Lời nói đầu
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, đất nước ta đang trên đà phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý chặt chẽ của Nhà
nước. Trong đó lĩnh vực Tiền tệ - Ngân hàng có vai trò không nhỏ trong việc ổn
định kinh tế vĩ mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập cho sự phát triển chung.
Ở nước ta kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công
cụ của nó đang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền
kinh tế. Với đặc điểm của nền kinh tế nước ta thì việc chọn lựa, sử dụng công cụ
nào ở từng giai đoạn cụ thể luôn là một vấn đề thường xuyên phải quan tâm của
các nhà hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ.
Vì vậy trong khuân khổ bài làm em xin đưa ra những lý luận về Chính sách
tiền tệ, công cụ của Chính sách tiền tệ và những đánh giá về việc thực hiện chính
sách tiền tệ trong giai đoạn 2011-2012.
I.Tổng quan về chính sách tiền tệ
1.Khái niệm
1
Chính sách tiền tệ là một trong các chính sách kinh tế vĩ mô, mà Ngân
hàng Trung ương thông qua các công cụ của mình để thực hiện kiểm soát và
điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm đạt được các mục đích kinh tế xã
hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định.
2.Cơ chế thực hiện chính sách tiền tệ
2.1.Chính sách tiền tệ mở rộng
Chính sách tiền tệ mở rộng là việc cung ứng thêm tiền cho kinh tế,
nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm.
Chính sách tiền tệ mở rộng tăng thêm khối lượng tiền tệ cung ứng
cho nền kinh tế làm cho tiền trở nên dồi dào, lãi suất hạ xuống từ đó kích
thích tiêu dùng và đầu tư. Kết quả của Chính sách tiền tệ mở rộng là sản
3.2.Ổn định giá cả.
Giá cả có tỷ lệ thấp là mục tiêu của mọi nền kinh tế. Khi giá cả lạm
phát thấp mức tăng thu nhập thực tế của nhân dân sẽ dương, do vậy đời sống
người lao động tốt hơn. Nhân dân tin tưởng vào chính quyền và chính sách
của Nhà nước. Giá cả có tỷ lệ lạm phát thấp sẽ đồng thời làm cho lăi suất
thực tế dương và lăi suất danh nghĩa sẽ thấp hơn, do đó sản xuất sẽ có vốn
với chi phí hạ về mặt dài hạn và nền kinh tế sẽ có sức bật đầu tư về lâu dài.
Khi giá cả có tỷ lệ lạm phát thấp, hiện tượng đầu cơ sẽ biến mất, giá trị tiền
nội địa sẽ được ổn định.
Ngược lại, khi giá cả lạm phát cao, thu nhập người lao động sẽ không
tăng kịp với phần tăng giá sẽ làm cho đời sống họ thêm khó khăn, nạn đầu
cơ sẽ phát sinh làm cho một số bộ phận giàu lên rất nhanh trong khi đại đa
số nhân dân trở nên nghèo hơn. Khoảng cách giàu và nghèo lớn dần và nhân
dân mất niềm tin vào chính quyền. Ổn định giá cả vì thế là một mục tiêu
quan trọng nhất của CSTT .
3.3.Công ăn việc làm cao.
Việc làm cao cho người lao động là một mục tiêu kinh tế - xã hội của
mọi quốc gia hiện nay. Nếu xã hội có ít công ăn việc làm, tỷ lệ thất nghiệp
cao sẽ dẫn đến hậu quả: lăng phí các nguồn lực, làm giảm sản lượng quốc
gia, làm giảm thu nhập trong dân chúng gây khó khăn cho đời sống của họ
thậm chí có thể làm tăng các tệ nạn xă hội. Vì vậy việc làm cao là một yêu
cầu bức thiết của mọi quốc gia có nền kinh tế phát triển cũng như đang phát
triển. Một chính sách tiền tệ đúng thúc đẩy sản xuât, khuyến khích đầu tư sẽ
3
tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xă hội. Kết quả là tỷ lệ thất nghiệp giảm
xuống.
3.4.Ổn định thị trường tài chính
Nền tảng tài chính ổn định là mục tiêu chủ đạo của CSTT ngoài
II.Công cụ điều chỉnh chính sách tiền tệ
Trên cơ sở dự án chính sách tiền tệ đã được phê chuẩn và điều kiện
thực tế của nền kinh tế, NHTW sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ
để điều tiết lượng tiền cung ứng. Nghĩa là NHTW sẽ thực hiện việc đưa tiền
vào lưu thông hay rút tiền từ lưu thông về nếu lượng tiền trong lưu thông là
thiếu hay dư thừa. Các công cụ mà NHTW thường hay sử dụng là: Lãi suất,
Tỉ giá hối đoái, Dự trữ bắt buộc, Nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ
khác.
