MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Mục tiêu của giáo dục mầm non là hình thành cơ sở ban đầu về nhân
cách con người phát triển toàn diện. Hình thành các biểu tượng toán sơ đẳng
cho trẻ mầm non là một nội dung quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu
giáo dục mầm non. Nó cung cấp cho trẻ những biểu tượng sơ giản, ban đầu về
tập hợp, số lượng - phép đếm, kích thước, hình dạng, không gian, thời gian.
Từ đó tạo nền tảng vững chắc chuẩn bị cho trẻ vào học ở trường phổ thông.
Nội dung hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non gồm 5 mạch kiến thức
chính: Số lượng - phép đếm, hình dạng, kích thước, không gian, thời gian.
Trong đó, nội dung hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non là một
nội dung khá quan trọng và tương đối khó. Nó cung cấp cho trẻ những biểu
tượng kích thước cụ thể như: chiều dài, chiều rộng, chiều cao, độ lớn,…ở một
đối tượng hay một nhóm đối tượng. Nội dung này có liên quan chặt chẽ với
các nội dung khác góp phần tạo nên một chỉnh thể thống nhất, toàn diện trong
hệ thống nội dung hình thành biểu tượng toán cho trẻ.
Nội dung hình thành biểu tượng toán cho trẻ nói chung và nội dung
hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non nói riêng là tương đối khó
so với các nội dung học khác. Để nội dung toán đó gần gũi dễ hiểu, ta cần chú
ý tới phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học cho trẻ mầm non. Một
trong những cách đó là sử dụng, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), cụ
thể là việc sử dụng các thiết bị kĩ thuật dạy học, các phần mềm dạy học để hỗ
trợ cho việc thiết kế các bài soạn, bài giảng điện tử và hỗ trợ cho hoạt động
giảng dạy trên lớp.
Cách thức ứng dụng CNTT hết sức đa dạng và phong phú, người ta có
thể sử dụng phần mềm PowerPoint, Violet, Flash,…Trong đó, phần mềm
PowerPoint là một trong những phần mềm được ứng dụng khá phổ biến và
đạt được hiệu quả cao trong dạy học nói chung và dạy học ở mầm non nói
Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phương pháp quan sát
Phương pháp điều tra
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo,
nội dung chính của khoá luận bao gồm:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2. Sử dụng phần mềm PowerPoint trong dạy học hình thành
biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Phương pháp hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non
1.1.1.1. Vai trò của việc hình thành biểu tượng kích thước
Trước tiên, chúng ta cần hiểu một số khái niệm có liên quan
“Biểu tượng” là một khái niệm được nhiều nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu. Đứng ở mỗi góc độ trên quan điểm khác nhau ta sẽ có những
định nghĩa khác nhau về nó.
Theo quan điểm của Triết học duy vật biện chứng (Triết học Mác Lênin) thì “Biểu tượng là hình ảnh của khách thể đã được tri giác còn lưu lại
trong bộ óc con người và do một tác động nào đó được tái hiện. Hay nói cách
khác, biểu tượng là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan. Biểu tượng
được hình thành sau quá trình cảm giác, tri giác, là kết quả của quá trình tri
giác. Nó phản ánh khách thể một các gián tiếp”.
Theo từ điển tâm lí (Vũ Dũng - NXB Khoa học xã hội 2000) thì “Biểu
tượng là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ
lại hay tưởng tượng. Khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính khái quát.
cho trẻ một số từ mới, mở rộng vốn từ cho trẻ và giúp trẻ sử dụng từ chính
xác: dài hơn, ngắn hơn, to hơn, nhỏ hơn, rộng hơn, hẹp hơn…từ đó phát triển
ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
Khi nắm được các chiều kích thước và độ lớn của vật thể sẽ góp phần
tích cực chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông.
