Lễ hội khai hạ ở mường bi với việc phát triển du lịch ở tân lạc, hòa bình - Pdf 31

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Đặng Mỹ Hạnh người đã
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Sư phạm Nhạc họa đã động
viên và tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận. Qua đây em cũng xin
gửi lời cảm ơn tới cán bộ và đồng bào Mường Bi xã Phong Phú huyện Tân Lạc
đã nhiệt tình cung cấp tư liệu cho em.
Do trình độ kiến thức chưa sâu, thời gian thu thập tài liệu tại địa phương chưa
nhiều, người viết còn nhiều thiếu sót trong khóa luận này. Kính mong các thầy cô và
các bạn đóng góp ý kiến để bài khóa luận này được hoàn thiện hơn nữa.

Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Ngô Thị Hải Yến


MỤC LỤC
MỞĐẦU.....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................3
3. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................3
4. Phạm vi nghiên cứu.........................................................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................3
6. Những đóng góp cho khóa luận......................................................................4
7. Nội dung và bố cục khóa luận.........................................................................4
Chương 1 : VĂN HÓA NGƯỜI MƯỜNG ỞMƯỜNG BI HÒA BÌNH VÀ LỄHỘI
KHAI HẠ..................................................................................................................5
1.1. Cơ sở lý luận chung......................................................................................5
1.1.1. Khái niệm về du lịch.............................................................................5
1.2.1. Khái niệm lễ hội....................................................................................5

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với 54 thành phần dân tộc cùng
chung sống trên một lãnh thổ dài và hẹp, có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh
tế xã hội khác nhau. Bên cạnh đó mỗi dân tộc đều chứa đựng những giá trị và
sắc thái văn hóa riêng. Việc phát huy và bảo tồn những giá trị, sắc thái văn hóa
của các dân tộc sẽ góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa việt Nam, củng cố
sự thống nhất của dân tộc, làm cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính
đa dạng văn hóa các dân tộc. Vì vậy việc nghiên cứu văn hóa các dân tộc thiểu
số nói chung và văn hóa của người Mường nói riêng là một vấn đề cấp thiết, nó
không chỉ để bảo vệ, giữ gìn các di sản văn hóa các dân tộc mà còn là sự đòi hỏi
cần thiết trong việc thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc và xây dựng “nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” của Đảng và Nhà nước ta
trong thời đại ngày nay.
Dân tộc Mường là dân tộc có số dân đông. Theo kết quả Tổng điều tra dân
số của Tổng cục thống kê công bố năm 1999 người Mường có số dân là
1.137.515 người trên cả nước. Dân tộc Mường là một trong 53 dân tộc thiểu số ở
việt Nam, Người Mường có nền văn hóa lịch sử lâu đời. Mặc dù đời sống kinh
tế nói chung còn thấp, nhưng bản sắc văn hóa tộc người của họ lại rất phong
phú, đa dạng. Một trong những nét văn hóa của người Mường được lưu giữ và
phát huy đó là nét độc đáo trong lễ hội của họ. Mà nổi bật nhất trong huyện Tân
Lạc cũng như bản Mường đó chính là Lễ hội Khai Hạ ở Mường Bi. Tuy nhiên
việc tổ chức lễ hội ở đây mới chỉ dừng lại ở quy mô là những lễ hội dân gian
mang ý nghĩa văn hóa thuần túy, mà chưa có sự mở rộng hoạt động của các lễ

1


hội thành vật hút của ngành du lịch, hay có cũng chỉ làm một cách hời hợt. Bên
cạnh đó vẫn chưa có sự kết hợp giữa các lễ hội nơi đây với những tài nguyên du
lịch khác của địa phương để phát triển mạnh mẽ hoạt động du lịch. Hay nói cách
khác việc sử dụng tài nguyên văn hóa - lễ hội đưa vào khai thác trong du lịch

