TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Đề bài: Phân tích luận điểm của Hồ Chí Minh: “ Nước độc lập mà người dân
không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập không có ý nghĩa”. Làm rõ ý nghĩa
của luận điểm đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
Họ tên :
14
Vũ Việt Hà
MSV:
11131102
Lớp :
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Hà Nội – 2014
MỤC LỤC
I. Lời nói đầu ……………………………………….……….. 1
II. Nội dung ……………………………………………….... 3
1, Độc lập dân tộc theo con đường cách mạng vô sản là tiền đề của hạnh phúc,
tự do ……………………………………………………….....… 5
no, tự do, hạnh phúc, con người được phát triển toàn diện, hạnh phúc; con người
được phát triển toàn diện, có năng lực làm chủ. Độc lập tự do đòi hỏi phải xóa bỏ
tình trạng áp bức bóc lột, nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác về kinh tế,
chính trị và tinh thần. Vì vậy, để đảm bảo độc lập dân tộc thực sự và giữ vững
thành quả ấy, cả nước phải tiến lên chủ nghĩa xã hội, đó là quy luật của thời đại,
đáp ứng nguyện vọng ngàn đời của nhân dân ta là độc lập, tự do, ấm no, hạnh
phúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “chúng ta tranh được tự do độc lập rồi mà dân
cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập thì tự do, độc lập cũng không làm gì”. Để
giữ vững độc lập, tự chủ, để đảm bảo cho nhân dân một cuộc sống ấm no hạnh
phúc, chúng ta không có con đường nào khác là phải tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Với ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc không chỉ mang lại độc lập thống nhất cho tổ quốc, mà trong từng bước
phải mang lại tự do, hạnh phúc cho toàn dân.
NỘI DUNG
Bàn về vấn đề dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh có những bước phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác – Lênin. Nếu như C.Mác bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống
chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc,
thì Hồ Chí Minh tập trung bàn về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân; C.Mác
và V.I.Lênin bàn nhiều về đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản thì Hồ Chí Minh
bàn nhiều về đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Mác – Ănghen đã nêu ra
những quan điểm có tính chất phương pháp luận để giải quyết các vấn đề dân tộc:
nguồn gốc, đặc trưng dân tộc, quan hệ giai cấp dân tộc để xác định quan điểm, thái
độ, phương pháp, thách thức của giai cấp công nhân và Đảng cộng sản quốc tế để
giải quyết vấn đề dân tộc. Sau đó, Lênin chỉ ra xu hướng phát triển khách quan của
dân tộc là độc lập dân tộc và liên kết dân tộc; xây dựng cương lĩnh dân tộc tạo cơ
sở cho đường lối, chính sách dân tộc của các Đảng cộng sản trong thời kì đế quốc
dân tộc. Người quyết tâm thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập
dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Trên diễn đàn Đại hội toàn quốc lần thứ
XVIII Đảng Xã hội Pháp (12-1920), Hồ Chí Minh đã yêu cầu Đảng phải tuyên
truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc địa. Năm 1923, Hồ Chí Minh
viết: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không
phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên
quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc,
nói tóm lại là nền cộng hòa thế giới chân chính, xóa bỏ những biên giới tư bản chủ
nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cản những người lao động
trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau”. Hồ Chí Minh không bao giờ chấp
nhận độc lập dân tộc dưới chế độ quân chủ chuyên chế, càng không chấp nhận chế
dộ thực dân. Bởi vì, đó là chế độ mà người dân bị đầu độc về tinh thần lẫn về thể
xác, bị bịt mồm và bị giam hãm. Phát biểu tại Đại hội XVIII Đảng Xã hội Pháp,
Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng “thực dân Pháp đã dùng lưỡi lê để chinh phục đất
nước chúng tôi. Từ đó chúng tôi không những bị áp bức bóc lột một cách nhục nhã,
mà còn bị hành hạ và đầu độc bằng thuốc phiện và rượu một cách thê thảm. Đó là
một chế độ tàn bạo mà bọn ăn cướp đã gây ra ở Đông Dương. Nhà tù nhiều hơn
trường học và lúc nào cũng chật ních người. Bất kỳ người bản xứ nào có tư tưởng
xã hội chủ nghĩa cũng đều bị bắt và đôi khi bị giết mà không cần xét xử... Với một
nền “công lý” ở Đông Dương như vậy, một sự phân biệt đối xử không có những
bảo đảm về quyền con người như vậy, một kiểu sống nô lệ như vậy, thì sẽ không có
gì hết”. Hơn ai hết, Người ý thức rất rõ không có độc lập là sống kiếp ngựa trâu, thì
“chết tự do còn hơn sống nô lệ”. Vì vậy, Người nung nấu và truyền quyết tâm cho
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải
giành kỳ được độc lập cho dân tộc”.