Hình thành biểu tượng kích thước có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Từ các
biểu tượng mà trẻ có được sẽ ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống của mình. Ví
dụ: Trẻ có thể giúp đỡ mọi người lấy những đồ vật theo yêu cầu của họ như:
lấy cho mẹ cái ca to, cái bát to, cái gậy dài, chai nước mắm nhỏ…Khi đã có
biểu tượng chính xác về kích thước trẻ không còn cố xỏ chân vào cái tất của
búp bê hay đôi giày của mẹ nữa mà trẻ có thể tự chọn những đồ dùng phù hợp
với kích cỡ của mình hoặc người khác như: giày, tất, mũ, gang tay, quần,
áo,…Cùng với sự lớn lên về nhận thức các biểu tượng kích thước thì nhận
thức của trẻ cũng dần dần hoàn thiện hơn - đó chính là vai trò to lớn của việc
hình thành biểu tượng kích thước.
1.1.1.2. Đặc điểm nhận thức về kích thước ở trẻ mầm non
a. Trẻ 3 - 4 tuổi
Trẻ ở giai đoạn này hệ thống tín hiệu thứ nhất còn chiếm ưu thế nhiều
hơn hệ thống tín hiệu thứ hai. Trẻ nhạy cảm với các tác động bên ngoài và bị
chi phối bởi nhiều yếu tố: hình dạng, màu sắc, kích thước. Sự nhận thức gắn
liền với xúc cảm và ý muốn chủ quan của bản thân.
Đối với biểu tượng toán, trẻ nhận biết mỗi loại kích thước của vật thể
nhờ sự hoạt động tích cực của các giác quan là thị giác và xúc giác. Thông
qua ngôn ngữ, trẻ nói khái quát những biểu tượng đó. Tuy nhiên do đặc điểm
nhận thức của trẻ còn thấp nên quá trình nhận thức này chưa đầy đủ và chính
xác, cụ thể:
Trẻ nhận thức được một chiều kích thước của vật như: chiều dài, chiều
rộng, chiều cao và độ lớn. Dưới sự hướng dẫn của GV trẻ thực hiện đúng theo
đoạn trước, đó là: Trong quá trình xác định các chiều đo kích thước của vật
trẻ biết dùng tay sờ dọc theo chiều dài, chiều rộng của vật. Các thao tác khảo
sát này rất quan trọng giúp trẻ tri giác kích thước và phân tích các chiều đo
của vật chính xác hơn.
Ngôn ngữ của trẻ phát triển hơn kể cả vốn từ và khả năng phát âm. Trẻ
hiểu được ý nghĩa của các danh từ “Kích thước” nên việc diễn đạt các từ chỉ
mối quan hệ kích thước cũng chính xác hơn như: quan hệ bằng nhau, quan hệ
không bằng nhau, dài hơn - ngắn hơn, cao hơn - thấp hơn…ngoài ra trẻ còn
thể hiện rõ được mối quan hệ về chiều kích thước của 3 đối tượng theo chiều
tăng dần hay giảm dần về kích thước như: cao nhất - thấp hơn - thấp nhất, dài
nhất - ngắn hơn - ngắn nhất, hẹp nhất - hẹp hơn - rộng nhất…Bên cạnh đó, trẻ
vẫn mắc các lỗi như: nhầm lẫn giữa chiều dài và chiều rộng, khi trả lời về
chiều kích thước còn bị chi phối bởi màu sắc, số lượng của các vật.
c. Trẻ 5 - 6 tuổi
So với hai giai đoạn trước, ở giai đoạn này sự nhận thức của trẻ có phần
vượt trội. Hệ thống tín hiệu thứ nhất không còn chiếm ưu thế như các giai
đoạn trước, thay vào đó là sự phát triển mạnh của hệ thống tín hiệu thứ hai, cụ
thể trẻ nhận thức về biểu tượng toán như sau:
Trẻ nhận biết được ba chiều kích thước (chiều dài, chiều rộng, chiều
cao và độ lớn) của vật một cách nhanh chóng bằng các biện pháp so sánh và
phản ánh được bằng lời mối quan hệ kích thước đó. Ở giai đoạn này, phần lớn
đã phát triển khả năng ước lượng bằng mắt về kích thước các đồ vật ở trẻ.
