Các biện pháp quản lý đào tạo nghề ở trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà đáp ứng yêu cầu thị trường lao động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh - Pdf 31

1

MỞ ĐẦU
1.

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhân lực là yếu tố then chốt đối với sự phát triển bền vững của đất

nước, vì vậy việc đầu tư để đào tạo một nguồn nhân lực có chất lượng luôn
được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Yêu cầu này đòi hỏi giáo dục
và đào tạo phải đổi mới và nâng cao chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng phát triển của Đất nước. Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa –
hiện đại hóa, để có nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu lao động có kỹ thuật cần
thiết phải có chiến lược đào tạo nghề. Việc xây dựng chiến lược đào tạo nghề
không chỉ đơn thuần là việc định hướng cho sự phát triển của một lĩnh vực mà
còn là yếu tố cấu thành góp phần thực hiện chiến lược phát triển giáo dục đã
đề ra.
Ở Việt Nam, đào tạo nghề có lịch sử phát triển trên 35 năm và đã góp
phần rất lớn vào sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước. Giáo dục nghề
nghiệp là một phân hệ của hệ thống giáo dục, có vị trí tiếp thu thành quả giáo
dục của phổ thông và tạo nguồn lao động trực tiếp cho xã hội. Luật giáo dục
năm 2005 đã chỉ rõ mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là: “Đào tạo người
lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo
đức, có lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức
khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội củng cố quốc phòng an ninh”.
Quyết định số 07/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 02/6/2006 của Bộ trưởng
Bộ Lao động thương binh và xã hội về “Quy hoạch mạng lưới trường cao
đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020” là một pháp lý giúp cho hệ thống nghề phát triển. Bởi vậy cho
đến nay cả nước có khoảng 135 trường cao đẳng nghề (trong đó có hơn 50

năng tư duy, sáng tạo và tính chủ động trong công việc. Trong khi đó, khoảng
cách giữa cung - cầu nhân lực ngày càng lớn, khiến cuộc đua giữa các doanh


3

nghiệp để tranh giành nguồn nhân lực chất lượng cao và tìm người lao động
theo đúng chuyên ngành còn nhiều bất cập.
Xác định được nhu cầu của xã hội nói chung cũng như trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh nói riêng, từ khi được thành lập, trường Cao đẳng Công nghệ Bắc
Hà, tỉnh Bắc Ninh đã có một số giải pháp trong công tác quản lý hoạt động
đào tạo nghề cũng như quản lý dạy học thực hành nghề. Tuy nhiên việc tổ
chức quản lý các hoạt động dạy học chưa thực sự có tính lý luận cao, chưa
mang tính hệ thống cụ thể. Điều đó đặt ra cho nhà trường phải xem xét một
cách tổng thể về việc tổ chức, quản lý đào tạo nghề, đặc biệt là thực hành
nghề cho học sinh. Vấn đề ở đây là quản lý dạy học nghề chưa thực sự phù
hợp với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong khi đó hiện
nay, Bắc Ninh đã vươn lên là tỉnh khá trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ,
tạo lập được những nền tảng kinh tế - xã hội để cơ bản trở thành tỉnh công
nghiệp vào năm 2015.
Gần 17 năm trôi qua, tăng trưởng bình quân đạt trên 14%, năm 2012 GDP
tính theo giá cố định tăng gấp 4, 5 lần; thu ngân sách ước đạt 6.500 tỷ đồng, gấp
28,5 lần; thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 2.500USD, gấp 11,2 lần; giá
trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) ước 28.000 tỷ đồng, gấp 42,4 lần;
kim ngạch xuất khẩu đạt 1.85 tỷ USD, gấp 69,5 lần so với năm 1997.
Dự kiến đến năm 2020, quy mô dân số toàn tỉnh 1,183 triệu người, năm
2030 là 1,443 triệu người. Giai đoạn 2011 - 2030 kinh tế giữ mức tăng trưởng
nhanh, ổn định, bình quân hàng năm khoảng 8 - 10%; thu nhập bình quân đạt
6.500 USD/người/năm (năm 2020) và lên từ 10.000 - 14.000 USD/người/năm
(năm 2030).