Độc lập dân tộc không phải là điều mới mẻ trong lịch sử dân tộc và lịch sử thế
giới. Nhưng độc lập dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh lại hoàn toàn mới, vì đó là
một kiểu độc lập dân tộc được nâng lên một trình độ mới, một chất mới. Đối với
nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một
đời hạnh phúc. Chủ nghĩa xã hội là giải phóng nhân dân lao động khỏi nghèo nàn,
lạc hậu. Chủ nghĩa xã hội là một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một
xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm
nhiều thì hưởng nhiều, ai làm ít thì hưởng ít, không làm không hưởng. Hạnh phúc,
tự do theo quan điểm Hồ Chí Minh là người dân phải được hưởng đầy đủ đời sống
vật chất và tinh thần do chủ nghĩa xã hội đem lại.
2. Hạnh phúc, tự do là giá trị của độc lập dân tộc:
Theo Hồ Chí Minh, trong điều kiện nước thuộc địa như Việt Nam thì trước hết
phải đấu tranh giành độc lập dân tộc, nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng
hạnh phúc tự do thì đó vẫn là độc lập kiểu cũ, và vì vậy độc lập đó cũng chẳng có
nghĩa lý gì.
Chủ nghĩa xã hội trong quan niệm của Hồ Chí Minh không phải là câu trả lời
cho mong muốn chủ quan của con người theo quan niệm duy tâm, không tưởng,
mà là câu trả lời cho một sự vận động lịch sử hiện thực theo khái niệm duy vật phê
phán. Chủ nghĩa xã hội là một vấn đề hiện thực, xuất phát từ thực tiễn khách quan,
từ hiện thực vận động của lịch sử, từ đặc điểm Việt Nam, một nước vốn là thuộc
địa, nông nghiệp lạc hậu, khoa học kỹ thuật kém phát triển, tiến thẳng lên chủ
nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội trong
quan điểm Hồ Chí Minh không thể suy nghĩ chủ quan, giáo điều, nóng vội, duy ý
chí mà phải dựa trên cơ sở thực tiễn nước ta, đặc điểm thế giới và xu thế của thời
đại.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội nhằm làm cho nhân dân
lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no
và sống một đời hạnh phúc. Chủ nghĩa xã hội là giải phóng nhân dân lao động khỏi
nghèo nàn, lạc hậu. Chủ nghĩa xã hội là một xã hội không có chế độ người bóc lột
người, một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động,
ai làm nhiều thì hưởng nhiều, ai làm ít thì hưởng ít, không làm không hưởng
khi đời sống tinh thần, văn hóa phải đi trước “soi đường cho quốc dân đi; văn hóa
lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ”. Theo Hồ Chí Minh,
nhân tố nào biến nước Việt Nam lạc hậu thành một nước tiên tiến: “Có lẽ cần phải
để lên hàng đầu những cố gắng của chúng tôi nhằm phát triển văn hóa. Chủ nghĩa
thực dân đã kìm hãm nhân dân chúng tôi trong vòng ngu muội để chúng dễ áp bức.
Nền văn hóa nảy nở hiện thời là điều kiện cho nhân dân chúng tôi tiến bộ” (2).
Ngay khi còn phải tập trung vào nhiệm vụ hàng đầu là giành độc lập dân tộc, Hồ
Chí Minh đã nhìn thấu ý nghĩa và sức mạnh của văn hóa, của đời sống tinh thần.
