Luận văn tốt nghiệp
GVHD: TS Đinh Bảo Ngọc
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA DOANH
NGHIỆP................................................................................................................... 3
1.3.1. Quy mô doanh nghiệp:.................................................................................................................18
1.3.2. Tốc độ tăng trưởng:......................................................................................................................19
1.3.3. Tính thanh khoản:.........................................................................................................................19
1.3.4. Cấu trúc tài sản:............................................................................................................................19
1.3.5. Hiệu quả hoạt động: được xem xét trên hai mảng, hiệu quả kinh doanh và hiệu quả tài chính...19
1.3.6.Rủi ro kinh doanh:.........................................................................................................................21
1.3.7.Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp:.........................................................................................21
3.4. Những kiến nghị về phía Nhà Nước:....................................................................................................63
KẾT LUẬN.............................................................................................................65
PHỤ LỤC...............................................................................................................67
SVTH: Trương Ái Nguyệt – 35k15.2
Trang i
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: TS Đinh Bảo Ngọc
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA DOANH
chính hợp lí nhất cho mỗi doanh nghiệp là một vấn đề không đơn giản để giải quyết.
Muốn làm được, phải dựa trên tình hình thực tế của mỗi doanh nghiệp, phải phân
tích các nhân tố thực sự tác động đến cấu trúc tài chính, phải kết hợp xem xét mục
tiêu hoạt động của doanh nghiệp,…Và một vấn đề khá quan trọng, đó là phải xây
dựng được cấu trúc tài chính mục tiêu cho doanh nghiệp ở từng giai đoạn phát triển.
Vậy, làm thế nào để xây dựng được cấu trúc tài chính mục tiêu, những giải pháp
nào là hữu hiệu cho thực trạng cấu trúc tài chính của doanh nghiệp,…Đây là những
vấn đề mà không chỉ bản thân em, trong suốt gần 4 năm đại học rất đỗi quan tâm
mà còn là nỗi bận tâm của rất nhiều doanh nghiệp. Bởi vậy, trong suốt ba tháng
thực tập tại phòng tài chính kế toán của công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng, được phần
nào cọ xát với thực tiễn doanh nghiệp và nhận ra rằng đây cũng là vấn đề mà doanh
nghiệp đang cần giải quyết, em đã quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện cấu trúc tài
chính của công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Tìm hiểu các vấn đề tổng quan về cấu trúc tài chính, đánh giá thực trạng cấu
trúc tài chính hiện tại của công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng. Từ đó hoàn thiện các mặt
khiếm khuyết trong quản trị cấu trúc tài chính của doanh nghiệp hiện tại và định
hướng xây dựng cấu trúc tài chính mục tiêu cho tương lai.
SVTH: Trương Ái Nguyệt – 35k15.2
Trang 1
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: TS Đinh Bảo Ngọc
3. Phương pháp nghiên cứu:
đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo TS. Đinh Bảo Ngọc đã tận
tình hướng dẫn em xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài.
Đà Nẵng ngày 10 tháng 12 năm 2012
SVTH: Trương Ái Nguyệt – 35k15.2
Trang 2
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: TS Đinh Bảo Ngọc
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.
CẤU TRÚC TÀI CHÍNH
1.1.1. Khái niệm cấu trúc tài chính:
Có khá nhiều khái niệm về cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, cụ thể một
số khái niệm hay được đề cập như sau:
Khái niệm thứ nhất: Cấu trúc tài chính là sự kết hợp giữa nợ phải trả và
vốn chủ sở hữu dùng để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp.
Khái niệm thứ hai, quan niệm về cấu trúc tài chính theo nghĩa rộng hơn, đó
là: cấu trúc tài chính phản ánh cấu trúc nguồn vốn, cấu trúc tài sản và mối quan hệ
giữa tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, có lẻ khái niệm ngắn gọn và súc tích nhất đó là:
Cấu trúc tài chính được hiểu là cơ cấu nguồn vốn mà doanh nghiệp huy
động để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp mình.
Khái niệm phân loại:
Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh
nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt. Số vốn này không
phải là một khoản nợ và doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. Các thành
phần của vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường.
