hệ
giữa các báo cáo khác nhau có mối liên quan nên việc phân tích các tỷ suất
cũng có thể cung cấp các thông tin có giá trị. Phân tích xu hướng dùng nhiều
vào việc xem xét các dữ liệu năm trước nên nó có độ tin cậy thấp nhất.
Phạm Hồng Nhung Kiểm toán 46A
17
Khoá luận tốt nghiệp
Việc sử dụng kỹ thuật phân tích này để thu thập bằng chứng kiểm toán,
kiểm toán viên cần giải quyết các vấn đề sau:
Chọn loại hình phân tích phù hợp: Các loại hình phân tích
thường áp dụng hiệu quả đối với các tài khoản trong báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh và các nghiệp vụ liên quan hơn là đối
với các tài khoản trong bảng cân đối kế toán. Các chỉ tiêu trong
báo cáo kết quả kinh doanh dễ dự đoán hơn, trong khi đó tài
khoản trong bảng cân đối kế toán thường kết hợp nhiều loại hình
phức tạp.Thường chỉ có phân tích tỷ suất là có hiệu quả đối với
khoản mục trong bảng cân đối kế toán.
Đưa ra mô hình để dự đoán các số liệu tài chính hoặc những xu
chỉ tiêu đồng nhất về nội dung và phương pháp tính. Đối với khoản mục hay
chỉ tiêu trọng yếu, kiểm toán viên không thể chỉ sử dụng kỹ thuật phân tích
thông thường mà còn cần kết hợp với các kỹ thuật khác để thu được bằng
chứng thích hợp. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém, cần thận trọng khi
phân tích và nên kết hợp với các kỹ thuật khác. Kiểm toán viên cũng cần có
những hiểu biết về mức chuẩn ngành kinh doanh của đơn vị được kiểm toán.
1.3. Một số bằng chứng kiểm toán đặc biệt cần thu thập
Bằng chứng kiểm toán cần thu thập thêm như: Ý kiến chuyên gia, giải
trình của nhà quản lý, sử dụng tài liệu của kiểm toán viên nội bộ, của kiểm
toán viên khác hay bằng chứng về các bên hữu quan.
Khi kiểm toán viên không hiểu sâu sắc về một vấn đề mang tính
chuyên nghiệp như đánh giá giá trị tài sản của các công trình nghệ thuật, giá
trị khoáng sản…kiểm toán viên có thể tham khảo ý kiến chuyên gia làm bằng
chứng kiểm toán.
Trong chuẩn mực và nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế có quy định:
“Kiểm toán viên phải thu thập được các bằng chứng về sự thừa nhận trách
nhiệm của các nhà quản lý đối với việc lập báo cáo tài chính thích hợp và các
Phạm Hồng Nhung Kiểm toán 46A
19
Khoá luận tốt nghiệp
nhà quản lý đã phê chuẩn các báo cáo tài chính đó…bằng cách thu thập các
văn bản giải trình của nhà quản lý hoặc các báo cáo kiểm toán đã được ký”.
Tuy nhiên, kiểm toán viên vẫn phải chịu trách nhiệm về ý kiến kết luận kiểm
toán đưa ra.
Kiểm toán viên cũng có thể sử dụng tư liệu của kiểm toán nội bộ trong
đơn vị được kiểm toán làm bằng chứng nếu xét thấy đủ độ tin cậy.
Trường hợp khách thể kiểm toán được kiểm toán bởi Công ty kiểm
toán khác trong năm trước, kiểm toán viên có thể sử dụng tư liệu của kiểm
toán viên độc lập khác.
Ngoài ra, kiểm toán viên cũng có thể sử dụng bằng chứng về các bên
các tài liệu liên quan đến cuộc kiểm toán. Phạm vi và nội dung của từng hồ sơ
kiểm toán do kiểm toán viên xác định. Hồ sơ kiểm toán chỉ cần đảm bảo đầy
đủ để làm cơ sở cho kiểm toán viên đưa ra ý kiến kết luận, bảo đảm cho kiểm
toán viên khác và những người không tham gia vào cuộc kiểm toán như chủ
nhiệm kiểm toán kiểm tra, soát xét công việc kiểm toán hiểu được công việc
kiểm toán và cơ sở ý kiến của kiểm toán viên. Cụ thể, hồ sơ kiểm toán có
những tác dụng sau:
• Là căn cứ để lập hồ sơ kiểm toán: Muốn lập kế hoạch kiểm toán đầy đủ
cho năm hiện hành, kiểm toán viên cần tham khảo thông tin có sẵn như
các thông tin mô tả về hệ thống kiểm soát nội bộ, hay các kết quả kiểm
toán năm trước trong hồ sơ kiểm toán.