Người cho rằng, con người cần phải có đời sống văn hóa tinh thần vì đó là lẽ sinh
tồn và mục đích cuộc sóng chúng ta. Sau này, trong kháng chiến ác liệt, Hồ Chí
Minh nhấn mạnh “không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo chỉ sợ
lòng dân không yên”.
Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ căn nguyên kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột
người do chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sinh ra, nhờ đó xoá bỏ cơ sở
kinh tế sinh ra ách áp bức con người về chính trị và sự nô dịch con người về tinh
thần, ý thức và tư tưởng. Chỉ với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc mới đạt tới mục
tiêu phục vụ lợi ích và quyền lực của mọi người lao động, làm cho mọi thành viên
của cộng đồng dân tộc trở thành người chủ thực sự, có cuộc sống vật chất ngày
càng đầy đủ và đời sống tinh thần ngày càng phong phú. Nó cũng bảo đảm cho dân
tộc vượt qua tình trạng đói nghèo, lạc hậu và tụt hậu trong tương quan với các dân
tộc khác trong thế giới và ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn để đạt tới sự bình
đẳng trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cộng đồng dân
tộc này với cộng đồng dân tộc khác. Toàn bộ khả năng và điều kiện bảo đảm chỉ có
thể được tìm thấy và giải quyết bằng con đường phát triển chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa xã hội là giai đoạn phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản về mặt giải
phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột đem lại cho con người hạnh phúc, tự do.
Vì vậy Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống.
Văn hóa là lối sống, là quyền con người, là cái chân, thiện, mỹ giữa người với
đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu,
chống chủ quan, bảo thủ, giáo điều, lười biếng, không chịu học tập cái mới … Đó
cũng là những trở lực đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trước tình hình hiện nay, mặc dù chủ nghĩa xã hội đang ở vào giai đoạn thoái
trào tuy nhiên nó vẫn là sự phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người và sự lựa
chọn đi theo con đườg xã hội cchủ nghĩa của Hồ Chí Minh và nhân dân là sự lựa
chọn duy nhất đúng đắn. Đất nước đang đứng trước những thử thách lớn lao của
thời đại, hoàn cảnh lịch sử đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải kiên định con đường
mục tiêu của mình và phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.
Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ
sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những
thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa
học công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện
đại. Theo sự khái quát của Đảng, thời kỳ quá độ đó là một quá trình cách mạng sâu
sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới. Có thể hiểu cái cũ ở đây
không chỉ là những tàn dư của xã hội tiền tư bản mà xã hội ta mới thoát ra mấy
chục năm qua, mà cái cũ ở đây còn là những yếu tố tư bản chủ nghĩa đang và sẽ
hiện diện trong đời sống kinh tế - xã hội. Đó là để tạo ra sự biến đổi về chất trên tất
cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự biến đổi về chất nghĩa là sự biến đổi mang
tính chất bản chất, căn bản, toàn diện khác với sự biến đổi về lượng, sự biến đổi
của từng bộ phận. Nghĩa là trong thời kỳ quá độ, ở nước ta sẽ diễn ra sự biến đổi
mang tính chất bản chất, căn bản và toàn diện ở tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội; và, quá trình đó phải diễn ra lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức
tổ chức kinh tế, xã hội đan xen. Đó là do xuất phát điểm của nước ta thấp và xã hội
ta cũng chưa trải qua sự phát triển của chủ nghĩa tư bản vì vậy, thời kỳ quá độ phải
diễn ra lâu dài là một tất yếu lịch sử. Đồng thời, với sự lâu dài đó, thời kỳ quá độ
tính tăng 3,4% so với năm 2011; công nghiệp tăng 4,8% so với năm 2011. Chỉ số
giá tiêu dùng năm 2012 tăng 6,81%. Đầu tư phát triển tăng 7% so với năm trước và
bằng 33,5% GDP. Xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng 18,3% (10). Kim ngạch xuất
khẩu có thể vượt qua mốc 100 tỷ USD, tỷ lệ kim ngạch xuất, nhập khẩu so với
GDP năm 2011 đã đạt xấp xỉ 170%, đứng thứ 5 thế giới. Vốn FDI tính từ 1988 đến
tháng 7-2012 đăng ký đạt trên 236 tỷ USD, thực hiện đạt trên 96,6 tỷ USD. Vốn
ODA từ 1993 đến nay cam kết đạt gần 80 tỷ USD, giải ngân đạt trên 35 tỷ USD
(11).