Đề xuất một số biện pháp quản lý đào tạo theo định hướng “Đào tạo

đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” của trường
Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh nhằm góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo của nhà trường.


5

3.

KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.

Khách thể nghiên cứu:

Hoạt động quản lý đào tạo nghề của trường Cao đẳng Công nghệ Bắc
Hà, tỉnh Bắc Ninh.
3.2.

Đối tượng nghiên cứu:

Các biện pháp quản lý đào tạo nghề ở trường Cao đẳng Công nghệ Bắc
Hà đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu những biện pháp quản lý đào tạo nghề bảo đảm tính đồng bộ với
nội dung, quá trình quản lý đào tạo của nhà trường và có tính thực tiễn thì
hiệu quả đào tạo nghề của nhà trường sẽ có chất lượng cao và đáp ứng tốt nhu
cầu của thị trường lao động trong tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU


6.3.

Các biện pháp quản lý đào tạo nghề được áp dụng cho Ban giám

hiệu và các cán bộ quản lý đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng Công nghệ Bắc
Hà thực hiện để đáp ứng thị trường lao động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1.

Các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về công
tác đào tạo nghề.
- Nghiên cứu lý luận về công tác đào tạo nghề và công tác quản lý
đào tạo nghề.
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến quản lý đào tạo nghề nhằm
phân tích, tổng hợp và khái quát hóa khung lý thuyết của đề tài luận văn.
7.2.

Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Quan sát sư phạm:
+ Dự giờ lên lớp của một số lớp thực hành nghề.
+ Tìm hiểu những điều kiện dạy học nghề ở trường;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý hoạt động dạy nghề
qua các báo cáo thực hiện nhiệm vụ dạy nghề của trường, của ngành giáo
dục đào tạo;
- Tọa đàm: Tổ chức hội thảo khoa học về “Đổi mới công tác quản lý
và giảng dạy trong đào tạo nghề nhằm đáp ứng thị trường lao động trên địa

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ THEO NHU CẦU
THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG CỦA CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1.TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐẾ NGHIÊN CỨU
1.1.1. Ở nước ngoài
Tùy thuộc vào điều kiện, trình độ phát triển kinh tế xã hội , khoa học
công nghệ và văn minh của mỗi quốc gia mà việc hình thành các hệ thống
Giáo dục – Đào tạo, hệ thống dịch vụ việc làm và hệ thống sử dụng quản lý
lao động xã hội ở mỗi nước khác nhau.
Vào giữa thế kỷ XIX (1984) do sự phát triển của công nghiệp, ở Pháp
xuất hiện nhiều cuốn sách viết về sự phát triển đa dạng của nghề nghiệp.
Người ta đã ý thức được rằng hệ thống nghề trong xã hội rất đa dạng và phức
tạp. Sự chuyên môn hóa được chú trọng. Do vậy, nội dung các cuốn sách
khẳng định tính cấp thiết phải hướng nghiệp trang bị cho thế hệ trẻ đi vào lao
động sản xuất, có nghề nghệp phù hợp với năng lực của mình và phù hợp với
yêu cầu của xã hội.
Đào tạo công nhân ở Hoa Kỳ được tiến hành trong các trường THPT
phân ban, các trường dạy nghề trung học, các cơ sở đào tạo sau trung học.
Học sinh tốt nghiệp được cấp bằng chứng nhận và chứng chỉ công nhân lành
nghề và có quyền được đi học tiếp theo. Thời gian đào tạo từ 2 đến 7 năm tùy
từng nghề.
Ở Đài Loan, học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở học tại trường trung
cấp nghề ra trường được công nhận là công nhân lành nghề. Học sinh tốt
nghiệp trung cấp nghề và công nhân lành nghề được học tiếp ở bậc Cao đẳng,
tốt nghiệp được cấp bằng kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật bậc cao được học
tiếp lên Đại học.