Các nghiên cứu cũng cho thấy khả năng ước lượng kích thước bằng
mắt phát triển cùng với sự lớn lên của trẻ. Trẻ càng lớn thì độ chính xác càng
cao. Do đó cần dạy trẻ những thủ thuật ước lượng kích thước bằng mắt.
Trẻ mẫu giáo nhỡ đã sử dụng các thao tác tay để khảo sát đồ vật. Ở giai
đoạn này trẻ sử dụng thao tác tay một cách thành thạo, kết hợp được quá trình
tri giác, ghi nhớ, phân tích, tổng hợp. Thể hiện bằng việc trẻ đã thực hiện các
So với độ tuổi trước, ở độ tuổi này trẻ đã có những kiến thức nhất định
về biểu tượng kích thước, có những vốn từ đủ để diễn tả mối quan hệ về các
chiều kích thước mà trẻ biết. Nội dung hình thành biểu tượng về kích thước
cho trẻ 4 - 5 tuổi gồm:
i. Phát triển khả năng nhận biết về độ lớn, chiều dài, chiều rộng và
chiều cao của hai đối tượng trên cơ sở ước lượng kích thước của chúng.
ii. Hình thành cho trẻ kĩ năng so sánh về các chiều kích thước của hai
đối tượng bằng các biện pháp xếp chồng, xếp kề các đối tượng. Biết diễn đạt
mối quan hệ kích thước giữa chúng bằng lời nói như: to hơn - nhỏ hơn, có độ
lớn bằng nhau, dài hơn - ngắn hơn, dài bằng nhau…
iii. Hình thành cho trẻ kĩ năng so sánh chiều dài, chiều rộng, chiều cao
và độ lớn của ba đối tượng, biết sắp xếp các đối tượng theo trình tự tăng dần
hoặc giảm dần về kích thước. Phản ánh được mối quan hệ thứ tự ba đối tượng
bằng lời nói như: Dài nhất - ngắn hơn - ngắn nhất, cao nhất - thấp hơn - thấp
nhất, rộng nhất - hẹp hơn - hẹp nhất, lớn nhất - nhỏ hơn - nhỏ nhất.
c. Trẻ 5 - 6 tuổi
Khác với độ tuổi trước trẻ mẫu giáo lớn đã có những vốn kiến thức và
kinh nghiệm về biểu tượng các chiều kích thước của đối tượng khả năng ước
lượng bằng mắt, các thao tác tay thực hiện một cách thành thạo. Ngôn ngữ
của trẻ phát triển mạnh, trẻ có khả năng giao tiếp như người lớn. Do vậy nội
dung hình thành biểu tượng kích thước gồm những vấn đề sau:
i. Củng cố và phát triển kĩ năng so sánh kích thước của các đối tượng
bằng các biện pháp xếp chồng, xếp kề, ước lượng kích thước bằng mắt.
ii. Dạy trẻ đo độ dài của một đối tượng bằng nhiều đơn vị đo khác
nhau.
iii. Dạy trẻ đo dung tích của một đối tượng bằng nhiều đơn vị đo khác
nhau. Nhận biết mối quan hệ kích thước theo từng chiều đo kích thước giữa
các đối tượng.
Trong giai đoạn này không yêu cầu trẻ sử dụng kĩ năng so sánh để kiểm
tra kết quả. Sự so sánh của kích thước chỉ có tính tương đối, vì vậy khi hình
thành biểu tượng cho trẻ cô cần cho trẻ diễn đạt đầy đủ nội dung khi so sánh.
Ví dụ: “Sợi len đỏ dài hơn sợi len xanh” hay “Sợi len xanh ngắn hơn sợi len
đỏ”, không nên nói “Sợi đỏ dài hơn” hay “Sợi xanh ngắn hơn”.