Trong đó, vốn cổ phần thường có hai bộ phận là lợi nhuận giữ lại và vốn cổ phần
đầu tư từ chủ sở hữu. Còn vốn cổ phần ưu đãi là cổ phần mà cổ đông sở hữu nó sẽ
được nhận cổ tức cố định như đã công bố với thứ tự ưu tiên trước khi lợi nhuận
thuần được phân phối cho các cổ đông nắm giữ cổ phần thường.
Ưu, nhược điểm của việc sử dụng vốn chủ sở hữu
Ưu điểm:
-
Không phải hoàn trả vốn gốc.
-
Không gây nên áp lực tài chính.
Nhược điểm:
-
Giá thành (hay chi phí) của nó cao hơn chi phí của nợ.
-
Tínhchất không được miễn trừ thuế làm cho chi phí vốn càng cao hơn
- Vay và nợ ngắn hạn: đối tượng cho vay thường là các ngân hàng thương
mại, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi theo hợp đồng vay
vốn.
-
Nợ các nhà cung cấp: khoản nợ này hình thành khi doanh nghiệp mua
hàng trả chậm, chưa thanh toán cho người bán. Đây được xem là khoản nợ không
tốn chi phí sử dụng vì doanh nghiệp chỉ hoàn trả nợ gốc không kèm lãi. Tuy nhiên
trên thực tế các nhà cung cấp khi cung cấp sản phẩm hàng hóa dịch vụ cho khách
hàng đều đã tính toán cả phần chi phí bị chiếm dụng vốn này vào sản phẩm. Vậy
nên giá mua hàng trả chậm thường cao hơn so với giá hàng trả ngay. Và để quyết
định sử dụng nguồn này, doanh nghiệp cần cân nhắc, tính toán cẩn thận chi phí thực
tế.
-
Nợ các đối tượng khác: các đối tượng khác ở đây là Nhà nước (thuế),
người lao động (tiền lương),…Tuy nhiên, các khoản này gắn chặt với những nghĩa
vụ của doanh nghiệp và liên quan đến luật pháp nên tuy không tốn chi phí sử dụng
vốn nhưng doanh nghiệp ít khi chiếm dụng nguồn này.
Nợ dài hạn: tất cả các khoản nợ phải trả khác ngoài nợ phải trả ngắn hạn
được xếp vào loại nợ phải trả dài hạn. Thông thường có hai phương thức huy động
nợ dài hạn là vay ngân hàng và phát hành trái phiếu. Tuy nhiên ở Việt Nam việc
phát hành trái phiếu còn rất hạn chế. Và với đối tượng nghiên cứu của chuyên đề sẽ
không đi sâu vào nghiên cứu hình thức này.
Ưu, nhược điểm của việc sử dụng nợ:
chủ đề được các nhà nghiên cứu kinh tế rất mực quan tâm, là vấn đề được chú trọng
bậc nhất của các nhà quản trị trong quá trình quản lí doanh nghiệp, nghiên cứu cấu
trúc tài chính sẽ giúp giải đáp được các vấn đề sau:
- Xác định cấu trúc tài chính như thế nào là hợp lý và có lợi cho doanh
nghiệp?
- Doanh nghiệp đang đứng trước những dự án lớn, vậy nên chọn nguồn vốn
đầu tư nào sẽ có tối ưu nhất, có nên vay nợ hay là không?
- Nếu vay nợ, doanh nghiệp gánh chịu rủi ro ở mức độ nào?...
Có thể thấy rằng, việc hiểu tường tận về cấu trúc tài chính sẽ giúp các nhà
quản trị sẽ tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi ở trên, từ đó đề ra các quyết định tài
trợ đúng đắn nhằm tăng hiệu quả họat động của doanh nghiệp. Gia tăng lợi nhuận
cho cổ đông nhưng vẫn hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất.