9



lịch sử, thực trạng ĐTN nói chung và ĐTN trong mối quan hệ hợp tác giữa
nhà trường với DN nói riêng còn những hạn chế cơ bản và cũng còn ít các
công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Trong những năm gần đây, do cơ chế và chính sách thông thoáng của
nước ta, đồng thời do nhu cầu lao động của thị trường hiện nay nên đã xuất
hiện một số công trình nghiên cứu có ý nghĩa tác động không nhỏ đến các cơ
sở ĐTN. Năm 1993, tác giả Phạm Khắc Vũ với luận văn tốt nghiệp “Cơ sở lý
luận và thực tiễn phương thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và cơ
sở sản xuất”. Năm 2004, trường Trung học kỹ thuật xây dựng Hà Nội có đề
tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố: “Các giải pháp gắn đào tạo với sử
dụng lao động của hệ thống dạy nghề Hà Nội trong lĩnh vực xây dựng” có nêu
ra các giải pháp thiết lập quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp. Năm
2007, Nguyễn Anh Tuấn có luận văn tốt nghiệp “ Hoàn thiện và đổi mới các
biện pháp quản lý đào tạo nghề của trường Trung học công nghiệp quốc
phòng trong giai đoạn hiện nay (từ năm 2007 đến năm 2015)” đi sâu nghiên
cứu về các biện pháp quản lý đào tạo nghề theo quan điểm hệ thống: Quản lý
mục tiêu, quản lý nội dung, quản lý phương pháp đào tạo nghề, quản lý kết
quả và chất lượng đào tạo nghề.
Trên đây là sự khái lược về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
có liên quan đến vấn đề chất lượng đào tạo nghề đặc biệt là chất lượng đào
tạo nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động để nâng cao chất
lượng đào tạo nghề. Tuy nhiên, vấn đề chất lượng đào tạo nghề ở trình độ
trung cấp, đặc biết trong xu thế hội nhập hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, ít
được quan tâm nghiên cứu. Vì vậy tôi chọn vấn đề: “Các biện pháp quản lý
đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà đáp ứng yêu cầu thị
trường lao động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” nghiên cứu làm luận văn
Thạc sĩ quản lý giáo dục cũng là nhằm mục đích ngày càng nâng cao chất




thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc
trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn.
Theo tác giả Nguyễn Văn Bình: Quản lý là một nghệ thuật đạt được
những mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ
huy hoạt động của những người khác.
Nhìn chung, khái niệm quản lý đều phản ánh một dạng lao động trí tuệ
của con người có chức năng bảo đảm và khuyến khích những nỗ lực của
những người khác để thực hiện thành công công việc nhất định. Quản lý là
công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác cùng
chung một tổ chức... Quan niệm hiện đại về quản lý thừa nhận đó là toàn bộ
các hoạt động huy động, tổ chức, thực thi các nguồn lực vật chất và tinh thần,
sử dụng chúng nhằm tác động và gây ảnh hưởng tích cực đến những người
khác để đạt được những mục tiêu của tổ chức hay cộng đồng.
Hình 1.1. Sơ đồ của khái niệm quản lý

Chủ thể
quản lý

Đối tượng
quản lý

Mục tiêu
quản lý

Khách thể quản lý
Từ những điểm chung của các quan niệm trên có thể hiểu:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ
hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của

hợp các cơ sở phân bố trên địa bàn dân cư. Đa số các nguồn và tác giả tuy
diễn đạt khác nhau song căn bản đều hiểu khái niệm quản lý giáo dục tương
tự như trên.