Dạy trẻ nhận biết sự khác biệt về các chiều kích thước khi hai đối tượng
này không còn có sự chênh lệch về kích thước lớn. Cô hướng dẫn trẻ sử dụng
kĩ năng so sánh, cụ thể:
Với độ dài: Đối với các vật thể mềm, hướng dẫn trẻ dùng tay cầm một
đầu các đối tượng, điều chỉnh cho hai đối tượng song song với nhau. Tay còn
lại vuốt nhẹ theo chiều từ trên xuống dưới. Đối với các vật thể cứng, hướng
dẫn trẻ xếp chồng và xếp kề theo chiều dài và sao cho một đầu của chúng
trùng nhau. Với cả hai trường hợp trên, cô hướng dẫn trẻ kiểm tra đầu còn lại,
nếu đầu còn lại của hai đối tượng trùng khít với nhau thì hai đối tượng dài
bằng nhau. Nếu đầu còn lại của hai đối tượng không trùng khít thì đối tượng
nào có đầu còn lại thừa ra thì dài hơn, ngược lại sẽ là đối tượng ngắn hơn.
Với bề rộng (Chỉ hướng dẫn trẻ so sánh các vật có diện tích): Cô sử
dụng biện pháp đặt chồng hai đối tượng lên nhau. Nếu hai đối tượng trùng
khít không có phần thừa, phần thiếu thì chúng rộng bằng nhau. Nếu các đối
tượng có thể nằm trọn trong nhau thì đối tượng nào có thừa ra thì rộng hơn,
ngược lại sẽ hẹp hơn. Trường hợp đặc biệt: Nếu đối tượng là hình vuông, hình
chữ nhật, cô hướng dẫn trẻ đặt hai cạnh liên tiếp của các hình trùng nhau cho
dễ so sánh.
Với chiều cao: Cô hướng dẫn trẻ đặt hai đối tượng cạnh nhau trên cùng
một mặt phẳng theo chiều thẳng đứng hoặc chọn các đối tượng trên cùng một
mặt phẳng để so sánh và kiểm tra phần trên. Nếu phía trên của hai đối tượng
không có phần nào nhô lên thì hai đối tượng này cao bằng nhau. Nếu đối
nước to hơn chén, bát đựng thức ăn to hơn bát ăn cơm, cô cao hơn cháu, bàn
cao hơn ghế…)
b. Trẻ 4 - 5 tuổi
* Dạy trên giờ học
Cũng như ở Mẫu giáo bé, dạy trên giờ học đóng vai trò quan trọng.
Trong mỗi tiết học mục đích, yêu cầu được đề ra rõ ràng, GV chuẩn bị giáo án
đầy đủ, đồ dùng dạy học phù hợp.
Bố cục của giáo án gồm ba bước:
Bước 1: Ôn kiến thức cũ, giới thiệu nội dung bài mới.
Bước 2: Hình thành biểu tượng mới.
Bước 3: Củng cố, mở rộng hiểu biết.
Ở lứa tuổi này trẻ đã có những vốn kiến thức nhất định về biểu tượng
kích thước do đã được hình thành ở độ tuổi trước, nên trong độ tuổi này mục
đích của buổi dạy được mở rộng, phát triển lên, thời gian một tiết học diễn ra
khoảng 20 - 25 phút.
Mục đích của giờ dạy là phát triển khả năng ước lượng bằng mắt để
nhận biết các chiều kích thước của đối tượng, phát triển kĩ năng so sánh từ 2 3 đối tượng bằng các biện pháp xếp chồng, xếp kề. Trẻ diễn đạt các mối quan
hệ đó một cách đầy đủ.
Dạy trẻ nhận biết sự khác biệt về các chiều kích thước của ba đối
tượng: Dựa trên cơ sở sử dụng kĩ năng so sánh các chiều kích thước của ba
đối tượng. Từ đó hình thành biểu tượng hơn nhất và kém nhất về kích thước.
Cụ thể, trong ba đối tượng có kích thước khác nhau, đối tượng nào có kích
thước lớn hơn hẳn hai đối tượng còn lại là đối tượng hơn nhất về kích thước.