• Hồ sơ kiểm toán ghi chép lại những bằng chứng thu được và ghi chép
kết quả của việc thực hiện thử nghiệm: Hồ sơ kiểm toán sẽ chứng minh
cuộc kiểm toán đã tiến hành theo đúng chuẩn mực chưa. Hồ sơ kiểm
toán giúp kiểm toán viên chứng minh với cơ quan pháp luật là cuộc
kiểm toán được hoạch định và giám sát đầy đủ, thu thập đầy đủ các
bằng chứng thích hợp và báo cáo kiểm toán cũng đánh giá đúng đắn
các kết quả kiểm toán.
Phạm Hồng Nhung Kiểm toán 46A
21
Khoá luận tốt nghiệp
• Là dữ kiện cho việc lập báo cáo kiểm toán: Hồ sơ kiểm toán lưu giữ
toàn bộ bằng chứng kiểm toán thích hợp làm cơ sở cho ý kiến kết luận
của kiểm toán viên từ đó có tác dụng minh chứng cho phạm vi kiểm
toán đúng đắn và tính trung thực của báo cáo tài chính.
• Là căn cứ để chủ nhiệm kiểm toán, Ban Giám đốc kiểm tra, kiểm soát:
Hồ sơ kiểm toán sẽ giúp cho ban lãnh đạo Công ty kiểm toán kiểm tra
tính đầy đủ của những bằng chứng thích hợp làm cơ sở cho kết luận
kiểm toán.
Trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 230 có đề cập: Hồ sơ kiểm
những thay đổi, về sự thay đổi hệ thống kiểm toán và hệ thống kiểm soát nội
bộ của khách hàng, về đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và các đánh
giá khác của kiểm toán viên, về những công việc và kết luận của kiểm toán
viên nội bộ; Các sự kiện phát sinh sau khi kết thúc niên độ kế toán; Những
ghi chép về nội dung, chương trình và phạm vi những thủ tục kiểm toán được
thực hiện và kết quả thu được; Những phân tích của kiểm toán viên về các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh và số dư các tài khoản; Phân tích về các tỷ lệ và
xu hướng quan trọng đối với tình hình hoạt động của khách hàng; Các chi tiếp
về thủ tục kiểm toán mà kiểm toán viên khác thực hiện khi kiểm toán báo cáo
tài chính của đơn vị cấp dưới; Bản giải trình của Giám đốc đơn vị được kiểm
toán; Các kết luận của kiểm toán viên về các vấn đề trọng yếu của cuộc kiểm
toán gồm những vấn đề bất thường cùng với những thủ tục mà kiểm toán viên
đã thực hiện để giải quyết vấn đề đó; Và các tài liệu khác.
Hồ sơ kiểm toán được coi là tài sản của Công ty kiểm toán và Công ty
kiểm toán có quyền lưu trữ hồ sơ kiểm toán.
Phạm Hồng Nhung Kiểm toán 46A
23
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG KỸ THUẬT THU THẬP
BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN
VÀ TƯ VẤN (A&C)
2.1. Tổng quan về Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn (A&C)
2.1.1. Lịch sử hình thành Công ty
Công ty Kiểm toán và Tư vấn (A&C) là Doanh nghiệp Nhà nước được
thành lập theo Quyết định số 140 TC/QĐ/TCCB ngày 26 tháng 3 năm 1992,
Quyết định số 107 TC/QĐ/TCCB ngày 13 tháng 02 năm 1995 của Bộ trưởng
Bộ tài chính và hoạt động theo giấy phép kinh doanh số 102218 ngày 13
tháng 3 năm 1995 do Uỷ ban Kế hoạch Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Khi mới
ra đời, A&C đã được coi là một Công ty kiểm toán lớn ở Việt Nam được
nhiều khách hàng lớn tín nhiệm.
đa dạng hơn nhằm đáp ứng cho nhu cầu của thị trường. A&C tập trung thực
hiện các dịch vụ:
• Kiểm toán Báo cáo tài chính - Kiểm toán hoạt động - Kiểm toán tuân
thủ - Kiểm toán nội bộ - Kiểm toán thông tin tài chính... là chủ yếu tại A&C
• Kiểm toán: Báo cáo quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản - Báo cáo
quyết toán Dự án - Báo cáo quyết toán công trình - Báo cáo quyết toán vốn
đầu tư dự án.
Phạm Hồng Nhung Kiểm toán 46A
25