14

Từ việc phân tích các khái niệm trên và quan điểm tiếp cận khác nhau
về quản lý, chúng ta hiểu rằng: Quản lý là hoạt động có ý thức có chủ thể
quản lý nhằm điều khiển tác động lên đối tượng, khách thể quản lý để đạt
được mục tiêu của quản lý.
Như vậy, quản lý trở thành nhân tố của sự phát triển xã hội. Quản lý trở
thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và
liên quan đến con người mà quản lý trong giáo dục và đào tạo là một nhiệm
vụ quan trọng. Quản lý có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của
xã hội tùy theo trình độ quản lý cao hay thấp.
1.2.2. Quản lý nhà trường và quản lý dạy học
Nhiều người giải thích quản lý nhà trường (quản lý trường học) là quản
lý giáo dục ở cấp vi mô, tức là thực hiện toàn bộ những nhiệm vụ quản lý giáo
dục tại cơ sở giáo dục, trong phạm vi cơ sở giáo dục.
Theo Trần Kiểm, quản lý trường học là hệ thống những tác động tự
giáo (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ
thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ
học sinh, và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện
có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường (2006).
Trong luận văn này chúng tôi tán thành cách hiểu trên nhưng không
phân biệt các cấp vĩ mô và vi mô, bởi vì trong quản lý nhà trường thì các chủ
thể quản lý vẫn là mọi cấp quản lý từ cao xuống thấp, chẳng hạn Chính phủ
cũng là chủ thể quản lý nhà trường chú không riêng Hiệu trưởng mới là chủ
thể quản lý. Chúng tôi sử dụng quan niệm của Đặng Thành Hưng (Giáo trình

Khái niệm nghề của Nga được định nghĩa là một loại hoạt động lao
động đòi hỏi có đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sống.
Khái niệm nghề của Pháp được định nghĩa là một loại hoạt động có thói
quen và kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống.


16

Ở Đức, nghề được định nghĩa là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một
lĩnh vực lao động nhất định, đòi hỏi phải được đào tạo ở một trình độ nào đó.
Từ điển Tiếng Việt (năm 1998) đưa ra định nghĩa “Nghề là công việc
chuyên môn làm, theo sự phân công của xã hội”.
Như vậy, qua các khái niệm trên, chúng ta đều hiểu rằng: Nghề là một
dạng lao động đòi hỏi con người phải trải qua một quá trình đào tạo chuyên
biệt để có những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nhất định. Nhờ quá
trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo ra sản phẩm để thỏa mãn
những nhu cầu của cá nhân và xã hội.
∗ Đào tạo nghề:
ĐTN thực chất là nhằm phát triển nguồn nhân lực. Hiện nay các cơ sở
giáo dục nghề nghiệp đào tạo ra hai loại hình cơ bản công nhân kỹ thuật và
nhân viên nghiệp vụ. Sản phẩm đào tạo là nhân cách hay nói cách khác là
phẩm chất và năng lực của người lao động ở một tiêu chuẩn quy định của
nghề đào tạo.
Như vậy, ĐTN là quá trình truyền thụ và lĩnh hội một hệ thống tri thức,
kỹ năng, thái độ nghề nghiệp nhất định đã được khái quát hóa trong nghề đào
tạo; là quá trình rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo, thái độ và năng lực nghề
nghiệp ở người học để hình thành nhân cách nghề nghiệp. Quá trình này được
thực hiện chủ yếu thông qua việc giảng dạy theo chuẩn mực của các ngành
đào tạo.
Quá trình dạy học trong giáo dục và đào tạo nói chung và trong ĐTN

khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định
chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo
dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội” . Mục
tiêu của chiến lược phát triển giáo dục 2010-2015 cho giáo dục nghề nghiệp
là:


18

Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế và
chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào
tạo. Xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực cho các
ngành, lĩnh vực mũi nhọn; đồng thời chú trọng đào tạo nghề cho nông dân,
nhất là đối với những người thuộc diện thu hồi đất; nâng cao tỷ lệ lao động
qua đào tạo. Quan tâm hơn tới phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng sâu, vùng
xa, vùng khó khăn. Bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục; thực hiện tốt
chính sách ưu đãi, hỗ trợ người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, học sinh
giỏi, học sinh nghèo vượt khó, học sinh khuyết tật, giáo viên công tác ở vùng
sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn.
Hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội, trong đó chú trọng phát triển đào tạo nghề ngắn hạn và
đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ có trình độ
cao dựa trên nên học vấn trung học phổ thông hoặc trung học chuyên nghiệp.
Luật giáo dục năm 2005, điều 33 quy định về mục tiêu của giáo dục
nghề nghiệp như sau: “Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người
lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo
đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật tác phong công nghiệp, có sức
khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm được việc làm,
tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng an ninh”.