Ngược lại, đối tượng nào có kích thước kém hơn hẳn tất cả các đối tượng là
đối tượng kém nhất. Từ đó trẻ có thể sắp xếp thứ tự kích thước tăng dần (ngắn
nhất - dài hơn - dài nhất), sắp xếp theo chiều giảm dần của kích thước (dài
nhất - ngắn hơn - ngắn nhất).
Dạy trẻ đo độ dài của một đối tượng bằng một đơn vị đo.
Nếu cả hai đối tượng không có phần thừa ra thì hai đối tượng đó rộng bằng
nhau. Đối với những đối tượng là hình vuông, hình chữ nhật cô hướng dẫn trẻ
đặt hai cạnh liên tiếp của các hình trùng nhau để dễ so sánh.
Kĩ năng so sánh chiều cao của hai đối tượng: GV hướng dẫn trẻ đặt hai
đối tượng cạnh nhau trên cùng một mặt phẳng, theo chiều thẳng đứng. Đối
tượng nào có phần nhô lên là đối tượng cao hơn, đối tượng còn lại là thấp
hơn. Nếu hai đối tượng không có phần nhô cao thì hai đối tượng đó cao bằng
nhau.
Kĩ năng so sánh độ lớn (Chỉ so sánh các đối tượng có thể tích: hộp, các
loại hoa quả, ca, cốc, bát…): GV hướng dẫn trẻ đặt các đối tượng cạnh nhau
hoặc lồng các đối tượng vào nhau (nếu là vật rỗng). Quan sát các đối tượng
bằng mắt và chỉ ra sự khác biệt giữa chúng.
* Dạy ngoài giờ học
Thông qua các hoạt động ngoài giờ học củng cố mở rộng kiến thức cho trẻ.
Giờ tạo hình cho trẻ xếp được ngôi nhà cao, ngôi nhà thấp, vẽ cây với
nhiều kích thước khác nhau, nặn nhiều bát, bánh có nhiều kích thước khác
nhau.
Tiết học thể dục cho trẻ thi nhảy xa, ném xa để cung cấp các biểu tượng
gần hơn, xa hơn.
Khi xếp hàng, hướng dẫn trẻ xếp bạn cao đứng sau, bạn thấp đứng
trước.
c. Trẻ 5 - 6 tuổi
* Dạy trên giờ học
Dạy trên giờ học rất quan trọng là thời gian chủ yếu để hình thành
những kĩ năng đo lường cho trẻ. Mỗi giờ học có sự chuẩn bị đầy đủ về giáo án
lên lớp, đồ dùng trực quan, đảm bảo giờ học đạt kết quả tốt nhất.
Bố cục giáo án gồm 3 bước:
Bước 1: Ôn kiến thức cũ, giới thiệu nội dung kiến thức mới.
cho một đầu của thước đo trùng với vạch, đánh dấu tiếp đầu kia và nhấc thước
đo ra. Làm tiếp tục như vậy cho đến hết.
Luyện tập đo:
Cô cho trẻ thực hành đo nhiều đối tượng của kích thước bằng nhau,
bằng cùng đơn vị đo, để trẻ nhận xét các đối tượng này đều có số đo giống
nhau cùng đo được mấy lần.
Cô cùng trẻ thực hành đo các đối tượng có độ dài khác nhau bằng cùng
đơn vị đo để trẻ nhận thấy chúng có số đo khác nhau, vật nào dài hơn thì đo
được nhiều lần hơn.
Cô cho trẻ thực hành đo trên cùng một đối tượng hoặc trên các đối
tượng có kích thước bằng nhau, nhưng với các đơn vị đo khác nhau để trẻ
nhận thấy kết quả đo khác nhau, nếu đơn vị đo là khác nhau.