1.Công cụ lãi suất
Lãi suất được xem là một công cụ gián tiếp thực hiện chính sách tiền
tệ trong việc điều khiển mức cung ứng tiền cho nền kinh tế. Ta nói rằng lãi
suất là công cụ gián tiếp, bởi vì lãi suất không trực tiếp làm tăng hay giảm
khối lượng tiền tệ trong lưu thông. Nhưng sự tăng , giảm lãi suất có thể kích
thích sản xuất hoặc kìm hãm sản xuất. Như vậy ta có thể thấy được sự tác
động của công cụ này là vô cùng to lớn
Cơ chế tác động của công cụ lãi suất:
+ Cơ chế điều hành gián tiếp: Thông qua cơ chế tái cấp vốn ( chiết
khấu, tái chiết khấu, cho vay cầm cố chứng từ có giá...) của NHTW đối với
các tổ chức tín dụng, NHTW thực hiện quan lý gián tiếp lãi suất cho vay của
các ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế.
Cơ chế này được thực hiện theo nguyên tắc: Trong điều hành chính
sách lãi suất, NHTW chỉ công bố mức lãi suất áp dụng đối với các khoan
cho vay tái chít khấu hoặc cho vay cầm cố chứng từ có giá của mình đối với
các tổ chức tín dụng. Các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thẻ theo từng
kỳ hạn, từng đối tượng của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế sẽ do tổ
chức tín dụng ấn định, dựa trên cơ sơ cung cầu về vốn và sự cạnh tranh trên
thị trường.
Khi muốn điều chỉnh lãi suất kinh doanh của tổ chức tín dụng đối với
nền kinh tế, phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ từng giai đoạn,
NHTW sẽ thực hiện thông qua việc điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu của
Hai là các mức lãi suất của NHTM áp dụng đối với nền kinh tế mang
tính quản lý trực tiếp của NHTW như khung lãi suất ,trần lãi suất, lãi suất
tiền gửi tối thiểu, chênh lệch lãi suất bình quân được thực hiện ở các nước
Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam...
6
Ba là, các mức lãi suất thị trường mang tính tham khảo như: lãi suất
liên ngân hàng thị trường Singapore(SIBOR), lãi suất liên ngân hàng thị
trường London(LIBOR)v.v.
Bốn là , lãi suất thường được công bố theo năm, các mức lãi suất đối
với từng kỳ hạn cụ thể theo tháng, ngày... được xác định trên cơ sở lãi suất
năm.
2.Công cụ tỉ lệ dự trữ bắt buộc
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ phần trăm giữa số tiền dự trữ bắt buộc và
tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc các ngân hàng thương mại thu
hút được trong một khoảng thời gian nhất định. Nếu khả năng thanh toán
quá lớn ( NHTM đang dư thừa tiền) thì việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm
giảm quy mô tín dụng từ đó giảm khối lượng tiền tệ. Ngược lại , nếu khả
năng thanh toán thấp thì giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm tăng khả năng cho
vay của các NHTM( bành trướng khối tiền tệ).
2.1.Cơ chế tác động
Thông qua công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, NHTW tác động đến khối
lượng và giá cả tín dụng của các NHTM từ đó tác động đến khả năng cung
ứng tín dụng và khả năng tạo tiền của hệ thống NHTM.
+ Về số lượng: Tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc có nghĩa là giải
phóng hay phong toả , cho hoặc không cho các NHTM sử dụng khối lượng
tiền tệ trung ương bị coi là thiếu hay dư thừa, cũng tức là thắt chặt hay nới
lỏng khả năng tạo tiền của các NHTM.
+ Về chi phí: Giảm hay tăng dự trữ bắt buộc ( dự trữ bắt buộc không
Hạn mức tín dụng là một trong những công cụ can thiệp một cách trực
tiếp để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của hệ thống tổ chức tín
dụng cung ứng cho nền kinh tế đảm bảo mức tăng trưởng tổng phương tiện
thanh toán theo mục tiêu đề ra.
3.1.Cơ chế tác động
Hạn mức tín dụng được sử dụng để khống chế tổng dư nợ tín dụng
qua đó khống chế tổng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế. Do vậy cơ chế
tác động của nó mang tính áp đặt của NHTW đối với hệ thống ngân hàng.
Qua sử dụng hạn mức tín dụng , NHTW nhằm điếu chỉnh khả năng
tạo tiền của các NHTM phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế.