quan và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để người học bước vào cuộc sống và
lao động. Để thực hiện được mục đích giáo dục nghề nghiệp nói riêng và thực
hiện cấc nhiệm vụ dạy học nói chung, trong thực hành nghề cũng phải bảo
đảm các yêu cầu như:
- Nội dung dạy học phải phù hợp với mục tiêu đào tạo. Mục tiêu đào
tạo nghề là đào tạo nguồn nhân lực lao động có kỹ thuật, nội dung dạy học


20

phải đảm bảo tính toàn diện, tính hệ thống, liên tục giữa các môn học, tỷ lệ
giữa lý thuyết và thực hành; kỹ năng, kỹ xảo cần có của ngành đào tạo.
- Nội dung dạy học phải đảm bảo tính cân đối và toàn diện giữa các
mặt: Thể hiện ở chỗ bên cạnh việc cung cấp kiến thức kỹ năng, kỹ xảo cần coi
trọng việc giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức.
- Nội dung đào tạo phải gắn liền với thực tế sản xuất.
- Nội dung dạy học phải đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại phù
hợp với trình độ người học.
1.3.3. Phương pháp đào tạo nghề
Điều 26 khoản 1 Luật dạy nghề quy định về phương pháp dạy nghề:
“Phương pháp dạy nghề trình độ cao đẳng phải kết hợp rèn luyện năng
lực thực hành nghề với trang bị kiến thức chuyên môn và phát huy tính tích
cực, tự giác, năng động, khả năng tổ chức làm việc theo nhóm”.
Về đổi mới phương pháp đào tạo, Nghị quyết Trung ương 4 ghi: Đổi
mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học. Kết hợp tốt học với hành, học
tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà
trường với xã hội, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi
dưởng học sinh năng lực giải quyết vấn đề.
Phương pháp dạy học gồm 4 nhóm: Nhóm phương pháp dạy học dùng
lời, nhóm phương pháp dạy học trực quan, nhóm phương pháp thực hành và

của giáo viên kỹ thuật, mục tiêu và nội dung môn học; phương pháp dạy
học, trình độ nhận thức của học sinh, điều kiện cơ sở vật chất và đánh giá
kiểm tra,...
1.3.4.2. Hoạt động học tập
Là quá trình hoạt động của học sinh trong đó học sinh dựa vào nội dung
dạy học, vào sự chỉ đạo của giáo viên để lĩnh hội tri thức. Hoạt động học là
một nhận thức độc đáo, thông qua hoạt động mà người học chủ yếu thay đổi
chính bản thân mình và ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động tích cực


22

nhận thức và cải biến hiện thực khách quan. Hoạt động dạy và học luôn gắn
bó mật thiết với nhau, thống nhất biện chứng với nhau, dạy tốt dẫn đến học
tốt, học tốt đòihỏi phải dạy tốt.
1.3.5. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Kiểm tra và đánh giá kết quả thành tích học tập của học sinh là khâu
không thể thiếu trong quá trình dạy học. Kiểm tra đánh giá có quan hệ hữu cơ
với quá trình dạy học. Đánh giá là động lực thúc đẩy tích cực hoạt động dạy
học và là công cụ đo trình độ người học. Qua kiểm tra đánh giá giúp cho các
nhà quản lý điều chỉnh, cải tiến nội dung chương trình, kế hoạch dạy học
đồng thời giúp cho giáo viên luôn đổi mới nội dung, phương pháp dạy học.
Những yêu cầu cơ bản của việc đánh giá kết quả học tập của học
sinh gồm:
- Đảm bảo việc đánh giá là đánh giá kết quả đạt được mục tiêu giáo
dục. Đây là yêu cầu cơ bản nhất và quan trọng nhất của việc đánh giá kết quả
học tập của học sinh và đó chính là độ giá trị của đánh giá. Không đạt yêu cầu
này thì coi như cả quá trình đánh giá là không đạt.
- Đảm bảo tính khách quan. Yêu cầu đảm bảo tính khách quan của
đánh giá kết quả học tập của học sinh vừa đòi hỏi kết quả đánh giá phải phản