1.1.4. Khái niệm cấu trúc tài chính mục tiêu:
Trong hầu hết các bài nghiên cứu trong nước về cấu trúc tài chính hay cấu
trúc vốn trước đây đều đề cập đến khái niệm cấu trúc tài chính (vốn) tối ưu. Tuy
nhiên, có thể thấy rõ khái niệm và cách tính toán về giá trị này có ý nghĩa thực tiễn
chưa cao. Bởi lẻ, có rất nhiều nhân tố tác động đến cấu trúc tài chính của doanh
nghiệp, hơn nữa mục đích hoạt động của doanh nghiệp không chỉ là để tối đa hóa
SVTH: Trương Ái Nguyệt – 35k15.2
Trang 6
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: TS Đinh Bảo Ngọc
giá trị cố phiếu vì như đã giải thích trong thực tế, giá cổ phiếu cũng bị rất nhiều
nhân tố tác động và với tính bất hảo của thị trường, nó cũng không thể hiện được
hết sức khỏe tài chính thực sự của doanh nghiệp. Chính từ những hạn chế ấy, luận
SVTH: Trương Ái Nguyệt – 35k15.2
Trang 7
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: TS Đinh Bảo Ngọc
Ngược lại với tỷ suất nợ, tỷ suất tự tài trợ thể hiện khả năng tự chủ về tài
chính của doanh nghiệp. Tỷ suất này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có tính tự chủ
cao về tài chính và ít bị sức ép của các chủ nợ. Doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội
tiếp nhận các khoản tín dụng bên ngoài.
Ngoài ra để đánh giá tính tự chủ về tài chính cũng có thể sử dụng chỉ tiêu:
Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu = Nợ phải trả/ Vốn chủ sở hữu
Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp có các chỉ tiêu đánh giá tính tự chủ
càng cao là càng tốt, bởi có một số trường hợp tỷ lệ nợ thấp là do doanh nghiệp uy
tín kém, không có khả năng mở rộng, thu hút vốn vay từ các chủ nợ. Vậy nên để
đánh giá tính hợp lí còn cần phải kết hợp với nhiều yếu tố khác như: hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp, tính chất đặc trưng của ngành,…
1.1.5.2.
Các chỉ tiêu đánh giá tính ổn định:
Tính ổn định về tài trợ của doanh nghiệp thể hiện mức độ ổn định khi sử
dụng các nguồn tài trợ cho hoạt động kinh doanh. Tính ổn định liên quan đến nguồn
vốn sử dụng tính chất thường xuyên hay tạm thời. Nguồn vốn tạm thời (NVTT) là
nguồn vốn có thời gian sử dụng dưới một năm và ngược lại gọi là nguồn vốn
thường xuyên (NVTX). Và như vậy các nguồn vốn này sẽ bao gồm những phần
Để đánh giá tính cân bằng trong cấu trúc tài chính của doanh nghiệp phải xem xét
cả trong dài hạn và ngắn hạn.
Cân bằng tài chính dài hạn thể hiện qua chỉ tiêu vốn lưu động ròng
(VLĐR ):
VLĐR = NVTX – Tài sản dài hạn = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
Có hai trường hợp đánh giá chỉ tiêu này:
-
Khi VLĐR < 0: cho thấy nguồn vốn thường xuyên không đủ để tài
trợ cho tài sản dài hạn, doanh nghiệp phải sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ. Điều này
khá nguy hiểm, bởi khi đầu tư vào tài sản dài hạn đòi hỏi một thời gian khá lâu mới
có thể thu hồi được vốn, trong khi các khoản nợ ngắn hạn lại chỉ trong vòng dưới 1
năm doanh nghiệp đã phải thanh toán cho chủ nợ vậy nên đều này sẽ dẫn đến nguy
cơ doanh nghiệp mất khả năng thanh toán khi các khoản nợ đến hạn là rất lớn.
Trường hợp này được xem là mất cân bằng tài chính trong dài hạn.
-
Khi VLĐR > 0: thể hiện NVTX đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn và có
thể dư ra một phần tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Và lúc này, doanh nghiệp được xem
là cân bằng trong dài hạn. Nguồn vốn lưu động dôi ra này còn được gọi là vốn luân
chuyển.
Cân bằng tài chính trong ngắn hạn được xem xét qua chỉ tiêu ngân quỹ
ròng, trên cơ sở xác định nhu cầu vốn lưu động ròng (NCVLĐR) để tính toán.
NCVLĐR = hàng tồn kho + nợ phải thu ngắn hạn+ tài sản ngắn hạn khác
– nợ phải trả ngắn hạn (không kể nợ vay)
SVTH: Trương Ái Nguyệt – 35k15.2
hiểu về các lý thuyết này theo trình tự từ truyền thống đến hiện đại.