*Dạy ngoài giờ học
Cho trẻ thực hành các thao tác đo: Đo chiều dài, chiều rộng của lớp
học, của cửa lớp; đo cái ghế bằng các thước đo: Gang tay, bước chân, sải tay,
thước kẻ…
1.1.2. Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học hình thành các
biểu tượng toán cho trẻ
1.1.2.1. Vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học các
biểu tượng toán
CNTT có ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc tới giáo dục và đào tạo trên
nhiều khía cạnh khác nhau, đặc biệt với đổi mới phương pháp dạy học ở mầm
non. Đổi mới phương pháp dạy học là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà
nước nhằm làm thay đổi căn bản về chất của quá trình dạy và học. Đây cũng
là một chìa khoá lớn được nhiều cơ quan tổ chức quốc tế đưa ra bàn thảo
nhằm hướng đến một chương trình chung cho các nước tham gia.
Dạy và học thực chất là một quá trình thu phát thông tin. Vì vậy bằng
cách nào đó người dạy phải hướng tới mục đích phát càng nhiều thông tin liên
mạng Internet. Một số trường còn trang bị thêm máy quay phim, chụp
ảnh…tạo điều kiện cho GVMN có thể ứng dụng CNTT vào giảng dạy. Qua
đó người GVMN không những phát huy được tối đa khả năng làm việc của
mình mà còn trở thành một người GV năng động, sáng tạo và hiện đại, phù
hợp với sự phát triển của người GV nhân dân trong thời đại CNTT.
CNTT phát triển đã mở ra những hướng đi mới cho ngành giáo dục
trong việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học. CNTT phát triển mạnh
kéo theo sự phát triển của hàng loạt các phần mềm giáo dục và có rất nhiều
phần mềm hữu ích cho người GVMN như: Flash, Photoshop, Kidsmart… Các
phần mềm này rất tiện ích và trở thành công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc thiết
kế giáo án điện tử và giảng dạy trên máy tính, máy chiếu, bảng tương tác cũng
như trên các thiết bị hỗ trợ khác như: Tivi, đầu video…, vừa tiết kiệm được
thời gian cho người GVMN, vừa tiết kiệm được chi phí cho nhà trường mà
vẫn nâng cao được tính sinh động, hiệu quả của giờ dạy. Nếu trước đây người
GVMN phải rất vất vả để có thể tìm kiếm những hình ảnh, biểu tượng, đồ
dùng phục vụ bài giảng thì hiện nay với ứng dụng CNTT GV có thể sử dụng
Internet để chủ động khai thác tài nguyên giáo dục phong phú, chủ động quay
phim, chụp ảnh làm tư liệu cho bài giảng điện tử. Chỉ cần vài cái “nhấp
chuột” là hình ảnh những con vật ngộ nghĩnh, những bông hoa đủ màu sắc,
những hàng chữ biết đi và những con số biết nhảy theo nhạc hiện ngay ra với
những hiệu ứng của những âm thanh sống động ngay lập tức thu hút được sự
chú ý và kích thích hứng thú của trẻ vì được chủ động hoạt động nhiều hơn để
khám phá nội dung bài giảng. Đây có thể coi là một biện pháp ưu việt vừa
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, vừa thực hiện được nguyên lí giáo
dục của Vugotxki “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” một cách dễ dàng.
Có thể thấy ứng dụng của CNTT trong giáo dục mầm non đã tạo ra một
biến đổi về chất trong hiệu quả giảng dạy của ngành giáo dục mầm non, tạo ra
một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao giữa GV và trẻ.
GVcần chú ý tới nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức dạy học phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ.