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
a). Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu các đặc điểm văn hóa của người Mường Bi ở Hòa Bình gắn với
lễ hội Khai Hạ. Trên cơ sở đó phát triển tiềm năng của Lễ hội Khai Hạ đối với
sự phát triển du lịch ở Tân Lạc - Hòa Bình.
b). Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát về văn hóa Mường Bi
- Nghiên cứu về vai trò của văn hóa tộc người với sự phát triển du lịch
- Miêu thuật về Lễ hội Khai hạ của người Mường Bi
- Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn, khai thác và phát huy Lễ hội Khai Hạ
đối với phát triển du lịch ở Tân Lạc - Hòa Bình.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Lễ hội Khai Hạ ở Mường bi với việc phát triển du lịch ở Tân Lạc - Hòa
Bình.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu trường hợp lễ hội Khai Hạ ở Mường bi thuộc địa bàn xã
Phong Phú, Tân Lạc, Hòa Bình trong khoảng thời gian từ năm 1986 cho đến
nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điền rã dân tộc và điều tra xã hội học là hai phương pháp chủ
đạo được sử dụng trong quá trình triển khai các vấn đề nghiên cứu, kết hợp

3


phương pháp chuyên gia, phỏng vấn, phân tích và tổng hợp tài liệu, kế thừa các
kết quả nghiên cứu trước đó.
6. Những đóng góp cho khóa luận
Những kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ đóng góp cho việc khai thác
những đặc trưng văn hóa tộc người Mường ở Mường Bi trong việc bảo tồn và

cho nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt
động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Nhìn chung, các khái niệm về du lịch là không giống nhau, tuỳ thuộc góc
độ của chủ thể và tuỳ thuộc các mốc thời gian mà khái niệm về du lịch có sự
khác nhau. Đối với Việt Nam, theo Luật du lịch năm 2006 định nghĩa: “Du lịch
là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả
mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời
gian nhất định” .
1.2.1. Khái niệm lễ hội
* Khái niệm “lễ”
“Lễ” theo từ điển tiếng Việt là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu
hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó. Trong thực tế “lễ” có
nhiều ý nghĩa và một lịch sử hình thành khá phức tạp. Chữ “lễ” được hình thành
và biết tới từ thời nhà Chu (thế kỷ XII trước công nguyên). Lúc đầu chữ “lễ”

5


được hiểu là lễ vật của các gia đình quý tộc, nhà Chu cúng tế thần tổ tông gọi là
tế lễ. Dần dần, chữ “lễ” được mở rộng nghĩa là hình thức, phép tắc để phân biệt
trên, dưới, sang, hèn, thứ bậc lớn nhỏ thân sơ trong xã hội khi đã phân hoá thành
đẳng cấp. Cuối cùng khi xã hội đã phát triển thì ý nghĩa của “lễ” càng được mở
rộng như lễ Thành hoàng, lễ Gia tiên, lễ cầu an, lễ cầu mưa,…
Do ngày càng mở rộng phạm vi nên đến đây “lễ” đã mang ý nghĩa bao quát
mọi nghi thức ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội. Như vậy, ta có thể
đi đến một khái niệm chung: “Lễ” là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu
hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ
chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng
thựchiện.
* Khái niệm “hội”

1.2.1.Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên ở Mường Bi
* Vị trí địa lí:
Mường Bi, thuộc huyện Tân Lạc, là một huyện miền núi có vị trí chiến
lược quan trọng nằm ở phía Tây của tỉnh Hòa Bình, cách Hà Nội 100km. Địa thế
đẹp là nơi có nhiều đầu mối giao thông chủ yếu nối với quốc lộ 1A, là nơi có
mạng lưới giao thông thuận tiện về cả đường bộ và đường sông như quốc lộ 6,
vùng sông đà…là cửa ngõ ra vào của vùng Tây Bắc.
Mường Bi (huyện Tân Lạc) có tọa độ địa lý ở vào khoảng 20 020’95” 20035’95” vĩ độ Bắc; 10506’25” - 105023’23” kinh độ Đông. Phía Bắc Mường Bi
giáp huyện Đà Bắc (Hòa Bình); phía Nam giáp huyện Lạc Sơn (Hòa Bình); phía
Đông giáp huyện Cao Phong (Hòa Bình); phía Tây giáp tỉnh Thanh Hóa.
* Đặc điểm tự nhiên:
Địa hình Tân Lạc khá đa dạng , độ cao trung bình so với mặt nước biển từ
200-300m, nơi cao nhất là 1200m. Địa hình thấp dần về phía Đông Nam và chia