1.2.1. Quan điểm truyền thống về cấu trúc tài chính:
Theo quan điểm truyền thống về cấu trúc tài chính, khi bắt đầu vay mượn
doanh nghiệp sẽ gặp thuận lợi vượt trội hơn so với bất lợi. Bởi với ưu điểm tận
dụng được lá chắn thuế, việc sử dụng nợ sẽ rẻ hơn so với vốn chủ sở hữu, từ đó làm
cho chi phí sử dụng vốn bình quân ( WACC) của doanh nghiệp giảm nếu tỉ lệ sử
dụng nợ tăng lên. Công thức sau sẽ giải thích cụ thể hơn vấn đề này:
WACC= E*re/(E+D) + D*rd(1-T)/ (E+D)
Trong đó:
E: giá trị vốn chủ sở hữu
D: giá trị nợ phải trả
re : chi phí sử dụng vốn cổ phần thường
Nếu lợi ích quá rõ ràng như vậy thì sao doanh nghiệp không sử dụng 100%
nợ vay để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp mình? Quan điểm truyền thống
SVTH: Trương Ái Nguyệt – 35k15.2
Trang 10
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: TS Đinh Bảo Ngọc
cũng đã chỉ ra được rằng khi tỉ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu tăng dần, tác động của
rủi ro gia tăng do việc sử dụng nhiều nợ (nguy cơ phá sản cao hơn) sẽ khiến các chủ
sở hữu tăng lợi tức yêu cầu của họ (nghĩa là chi phí VCSH tăng), không chỉ vậy tác
động này còn khiến cho chi phí sử dụng nợ tăng lệ do các nhà cung cấp vốn nhìn
nhận được khả năng thanh toán của doanh nghiệp đang ở mức thấp.
dụng vốn. Các mệnh đề này lần lượt sẽ được xem xét trong hai trường hợp ứng với
hai giả định chính: có thuế và không có thuế.
Lý thuyết M&M trong trường hợp không có thuế:
Trong trường hợp này tất cả các giả định của M&M đều được tuân thủ nhằm
đơn giản hóa vấn đề cần nghiên cứu. Các giả định này bao gồm:
-
Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.
-
Không có các chi phí giao dịch khi mua và bán chứng khoán.
-
Không có chi phí phá sản và chi phí khó khăn tài chính.
SVTH: Trương Ái Nguyệt – 35k15.2
Trang 11
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: TS Đinh Bảo Ngọc
-
Cá nhân và công ty đều có thể vay tiền ở mức lãi suất như nhau
Trang 12
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: TS Đinh Bảo Ngọc
Mệnh đề II – Chi phí sử dụng vốn: lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có
quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỉ số nợ. Về mặt toán
học mệnh đề này được biểu diễn bằng công thức sau:
ro = rE + ( rD – rE) D/ E
Trong đó:
ro : lợi nhuận yêu cầu hay lợi nhuận kì vọng trên vốn chủ sở hữu.
rD: lãi suất vay hay cho phí sử dụng nợ
rE : Chi phí sử dụng vốn nếu doanh nghiệp sử dụng 100% vốn cổ phần
D : Giá trị của nợ hay trái phiếu mà doanh nghiệp phát hành
E : giá trị của vốn cổ phần của doanh nghiệp.