+ Trong dạy thực hành nghề xuất hiện mối liên hệ tức thời giữa lý
thuyết với thực tiễn sản xuất, trong khi đó nói chung thì trong dạy lý thuyết
nghề không có sự sản xuất.
+ Trong dạy thực hành thì đơn vị thời gian là ngày, học ở nơi đào tạo
nghề như: Xưởng thực hành, hoặc phân xưởng sản xuất ngoài xí nghiệp hoặc
ở phòng học thực nghiệm. Nhưng trong dạy lý thuyết nghề, thời gian là tiết
học ở lớp hoặc ở phòng học.
+ Trong dạy thực hành nghề, số lượng học sinh nghề rất khác nhau
(thường có từ 15 đến 25 học sinh cho mỗi ca). Trong dạy lý thuyết nghề thì số


24

lượng học sinh lớn hơn (thường từ 30 đến 50 học sinh) và không thay đổi
trong toàn bộ thời gian.
+ Trong dạy thực hành nghề trên cơ sở của lao động thực tế trong sản
xuất mà tự tổ chức nơi làm việc, vị trí đứng máy, các quy định về an toàn, về
bảo hộ lao động phức tạp hơn trong dạy lý thuyết nghề.
+ Trong dạy thực hành nghề, học sinh học nghề tiếp xúc với giai cấp
công nhân, được giáo dục và đào tạo thông qua các tập thể lao động. Điều đó
trong dạy lý thuyết nghề chỉ là ngoại lệ.
+ Lao động sư phạm của giáo viên và lao động học tập của học sinh
trong dạy học thực hành nghề không đơn thuần là lao động trí óc, mà có tính
chất thể chất rõ rệt, đòi hỏi nỗ lực thể chất lớn hơn khi dạy học lý thuyết.
1.4.1.2. Tính chất xã hội của lao động học tập trong ĐTN
Quá trình dạy học trong ĐTN có liên hệ chặt chẽ với quá trình lao động
xã hội. Đây là một vấn đề cơ bản trong đào tạo nghề nghiệp người giáo viên
dạy phải nghiên cứu một cách nghiêm túc, bởi vì chính thông qua lao động
thực tiễn đã rút ra để rồi xây dựng mục đích và nhiệm vụ của dạy học thực
hành nghề.

lý học về dạy thực hành, kỹ năng được hiểu là: “Khả năng của con người thực
hiện công việc một cách có hiệu quả trong một thời gian thích hợp, trong các
điều kiện nhất định và dựa vào các tri thức, kỹ xảo đã có”.
Trong tâm lý học dạy thực hành, người ta coi: “Kỹ xảo là hoạt động
hay thành phần của hoạt động đã được tự động hóa nhờ quá trình luyện tập”.
Trong đào tạo nghề kỹ xảo thường bao gồm 3 loại kỹ xảo: Kỹ xảo vận
động; kỹ xảo cảm giác và kỹ xảo trí tuệ. Các loại kỹ xảo này có quan hệ mật
thiết với nhau, khó có thể tách rời trong hoạt động nghề nghiệp. Ví dụ như
việc đánh búa của người thợ rèn bao gồm cả 3 loại kỹ xảo.
1.4.2.2. Mối quan hệ giũa tri thức, kỹ năng và kỹ xảo
Tri thức là thành tố tạo thành kỹ năng, có hiểu biết công việc mới có
thể thực hiện được công việc, mặt khác tri thức cũng là cơ sở để hình thành
và hoàn thiện kỹ xảo. Kỹ năng, kỹ xảo có tác dụng ngược trở lại đến tri thức,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status