7


là 3 vùng. Vùng cao gồm 5 xã: Quyết Chiến, Lũng Văn, Nam Sơn, Bắc Sơn,
Ngổ Luông. Độ cao trung bình từ 600-800m. Vùng này bị chia cắt bởi các dãy
núi đá vôi, có độ dốc lớn xen giữa các thung lũng nhỏ nằm rải rác theo các
dòng suối nhỏ. Vùng giữa gồm 4 xã: Ngòi Hoa, Trung Hòa, Phú Vinh, Phú
Cường có độ cao trung bình từ 200-300m. Vùng thấp gồm 14 xã còn lại và thị
trấn Mường Khến.
Khí hậu, Thời tiết: Mường Bi (Tân Lạc, Hòa Bình) có khí hậu nhiệt đới gió
mùa, một năm phân thành hai mùa khá rõ rệt. Mùa mưa nóng ẩm và mùa khô
mát lạnh, nhiệt độ trung bình hằng năm 22,9 0C, nhiệt độ cao nhất trung bình
27,80C, nhiệt độ thấp nhất trung bình 19,80C. Nhiệt độ giữa các vùng có sự khác
nhau, ở vùng cao nhiệt độ các tháng lạnh nhất thấp hơn vùng thấp từ 20 - 30 0C
và mùa đông đến sớm, kết thúc muộn.
Lượng mưa trung bình hàng năm tương đối cao, thường vào khoảng trên

1.3.1. Quá trình lịch sử
Sự phân bố dân cư Mường ở Hòa Bình gắn liền với nguồn gốc lịch sử,
môi trường tự nhiên của khu vực cũng như tập quán sản xuất và sinh hoạt của
dân tộc Mường.
Là chủ nhân lâu đời nhất của mảnh đất Hòa Bình, ngay từ thời xa xưa
người Mường đã cư trú ở khắp các huyện thị trên địa bản tỉnh, nhưng mức độ
phân bố không đồng đều cả về số lượng dân và mật độ dân số
Tại Hòa Bình, người Mường tập trung ở những khu vực có địa hình thấp,
độ cao trung bình là 300m, nơi mà trước kia các trung tâm trù phú nhất của
người Mường ở Hòa Bình với những cái tên như: Mường Bi (Tân Lạc), Mường
Vang (Lạc Sơn), Mường Thàng (Kỳ Sơn), Mường Động (Kim Bôi).

9


1.3.2.Đặc điểm văn hóa xã hội
Nhìn chung mỗi dân tộc đều có cơ cấu và tổ chức xã hội riêng cho dân tộc
mình. Tuy nhiên hệ thống tổ chức chính quyền của dân tộc lại có sự khác biệt.
Tổ chức xã hội cổ truyền của người Mường nằm chính ngay trong tên gọi
của dân tộc Mường. Mường được hình thành bởi nhiều xóm làng, mỗi làng có
một địa vực một phạm vi đất đai, nương rẫy núi rừng riêng và quan hệ trong
làng bản chủ yếu là mối quan hệ địa vực, láng giềng lấy đơn vị nhà (gia đình) là
nền tảng.
Ngày nay người Mường sống quần cư thành làng bản (tương đương với
ngày nay là xóm). Tới thăm bản Mường mới thấy con người ở đây hiền lành,
chất phát. Trong sự tiếp xúc ban đầu còn nhiều e dè nhưng khi đã quen nhất là
hiểu biết về nhau họ có thể tâm sự từ việc gia đình đến việc suy nghĩ của họ về
bản làng, quan hệ xã hội, xu hướng phát triển của người Mường hiện nay.
Đời sống tinh thần của người dân nơi đây rất phong phú từ nghệ thuật dân
gian đến phong tục tập quán, trong sinh hoạt cũng như tín ngưỡng tôn giáo.