Có thể lí giải mệnh đề này như sau, khi tỷ lệ nợ của doanh nghiệp ở mức
thấp thì trái phiếu ít có rủi ro. Trong trường hợp này r D độc lập với D/E, và rE tăng
tuyến tính khi D/E tăng. Khi doanh nghiệp vay nhiều nợ, rủi ro không thực hiện
nghĩa vụ tăng lên và doanh nghiệp phải chịu lãi suất vay nợ cao hơn. Khi điều này
xảy ra, tỷ lệ gia tăng trong rE sẽ chậm lại, doanh nghiệp càng có nhiều nợ, r E càng ít
nhạy cảm với các khoản vay thêm. MM cho rằng vay nợ làm tăng tỷ suất sinh lợi dự
kiến từ đầu tư của các cổ đông. Nhưng nó cũng làm gia tăng rủi ro của các cổ phần
của doanh nghiệp. MM cho thấy rẳng rủi ro gia tăng vừa đúng bù trừ cho gia tăng
trong tỷ suất sinh lợi dự kiến, nên những người nắm giữ vốn cổ phần không được
lợi mà cũng không bị thiệt hại. Và như vậy, trong điều kiện không có thuế chi phí
sử dụng vốn trung bình không đổi bất chấp cơ cấu vốn như thế nào. Có thể minh
họa mệnh đề này bằng hình vẽ bên dưới:
o=
rE + ( rD – rE) ( 1 – TC ) D/ E
Có thể minh họa cho trường hợp này bằng hình vẽ bên dưới:
Hiện giá lá chắn thuế
Biểu đồ 3: Minh họa lý thuyết M&M trường hợp có thuế
SVTH: Trương Ái Nguyệt – 35k15.2
Trang 14
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: TS Đinh Bảo Ngọc
Thành tựu và hạn chế của lý thuyết M&M
Thành tựu: có thể dễ dàng nhận thấy, các giả định của M&M hầu hết
đều không tồn tại trong thực tế, tuy nhiên thuyết đã chỉ ra tính quan trọng của việc
nghiên cứu cấu trúc vốn. Và bằng cách áp dụng các phương trình của lý thuyết
M&M, các nhà kinh tế học có thể tìm ra các nhân tố quyết định cấu trúc vốn tối ưu,
và xem xét các nhân tố ấy tác động như thế nào đến cấu trúc vốn tối ưu. Thêm một
thành tựu to lớn nữa, đó là, từ sau khi lý thuyết M&M ra đời cho đến nay, việc các
nhà kinh tế học ra sức nghiên cứu để bác bỏ những lập luận của M&M bằng việc
tháo gỡ dần các giá định phi thực tế của M&M đã góp phần to lớn vào sự phát triển
của lĩnh vực tài chính thế giới.
Trang 15
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: TS Đinh Bảo Ngọc
dường như là một mô tả về hành vi tài chính. Cấu truc tài chính của doanh nghiệp
có thể nằm trên hoặc dưới điểm tối ưu, hành vi đánh đổi của doanh nghiệp sẽ cho ta
biết nó đang ở tình trạng tích cực hay tiêu cực.
Biểu đồ 4: Minh họa lý thuyết đánh đổi
(Nguồn: en.wikipedia.org)
Lý thuyết đánh đổi của cấu trúc tài chính cũng thừa nhận các tỉ lệ nợ mục
tiêu của các doanh nghiệp có thể khác nhau. Các công ty có tài sản hữu hình an toàn
và nhiều thu nhập chịu thuế để được khấu trừ nên có tỉ lệ mục tiêu cao. Các công ty
không sinh lợi có các tài sản vô hình nhiều rủi ro nên dựa chủ yếu vào tài trợ vốn cổ
phần.
Nếu việc điều chỉnh cấu trúc tài chính không phát sinh nhiều chi phí, doanh
nghiệp luôn nên cố gắng dịch chuyển cấu trúc tài chính của doanh nghiệp mình gần
với cấu trúc mục tiêu.
Thành tựu và hạn chế:
Thành tựu: Lý thuyết đánh đổi đã giải thích được vì sao lại có sự khác
biệt trong cấu trúc vốn giữa nhiều ngành, đã đưa ra được các hành vi thích hợp cho
Với những thành tựu và hạn chế như vừa tìm hiểu ở trên về thuyết đánh đổi
của cấu trúc tài chính, sự ra đời của thuyết trật tự phân hạng như là một sự bổ
khuyết và phát triển thêm nhiều vấn đề thú vị xoay quanh cấu trúc tài chính của
doanh nghiệp.
Thuyết này được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984), cho rằng:
các công ty nên phát hành nợ trước khi phát hành cổ phiếu nếu nguồn lực tài chính
bên trong không đủ tài trợ cho các dự án. Điều này có nghĩa là:
-
Về lâu dài, các công ty nên sử dụng nguồn tài chính từ bên trong vì
nguồn vốn này sẽ tăng lên mà không mang đến dấu hiệu xấu nào cho doanh nghiệp.
-
Nếu cần thiết phải có nguổn lực tài chính từ bên ngoài, tuy nhiên công
ty nên ưu tiên phát hành nợ trước và phát hành vón cổ phần là phương án cuối cùng.