Tránh tình trạng tổng khối lượng tiền tăng quá mức trong lưu thông, NHTW
quy định hạn mức tín dụng tối đa cho từng NHTM. Trong phần lớn các
trường hợp những hạn mức riêng được xác định căn cứ vào tỷ trọng cho vay
của nó trong quá khứ so với tổng mức cho vay của hệ thống ngân hàng,
NHTM chỉ được cấp tín dụng cho nền kinh tế tối đa bằng hạn mức tín dụng
được quy định. Lúc này, NHTW phải theo dõi hoạt động cho vay của các
NHTM, nếu NHTM cho vay vượt quá hạn mức tín dụng quy định sẽ bị xử
phạt.
3.2.Ưu điểm, nhược điểm
8
- Ưu điểm:
Hạn mức tín dụng là một công cụ trực tiếp điều tiết lượng tiền trong
lưu thông. Bằng việc quy định hạn mức tín dụng, NHTW có thể kiểm soát
khá chặt chẽ tổng lượng tiền cung ứng. Công cụ này thực sự phát huy hiệu
quả khi tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế tăng cao và các công
cụ gián tiếp khác tỏ ra kém hiệu lực.
- Nhược điểm:
gửi...) trên thị trường tiền tệ, điều hoà cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh
hưởng đến cung ứng tín dụng của các ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng
hay giảm khối lượng tiền tệ.
Ví dụ:
+ Bằng cách bán các loại giấy tờ có giá ngắn hạn, NHTW có thể thu hẹp
tín dụng, giảm khối lượng tiền tệ theo ý muốn để ngăn chặn lạm phát.
+ Ngược lại, khi NHTW mua các loại giấy tờ có giá ngắn hạn, tăng khối
lượng tiền tệ, mở rộng tín dụng, thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng kinh tế, tăng
khả năng thanh khoản của các NHTM.
4.1.Cơ chế tác động
- Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng.
Hành vi mua, bán các loại chứng khoán trên thị trường mở của NHTW có
khả năng ảnh hưởng ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các ngân hàng
thương mại thông qua ảnh hưởng đến tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW và
tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng thương mại. Khi NHTW bán chứng
khoán cho các đối tác, NHTW có thể làm giảm đi một khối lượng dự trữ tương
ứng (giả thiết các yếu tố khác không đổi), dù người mua là ngân hàng thương
mại hay khách hàng của nó, khi tiền thanh toán cho lượng chứng khoán này
được ghi nợ vào tài khoản của ngân hàng tại NHTW. Nếu người mua là khách
hàng của ngân hàng thương mại thì số dư tiền gửi của người đó sẽ giảm. Sự
giảm về dự trữ sẽ dẫn đến sự giảm về khả năng cho vay của hệ thống ngân hàng
và đồng thời cũng làm giảm khối lượng tiền cung ứng theo bội số, được đo
lường bằng số nhân tiền. Hành vi mua chứng khoán của NHTW sẽ có tác động
ngược lại.
- NVTTM tác động vào lãi suất thị trường
Hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường mở của NHTW co ảnh
hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua hai con đường:
Thứ nhất: Khi dự trữ của các ngân hàng bị ảnh hưởng, nó có tác động đến
cung cầu vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Từ chỗ cung cầu
tiền trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền Ngân hàng trung
NHTW có thể quyết định và thực hiện ngay trong phiên giao dịch.
III.Thực trạng điều hành các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam từ
đầu năm 2010 đến nay
Trong 9 tháng đầu năm 2010, chính sách tiền tệ chưa thực sự theo hướng
thắt chặt tiền tệ. Từ những tháng tiếp theo đến nay, chính sách tiền tệ được sử
dụng theo hướng thắt chặt tiền tệ, với tính chất quyết liệt ngày càng tăng. Các
công cụ chủ yếu được NHNN Việt Nam sử dụng trong thời gian qua là: chính
sách chiết khấu, dự trữ bắt buộc, chính sách quản lý lãi suất. Các công cụ này
được sử dụng với mục tiêu hàng đầu hiện nay là thực hiện chính sách thắt chặt
tiền tệ, kiềm chế lạm phát.
1.Chính sách chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở
11
Từ cuối năm 2009, khi chấm dứt gói kích cầu đối với nền kinh tế,
NHNN đã nâng các lãi suất chủ chốt gồm lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu,
lãi suất tái cấp vốn và lãi suất trên thị trường mở. Đặc biệt trong thời gian từ
tháng 11 năm 2010 tới nay, lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn liên tục tăng.