những người đã có công bảo vệ sự sinh tồn của họ. Họ thờ cả Vua Bà và Tam
Thánh Tản Viên vì họ nghĩ rằng tuy đã đến nới mới an cư lạc nghiệp, song Vua
Bà vẫn luôn dõi theo và ủng hộ họ.
Đồng thời núi rừng vốn là nơi sống của phu thê Sơn Tinh, là chỗ hóa của
hai anh em họ nên có thể hiểu rằng Sơn Tinh là thần cai quản của núi rừng và
chỉ khi được sự cho phép của thần và Vua Bà (Theo truyền thuyết vốn là mẹ của
Sơn Tinh), thì mọi người mới được vào rừng hái lương thực, thực phẩm, tài sản
mà bấy lâu thần đã chăm sóc và nay ban cho dân làng.
Lễ hội Khai hạ của Mường Bi là lễ hội điển hình của tỉnh Hòa Bình, đây
là lễ hội lớn nhất được các nghành các cấp quan tâm. Đặc biệt khi đến với lễ hội

11


chúng ta sẽ chìm đắm trong tiếng cồng chiêng vang dậy cả đất trời với 450 chiếc
chiêng. Nơi đây còn quy tụ những trò chơi dân gian đặc sắc như: trọi gà, bắn
cung, giã gạo, ném còn...là địa điểm đặc trưng cho cả đất Mường Hòa Bình vì
đây là trung tâm của Mường Bi.
* Thời gian, không gian diễn ra lễ hội
Thời gian diễn ra lễ hội
Lễ hội Khai hạ ở Mường Bi diễn ra vào 2 ngày mồng 7 và mồng 8 tháng
Giêng âm lịch, tức ngày mồng 6, mồng 7 tháng tư theo lịch Mường Bi hàng năm.
Đây là thời kỳ có khí hậu ấm áp lại có mưa xuân nên đó là điều kiện tốt để
cây trồng phát triển. Đồng thời lúc này cấy trong rừng như măng, nấm, rau rừng
mới đến thời thu hoạch, muông thú thì sum vầy cũng dễ dàng săn bắt. Do vậy
mà sau khi lễ hội diễn ra thì dân làng mới được vào rừng săn bắt hái lượm và
xuống đồng làm cỏ bón phân mong ước có một mùa màng bội thu. Hơn nữa đây
cũng là thời điểm nghỉ ngơi của các tầng lớp trong xã hội, là dịp trở về tổ ấm gia
đình của những người đi xa với không khí rộn ràng của ngày xuân năm mới
cùng với lễ hội của các xã, các huyện láng giềng cũng diễn ra vui vẻ.

vừa đi vừa đánh chiêng, tiếng nọ nối tiếp tiếng kia cứ thế đánh liên hồi với nhịp
độ nhanh thôi thúc. Có lúc lại thay đổi tiết tấu theo kiểu 3 tiếng một. Khi con thú
xuất hiện mọi người vừa reo hò vừa thúc chó đuổi dồn. Lúc bắn được thú người
ta đánh ba hồi chiêng và tiếp theo từ 5 đến 7 hoặc 8 tiếng lại dùi. Sau đó họ đánh
chiêng thong thả từng tiếng một về tới tận xóm. Nếu trường hợp con thú chạy
thoát thì họ không đánh chiêng khi ra về mà chỉ đánh chiêng báo hiệu cho chó
săn quay về.
Buổi sáng hôm đó người dân trong xóm Lũy, xóm Lầm, xóm Ải, cả đám
con trai không phân biệt già trẻ, ai có thể trèo đồi leo núi được c ùng kéo nhau đi
săn. Một người săn giỏi (gọi là trùm săn) của người Mường cùng các cụ già có
kinh nghiệm, bàn định hướng xuất phát làm ăn và chọn điểm ăn. Sau đó, mọi
người tưng bừng reo hò cùng ông trùm săn theo hướng đã định đến một quả đồi
13