1.1.2.3. Một số phần mềm dạy học được ứng dụng trong dạy học các
biểu tượng toán
Phần mềm dạy học là phần mềm được tạo lập nhằm trợ giúp trong một
chừng mực nào đó có thể thay thế một phần hay toàn bộ các hoạt động của
GV. Khi có sự hỗ trợ của máy tính điện tử nói chung và sự hỗ trợ của phần
mềm dạy học nói riêng thì hiệu quả cho việc đánh giá là sự tích hợp kiến thức
đầy đủ của nhiều yếu tố.
a. Phần mềm Microsoft PowerPoint
Năm 1984, Bob Gaskin, một nghiên cứu sinh về khoa học máy tính tại
đại học Berkeley (tiểu bang California), và các cộng sự của ông đã sáng tạo ra
phần mềm PowerPoint. Microsoft PowerPoint là một phần mềm ứng dụng
nằm trong hệ Office của hãng Microsoft, cho phép thiết kế xây dựng các tài
liệu thực hiện công việc trình chiếu như các báo cáo trong hội thảo khoa học,
thông tin quảng cáo, nhất là trong việc giảng dạy, truyền bá kiến thức. Slide là
một trang thông tin trong Presentation, mỗi slide chứa một phần của nội dung
trình chiếu. Presentation sử dụng slide làm đối tượng mang tin. Trong mỗi
slide có thể chứa nhiều dạng thông tin khác nhau, hơn nữa ta có thể điều
khiển được nội dung của nó. Điều này làm phong phú và linh hoạt nội dung
thông tin cần trình chiếu, đây là một điểm đặc biệt lợi thế của PowerPoint.
Phần mềm này là một trong những phần mềm phổ dụng nhất của Microsoft
cùng với Word hay Excel... Phần mềm PowerPoint cho phép GV xây dựng
các trình chiếu dưới dạng các slide. Trên các silde này, GV sẽ thiết kế nội
dung bài học, các hình ảnh, hiệu ứng sao cho phù hợp để có thể truyền tải nội
dung bài học đến cho người học. Do sự phổ dụng và dễ thao tác của
PowerPoint mà nhiều GV đã sử dụng để tạo ra các bài giáo án, bài giảng phục
vụ cho công tác dạy học. Tuy nhiên, nhược điểm của phần mềm này là không
hình chưa nhiều mẫu có sẵn...
c. Các phần mềm dạy học khác
* Phần mềm Bút chì thông minh
Phần mềm Bút chì thông minh là phần mềm giáo dục đầu tiên của
Việt Nam dành cho lứa tuổi mẫu giáo, mầm non. Đối tượng sử dụng phần
mềm là các cháu nhỏ lứa tuổi từ 3 - 6, các bậc cha mẹ học sinh, các GV và
nhà trường mầm non, mẫu giáo.
Phần mềm đầu tiên của Việt Nam được thiết kế riêng cho lứa tuổi mầm
non, mẫu giáo với nội dung rất đa dạng, phong phú.
Toàn bộ nội dung của phần mềm đã được âm thanh hóa phục vụ tốt
nhất cho các cháu bé chưa biết đọc biết viết.
Nội dung của phần mềm hoàn toàn định hướng học tập vui chơi lành
mạnh, dùng trên lớp học cũng như tại gia đình.
Chức năng tự động cho điểm, tự động nhận xét đúng sai và các phần
thưởng ngộ nghĩnh sẽ giúp cho các bài học, trò chơi trở nên rất hấp dẫn và lý
thú cho các cháu nhỏ.
GV, cha mẹ học sinh có thể sử dụng phần mềm như một công cụ hỗ trợ
dạy và hướng dẫn học tập, rèn luyện, vui chơi cho trẻ nhỏ.
Bút chì thông minh là phần mềm đầu tiên của Việt Nam được thiết kế
hoàn toàn cho lứa tuổi mẫu giáo, mầm non và định hướng vào các hoạt động
giáo dục cho lứa tuổi này. Phần mềm có thể dùng tại nhà cũng như tại trường
dưới sự hướng dẫn của cha mẹ học sinh và cô giáo.
* Phần mềm Kids Mart
Là phần mềm giúp phần mềm giúp phát triển tư duy cho trẻ, các trò
chơi trong Kids Mart thích hợp với lứa tuổi mẫu giáo đang học đếm, học phân
biệt màu sắc âm thanh.
Ngôi nhà toán học của Millie dạy trẻ biết cách: Nhận biết, so sánh hình
dạng, kích thước; hoàn thành theo những hình mẫu hay tự sáng tác những