Thuyết bắt nguồn từ việc có sự bất cân xứng thông tin trên thị trường. Và sự
bất cân xứng này là thực tế, các giám đốc luôn biết rõ tình trạng sức khỏe của doanh
nghiệp mình quản lí hơn các nhà đầu tư bên ngoài. Khi ban quản trị tin tưởng rằng
giá trị cổ phiếu doanh nghiệp mình đang được đánh giá cao họ sẽ tiến hành phát
hành chứng khoán. Bởi các thị trường này thường chấp nhận cổ phiếu được đánh
giá cao hơn là đánh giá thấp, và vì vậy, hoạt động này sẽ chuyển tải những thông tin
không thuận lợi cho các nhà đầu tư. Kết quả là mục tiêu của nhà quản trị bị lệch
hướng.Có thể thấy rằng, việc phát hành vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu chuyển tải
SVTH: Trương Ái Nguyệt – 35k15.2
Trang 17
Cũng đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm rút ra kết luận về quan hệ tỉ lệ
thuận giữa quy mô và cấu trúc tài chính như của Wiwattnakantang (1999), Huang
và Song (2002) và Chen (2004) ở các nước đang phát triển và Rajan và Zingales
(1995) ở các nước phát triển,… Ở Việt Nam, các doanh nghiệp có quy mô lớn
thường là các doanh nghiệp có Nhà nước nắm cổ phần chi phối, bởi vậy nên những
doanh nghiệp này sẽ có nhiều cơ hội huy động các nguồn vốn từ bên ngoài so với
các doanh nghiệp khác. Vậy nên chiều hướng tác động như vậy là phù hợp.
SVTH: Trương Ái Nguyệt – 35k15.2
Trang 18
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: TS Đinh Bảo Ngọc
1.3.2. Tốc độ tăng trưởng:
Thường được đo lường bởi tốc độ tăng trưởng doanh thu hoặc tốc độ tăng
trưởng tài sản của doanh nghiệp. Có thể thấy rõ, với những doanh nghiệp có sự tăng
trưởng tốt luôn cần nguồn tài trợ lớn cho tài sản của mình Trong khi đó, niềm tin
của các nhà đầu tư vào những doanh nghiệp là rất cao, vì vậy khả năng tiếp cận các
nguồn vốn từ bên ngoài là càng lớn. Do đó, tốc độ tăng trưởng có mối quan hệ cùng
chiều với cấu trúc tài chính.
1.3.3. Tính thanh khoản:
Thường được đo lường bằng khả năng thanh toán hiện hành (tỉ lệ TSNH/ nợ
NH). Chỉ tiêu này cho biết một đồng nợ vay ngắn hạn của doanh nghiệp được bảo
đảm từ bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn.Bởi vậy, đây được xem như sự đảm bảo về
khả năng thanh toán các khoản vay của doanh nghiệp. Các nhà đầu tư, các chủ nợ sẽ
nhìn vào chỉ tiêu này để đánh giá xem có nên đầu tư, hoặc có nên cho vay hay
nguồn tài trợ nội bộ dồi dào, từ đó dẫn đến việc ít sử dụng thêm nguồn tài trợ bên
ngoài và tỉ số nợ sẽ giảm. Và kết quả dẫn đến việc các công ty có kết quả hoạt động
kinh doanh tốt thường có tỷ lệ nợ thấp. Cụ thể các nghiên cứu thực nghiệm của
Titman và Wessels (1988), Rajan và Zingales (1995) ở các nước phát triển, Pendey
(2001), Huang và Song (2002) ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi, Chen (2004) ở
Trung Quốc và ở Việt Nam là của thầy Khôi Nguyên (2006) trên các doanh nghiệp
vừa và nhỏ cũng chỉ ra rằng hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với tỉ
suất nợ. Xét thấy, tại Việt Nam, với nền kinh tế tài chính mới phát triển thì việc bất
đối xứng thông tin càng lớn, vậy nên lập luận về chiều tác động như trên là phù
hợp.
Hiệu quả tài chính: phản ánh kết quả hoạt động tài chính của doanh
nghiệp, được đo lương thông qua chỉ tiêu tỉ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu
(ROE).
Để xem xét mối quan hệ của nhân tố này đến cấu trúc tài chính của doanh
nghiệp ta sẽ sử dụng phương trình Dupont:
ROE = [RE + (RE – I) * D/E] * (1 – T)
Cần giải thích thêm một vài đại lượng trong phương trình trên. Sử dụng RE
thay vì phương trình giữa ROA và ROE bởi RE là khả năng sinh lợi của tài sản đã
loại trừ ảnh hưởng của cấu trúc tài chính ( RE = (LNTT + chi phí lãi vay)/ TTS) ).