hay một khu rừng, mọi người tỏa ra vây quanh khu rừng đó. Những thợ săn giỏi
có súng, kíp hoặc chiếc nỏ nhanh chân tìm chỗ đón lõng ở các khe, các lối mòn
mà thú hay đi. Những người khác khép kín dần vòng vây, hò hò reo hú inh ỏi
đuổi bắt thú, tay cầm lao hoặc một cây gậy nhỏ. Nhiều người cầm loại cồng nhỏ
đánh theo điệu đi săn, những chú chó của làng, của Mường theo hiệu lệnh cồng
săn vượt lên sục sạo các bụi rậm đánh hơi thú.
Tiếng cồng săn dồn dập, tiếng hò reo vang dậy, tiếng chó sủa chói tai cuốn
hút bước chân người, tất cả tạo thành một âm hưởng sôi động của cuộc sống
cộng đồng bước vào mùa làm ăn mới. Thú rừng bị vòng vây khép kín dồn dần
vào một nơi, trước là bị chó tấn công, sau là người ùa tới dùng gậy nhọn, cây lao
chặn đánh. Cũng có khi không đợi tới lúc dồn vào một chỗ, những con thú ranh
mãnh phóng ngược lại hướng tiến của con người. Lúc ấy, mọi người không bỏ
vây mà chỉ số ít người tách ra đuổi theo con thú. Thường chỗ con thú không
thoát được lại là chỗ nấp đón chỉ đợi thú chạy vào tầm ngắm là nổ súng tiêu diệt.
Hội Tọoc Moong rất vui, thu hút nhiều người tham gia. Nếu buổi săn hôm

01 bát cơm tẻ
01 đôi đũa
01 chén rượu
01 chai rượu
01 bát nước lã, trên miệng chén đặt một tăm nằm ngang
01 đĩa muối
01 đĩa trầu cau một miếng

15


Mâm bên phải:
01 lá canh (cỗ thịt hoẵng bày trên lá chuối)
04 bát cơm tẻ
04 đôi đũa
04 chén
01 chai rượu
01 bát nước lã, trên miệng để 4 chiếc tăm nằm ngang
01 đĩa muối
01 đĩa trầu cau có bốn miếng
Mâm bên trái:
01 lá canh (cỗ thịt hoẵng bày trên lá chuối)
02 bát cơm tẻ
02 đôi đũa
02 chén
01 chai rượu
01 bát nước lã, trên miệng bát có đặt 2 chiếc tăm nằm ngang
01 đĩa muối
01 đĩa trầu cau có 2 miếng
Cỗ cúng được bày trên các mâm gỗ, lót ngọn lá chuối tươi. Thịt hoẵng

rượu được uống bằng cần, cần được làm từ thân cây trúc hoặc được làm từ thân
cay may được dùi lỗ. Số que cắm vào hũ rượu bao giờ cũng phải là số chẵn. Tùy
theo số lượng người uống mà cắm từ 2,4,6,8…cần. Và số que cắm cũng thể hiện
sự cầu mong cho sự phát triển, sự sinh sôi nảy nở.

17


Lựa chọn phân công nhân sự
Bộ máy điều hành: Do nhà Lang và người già trong làng tổ chức
Những người tham gia cúng tế: Trước hết nhà Lang đứng ra cử một ông
thầy mo có uy tín nhất và thành thạo việc cúng tế trong vùng.
Những người tham gia đón rước các vị thần: đội cờ gồm 4 người, phường
bát âm gồm 8 người, đội cồng chiêng 12 người, đội kiệu gồm 4 người trong đó 1
người chỉ huy kiệu.
Chuẩn bị về trang phục
Trang phục của thầy mo: áo chùng đen, quần nâu, đầu đội mũ có mào viền
đỏ, tay cầm quạt giấy đi chân đất.
Trang phục rước: Mặc quần áo trang phục của dân tộc Mường, những bộ
mới nhất, đẹp nhất.
Trang phục dự hội của nam:
* Đối với tầng lớp quyền quý: Khi đi dự lễ hội Khai Hạ, nhà Lang và các
ậu trong vùng thường mặc những bộ quần áo mới. Thường là áo cánh ngắn mặc
ở trong, áo chùng dài khoác ở ngoài. Sang trọng là áo lụa tím, xanh hoặc vàng tơ
tằm, cổ cao, cài khuy bên sườn nách. Quần ống què màu trắng hay màu xanh tím
than. Đầu đội khăn xếp màu đen.
* Tầng lớp dân thường: Áo cánh màu nâu hoặc màu đen, cổ tròn xẻ tà hai
bên hông giống áo bà ba của dân tộc Kinh, quần cạp thắt dải rút bằng vải thô
nhuộm chàm hay màu nâu, may kiểu ống què quần áo đẹp hơn ngày thường.
Đầu đội khăn, khăn dài gấp 3 lần vòng đầu.