Nhìn chung, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá,
trong đó sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương
thực đã bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; sản phẩm công nghiệp phát triển
ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại, chất lượng được cải thiện, từng
bước nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo đảm cung cầu của nền kinh tế, giữ vững
thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu; chú trọng đầu tư phát triển
một số ngành công nghiệp mới, công nghệ cao; khu vực dịch vụ có tốc độ tăng
trưởng ổn định. Sự phục hồi và đạt mức tăng trưởng khá này đã tạo cơ sở vững
chắc để quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm (2011 - 2015) trong những năm sau đạt
kết quả vững chắc hơn.
Thành công nổi bật, đầy ấn tượng qua hơn 25 năm thực hiện đổi mới, đầu tiên
phải kể đến việc chúng ta đã giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế với phát triển văn hóa; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; các cơ hội
phát triển được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư, khuyến
khích, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân. GDP bình
quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái của Việt Nam năm 1988 chỉ đạt
86 USD/người/năm - là một trong những nước thấp nhất thế giới, nhưng đã tăng
gần như liên tục ở những năm sau đó, giai đoạn 2005 - 2010 đạt 1.168
USD/người/năm (12), nước ta đã ra khỏi nhóm nước thu thập thấp để trở thành
nước có thu nhập trung bình (thấp).
Tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 81% năm 1990 xuống còn khoảng
28% năm 2010; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đã giảm tương ứng từ 50%
xuống còn khoảng 20%. Công tác tiêm chủng mở rộng được thực hiện, nhiều dịch
bệnh hiểm nghèo trước đây đã được thanh toán hoặc khống chế. Tuổi thọ trung
bình của người dân từ 63 tuổi năm 1990 tăng lên 72 tuổi hiện nay.
Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng đều đặn và liên tục suốt mấy thập kỷ
qua: từ 0,561 năm 1985 lần lượt tăng lên 0,599 năm 1990; 0,647 năm 1995; 0,690
năm 2000; 0,715 năm 2005 và 0,725 năm 2007 (16). Nếu so với thứ bậc xếp hạng
GDP bình quân đầu người thì xếp hạng HDI của Việt Nam năm 2007 vượt lên 13
bậc: GDP bình quân đầu người xếp thứ 129 trên tổng số 182 nước được thống kê,
còn HDI thì xếp thứ 116/182. Điều đó chứng tỏ sự phát triển kinh tế - xã hội của
nước ta có xu hướng phục vụ sự phát triển con người, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội khá hơn một số nước đang phát triển có GDP bình quân đầu người cao
hơn Việt Nam. Như vậy, tổng quát nhất là chỉ số phát triển con người (HDI) của
nước ta đã đạt được ba sự vượt trội: chỉ số đã tăng lên qua các năm; thứ bậc về
HDI tăng lên qua các năm; chỉ số và thứ bậc về tuổi thọ và học vấn cao hơn chỉ số
về kinh tế.
Tóm lại, sau gần 30 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều
thành tựu to lớn, toàn diện. Cùng với tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô
được duy trì, các mặt: chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh được bảo đảm và ổn
định. Trong đó có những thành tựu rất đáng khích lệ về thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội gắn bó chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế, phát triển nguồn lao động và
chất lượng lao động, khoa học và công nghệ. Thành tựu đó ngày càng khẳng định
sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của đổi mới,
khích lệ, động viên nhân dân tiếp tục hưởng ứng, góp phần quan trọng vào việc giữ
vững ổn định chính trị - xã hội, tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện đất
nước với những bước tiến cao hơn. Thành tựu này được các nước trong khu vực
cũng như các đối tác có quan hệ với Việt Nam thừa nhận và xem đây là một thuận
nhân loại, đó là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Những mục
tiêu đó chính là hạnh phúc, là đỉnh cao giá trị nhân văn, văn hóa của loài người.
Nguồn tư liệu:
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Sự thật, T4, tr.283
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.10, tr.392.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr. 70 – 71.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr. 70.