Vì vậy phương trình sẽ chỉ tập trung xem xét mối quan hệ giữa hiệu quả tài chính
(ROE) và cấu trúc tài chính (D/E). Còn I là lãi suất bình quân của việc sử dụng nợ
vay.
Có thể thấy, sự tương quan của ROE với D/E (cấu trúc tài chính) của doanh
nghiệp là thuận hay nghịch phụ thuộc vào sự chênh lệch giữa RE và I. Nếu RE > I,
hiệu quả kinh doanh thực sự lớn hơn lãi vay, doanh nghiệp sẽ có thể tận dụng đòn
bẩy tài chính để tăng tỉ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu, vậy nên trường hợp này
luôn khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nợ, hay hiệu quả tài chính có quan hệ
cùng chiều với cấu trúc tài chính. Ngược lại, nếu RE < I, việc sử dụng càng nhiều
SVTH: Trương Ái Nguyệt – 35k15.2
doanh nghiệp tiết kiệm được một phần khoản thuế phải nộp. Với nguyên nhân tác
động như vậy, mức độ tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp cũng trở nên khác
nhau đối với mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành. Nếu doanh nghiệp có thuế suất cao sẽ
sử dụng nhiều nợ hơn và những doanh nghiệp nhận được những ưu đãi về thuế thì
việc sử dụng nợ sẽ ít hơn vì lợi ích mang lại không quá đáng kể mà còn khiến cho
rủi ro của doanh nghiệp tăng lên. Và có thể kết luận: thuế suất thuế thu nhập doanh
nghiệp có quan hệ cùng chiều với cấu trúc tài chính của doanh nghiệp.
SVTH: Trương Ái Nguyệt – 35k15.2
Trang 21
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: TS Đinh Bảo Ngọc
Có thể tóm tắt kết quả của những phân tích ở phần 1.3 qua bảng sau:
Bảng 1: Chiều hướng tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến CTTC
Nhân tố quy mô doanh nghiệp
doanh thu
tài sản
Nhân tố tốc độ tăng trưởng
tốc độ tăng trưởng doanh thu
tốc độ tăng trưởng tài sản
Nhân tố khả năng thanh khoán
khả năng thanh toán hiện hành
Nhân tố cấu trúc tài sản
tỉ lệ tài sản cố định/tổng tài sản
Nhân tố hiệu quả kinh doanh
Trụ sở chính: 371 Trần Cao Vân – Thanh Khê – Đà Nẵng
Điện thoại: (0511 ) 714642 – 714460
Fax: 0511.714561 – 714931
Email:
Website: danaplast.vn
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển:
Công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng trước đây là một doanh nghiệp tư nhân, sản
xuất nhỏ, lẻ với tên gọi là xí nghiệp Nhựa Đà Nẵng, được thành lập năm 1976 theo
quyết định số 866/QĐUB ngày 22/1/1976 có trụ sở ban đầu tại 280 – Hùng Vương
với diện tích hạn chế chưa đầy 500m2.
Do nhu cầu phát triển đòi hỏi xí nghiệp phải mở rộng quy mô sản xuất. Đến
năm 1978, nhà máy được chuyển trụ sở đến 199 – Trần Cao Vân (số cũ ) nay là 371
– Trần Cao Vân với cơ sở sản xuất mới được xây dựng với diện tích 17400m 2 và
được đưa vào hoạt động năm 1981.
Năm 1993, theo quyết định số 1844/QĐUB ngày 29/11/1993 của UBND tỉnh
QNĐN lúc bấy giờ, xí nghiệp chính thức trở thành DN nhà nước với tên gọi là công
ty nhựa Đà Nẵng .
Trước xu hướng vận động chung của nền kinh tế và yêu cầu cổ phần hóa DN
nhà nước nhằm tăng khả năng cạnh tranh, sản xuất hiệu quả, công ty nhựa Đà Nẵng
đã chính thức trở thành công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng ngày 01/01/2000 theo quyết
định số 90/2000 – QĐ – ttg của thủ tướng chính phủ.
SVTH: Trương Ái Nguyệt – 35k15.2
Trang 23