Lãi suất chào mua trên trên thị trường mở cũng tăng. Lãi suất tái chiết khấu
tăng mạnh từ 7% lên 12%, hiện là 13%. Lãi suất tái cấp vốn tăng từ 9% lên
11%, 12% hiện nay là 14%. Tuy nhiên không phải NHTM nào cũng tiếp cận
được nguồn vốn vay tái cấp vốn từ NHNN. Lãi suất trên thị trường mở liên tục
tăng từ 7% tháng 11/2010 lên mức hiện nay 15%. Theo số liệu: từ ngày 4-13/5,
NHNN đã bơm ra 205.047 tỷ đồng trên OMO và hút về 164.252 tỷ đồng (bơm
ròng 40.795 tỷ đồng). Tính từ đầu năm 2011 đến ngày 13/5, NHNN đã bơm ra
2.012.130 tỷ đồng và hút về 2.007.098 tỷ đồng (bơm ròng hơn 5.000 tỷ đồng).
2.Quản lý lãi suất đối với các NHTM
Lãi suất huy động VND đã liên tục tăng: lãi suất trần với lãi suất huy
động của các NHTM: từ mức 10,5%/năm (đầu năm 2010), sau đó là 11,5% rồi
12% (tháng 11/2010). Các NHTM đã có một cuộc đua lãi suất huy động trong
Tổng kết năm 2011 chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Lạm
phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế về cơ bản được bảo đảm,
kinh tế vĩ mô có bước chuyển biến tích cực, nhờ những giải pháp chỉ đạo điều
hành quyết liệt, lạm phát đã từng bước được kiềm chế, chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
đã giảm dần từ quý III. Tình hình tiền tệ, tín dụng và cán cân thanh toán quốc tế
được kiểm soát. Tổng phương tiện thanh toán tăng 12,37% (kế hoạch là 15 16%). Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế tăng 14,41% (kế hoạch là dưới 20%).
Cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng tích cực, tập trung ưu tiên cho phát
triển nông nghiệp, nông thôn, các lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu. Cán cân thanh
toán tổng thể thặng dư 2,65 tỷ USD, góp phần tăng dự trữ ngoại tệ của quốc gia
(năm 2010 thâm hụt 3,1 tỷ USD).
Chính sách chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở: lãi suất tái chiết khấu
và lãi suất tái cấp vốn tăng đã làm tăng mặt bằng lãi suất, hạn chế tăng trưởng tín
dụng, thực hiện đúng hướng thắt chặt tiền tệ.
Dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ tăng: sẽ làm giảm tăng trưởng tín dụng
ngoại tệ trong thời gian tới.
Chính sách Quản lý lãi suất đối với NHTM: các trần lãi suất huy động
được đưa ra đã giúp bình ổn thị trường ngân hàng. Trần lãi suất huy động hiện
nay đã góp phần ngăn chặn cuộc đua lãi suất đối huy động giữa các ngân hàng
thương mại. Chính sách thỏa thuận lãi suất cho vay thay vì trần lãi suất cho vay
đã chấm dứt được việc các ngân hàng tính nhiều loại phí làm tăng lãi suất cho
vay thực tế. Quy định trần lãi suất huy động USD đã góp phần ổn định tỉ giá.
1.2.Hạn chế
Kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định, còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, lạm phát tuy đã
được kiềm chế trong những tháng cuối năm, nhưng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả
năm vẫn ở mức cao là 18,13%; lãi suất còn cao; việc thực hiện chính sách tài
khoá thắt chặt, chính sách tiền tệ chặt chẽ tuy đã góp phần quan trọng giúp kiềm
chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô nhưng cũng để lại những hệ quả tác động
tiêu cực đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Ngay từ giữa năm 2011, Chính
13
doanh nghiệp gặp khó khăn, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Lãi suất vay còn cao, nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận và hấp thụ vốn; chi
phí đầu vào lớn, sản phẩm tiêu thụ chậm, tồn kho cao, dẫn đến quy mô sản xuất
phải thu hẹp, nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động hoặc phá sản, giải thể,
lao động mất việc làm tăng, gây sức ép lớn đến ổn định xã hội và đời sống của
nhân dân. Trong 4 tháng đầu năm 2012, cả nước có trên 17,7 nghìn doanh
nghiệp đã làm các thủ tục giải thể và ngừng hoạt động, tăng khoảng 9,5% so với
cùng kỳ. Tuy lạm phát giảm mạnh nhưng lãi suất vay ngân hàng vẫn còn cao
3.Những đánh giá chung
3.1.Những thành tựu
14
-
-
-
-
1.1.
Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: Được sử dụng một cách
linh hoạt, phù hợp với điều kiện Việt Nam ở các thời điểm cụ thể chứ
không đông cứng, đóng băng như thời kì bao cấp (lãi mất cố định nhiều
năm...)
NHNN bước đầu sử dụng khá hiệu quả các công cụ của chính sách tiền tệ
theo xu hướng thay thế và giảm dần tính trực tiếp, cứng nhắc và ít hiệu
lực để chuyển sang phát huy tính gián tiếp, linh hoạt, thích hợp và đồng
điều kiện lạm phát tăng cao hầu hết các doanh nghiệp không chịu được lãi
suất cao thì Nhà nước cần có chính sách tài khóa, tức là giảm thuế).
Công tác kiểm tra giám sát hoạt động NHNN còn lỏng lẻo, thiếu rõ
ràng. Cơ sở hành lang pháp lý còn thiếu tính đồng bộ.
Thói quen thanh toán qua ngân hàng còn chưa phổ biến, điều này làm
tăng lượng tiền cung ứng cho thị trường là nguyên nhân dẫn đến lạm phát.
Ngoài ra, thị trường tài chính tài chính ở Việt Nam vẫn chưa phát triển,
hệ thống ngân hàng còn thiếu môi trường cạnh tranh lành mạnh.
V.Kiến nghị trong việc thực hiện chính sách tiền tệ trong bối cảnh kinh tế
hiện nay
Để thực thi chính sách tiền tệ có hiệu quả trong thời gian tới, căn cứ vào
diễn biến của thị trường tiền tệ thế giới và tình hình kinh tế đất nước thì việc
điều hành chính sách tiền tệ cần được hoàn thiện và linh hoạt hơn.
Cụ thể như sau:
+ Hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ dựa vào tín hiệu thị
trường, theo cơ chế thị trường. Căn cứ vào diễn biến của thị trường tiền tệ thế
giới và tình hình kinh tế đất nước, việc điều hành qua công cụ chính sách tiền tệ
cần được hoàn thiện và linh hoạt hơn, nhất là về lãi suất, tỷ giá, tỷ lệ dự trữ bắt
buộc….đảm bảo thực hiện tốt chính sách tiền tệ quốc gia.
+ Cần hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở bằng việc rà soát lại quy chế về
nghiệp vụ thị trường mở nhằm mở rộng thời hạn còn lại của các chứng từ có giá,
tạo điều kiện để cung ứng vốn cho các tổ chức tín dụng với thời hạn dài hơn.
Ngân hàng nhà nước cũng cần thay đổi quy chế để mở rộng đối tượng nhằm
tăng số lượng thành viên tham gia, đa dạng hoá hàng hoá được mua- bán trên thị
trường để nghiệp vụ thị trường mở hoạt động sôi động hơn .
+ Theo dõi các diễn biến trên thị trường tiền tệ để có biện pháp xử lý kịp
thời phù hợp với các biến động trên thị trường ngoại hối nhằm hình thành tỷ giá
3.4.Ổn định thị trường tài chính………………………………………4
4. Nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ…………………………………….
4.1.Chính sách tín dụng………………………………...........................
4.2.Chính sách ngoại hối……………………………………………….
4.3.Chính sách đối với ngân sách…………………………….. ……….
II.Công cụ điều chỉnh chính sách tiền tệ…………………………………………...5
1.Công cụ lãi suất……………….…………………………………………….
2.Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc……………………………………………...6
2.1.Cơ chế tác động…………………………………………………….
2.2.Ưu, nhược điểm của phương pháp…………………………………
3.Công cụ hạn mức tín dụng………………………………………………...8
3.1.Cơ chế tác động……………………………………………………
3.2.Ưu, nhược điểm……………………………………………………
4.Công cụ nghiệp vụ thị trường mở…………………………………………9
4.1.Cơ chế tác động………………………………………………….10
4.2.Ưu điểm………….………………………………………………11
III. Thực trạng điều hành các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam từ đầu
năm 2010 đến nay…………………………………………………………………11
1.Chính sách triết khấu và nghiệp vụ thị trường mở………………………….
2.Quản lý lãi suất đối với NHTM…………………………………………..12
3.Dự trữ bắt buộc……………………………………………………………...
18
IV. Những đánh chung phản ánh hiệu quả việc điều hành các công cụ của chính
sách tiền tệ giai đoạn 2011-2012………………………………………………….13
1.Năm 2011…………………………………………………………………...
1.1.Thành tựu…………………………………………………………..
1.2.Hạn chế…………………………………………………………….
2.Năm 2012………………………………………………………………...14