Hoàng Bà và Tam Vị Tản Viên Sơn Thánh từ bờ suối Lồ - nơi Quốc Mẫu Hoàng
Bà về trời, cách miếu khoảng 2km.

19


Đội hình rước như sau:
Thầy mo dẫn đầu đi trước
Tiếp theo là đội cờ
Tiếp theo là phường bát âm
Tiếp theo là đội cồng chiêng
Cuối cùng là đội kiệu
Sau kiệu là các quan viên, chức sắc và bà con nhân dân.
Trong suốt buổi rước, chiêng trống luôn hòa tấu rộn ràng. Khi tới nơi tại bờ
suối đã trải sẵn hai chiếc chiếu hoa, trên chiếu thứ nhất đặt đĩa trầu cau têm hình
cánh phượng, kiệu được đặt trên chiếu thứ hai, đoàn rước xếp hàng hai bên. Rồi
ông mo thắp hương khấn mời Quốc Mẫu Hoàng Bà và Tam Vị Tản Viên Sơn
Thánh về dự lễ Khai hạ với dân làng. Nội dung bài khấn tóm tắt như sau:
“Hôm nay….là ngày,…tháng,…năm…,con là…thay mặt cho dân làng
Mường Bi, mời Quốc Mẫu Hoàng Bà và Tam Vị Tản Viên Sơn Thánh về dự lễ
với dân làng”.
Sau khi khấn xong, ông mo tiến hành xin cảo (xin âm dương), chiếc cảo
làm bằng cật tre, cây nào 3 ngọn mới được chọn làm que cảo, dài tầm 3cm, rộng
0.8cm, trên thân que cảo có khắc mặt đánh dấu mặt trái, mặt phải nhằm hiển thị
cho mặt trăng và mặt trời. Sở dĩ cây tre có 3 ngọn vì nó tượng trưng cho 3 tầng
của vũ trụ: địa phủ, trần gian, thiên đường.
Khi ông mo xin gieo cảo, tay phải cầm cảo, tay trái cầm quạt giấy, vừa
gieo vừa hỏi Quốc Mẫu đến chưa, nếu đến được thì cho 2 sấp 1 ngửa. Khi xem
cảo mà thấy đúng như vậy thì chứng tỏ Quốc Mẫu đã tới.
Khi tàn một nén hương thì ông mo lại tiếp tục xin âm dương mời các ngài

chơi hội còn tham gia vào các trò chơi dân gian như: ném còn, đánh mảng, kéo

21


co…Vào hai buổi chiều ngày mồng 7 và mồng 8 dân làng tổ chức cuộc vui chơi
tập thể, đó là ngày tự do sôi động nhất, đông người tham gia nhất.
Đối với lễ hội Khai hạ các trò chơi đóng vai trò quan trọng, chúng góp
phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo cho lễ hội mà các lễ hội khác không có.
Các trò chơi còn làm cho lễ hội Khai hạ có sức hấp dẫn lôi kéo mạnh mẽ, đông
đủ mọi người tham gia. Các trò chơi có tác động mạnh mẽ sâu sắc đến tình cảm
của đồng bào, góp phần xây dựng tính cách mà tâm hồn của người Mường cũng
như các dân tộc anh em, luôn nhắc nhở truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” từ
ngàn đời nay ông cha ta đã dạy. Hơn nữa các trò chơi này luôn hướng con người
hướng thiện, luôn sống tốt đẹp. Các trò chơi góp phần làm phong phú thêm văn
hóa truyền thống của dân tộc.
1.4.3. Một số biến đổi của Lễ hội Khai Hạ hiện nay
Hàng năm cứ mỗi độ tết đến xuân về vào dịp mùng 8 tết âm lịch người dân
Mường Bi, huyện Tân Lạc lại tập hợp nhau về miếu thờ tại xóm Lũy xã Phong
Phú tổ chức lễ hội Khai Hạ đầu năm mới. Trong lễ hội Khai hạ được chia làm
hai phần , phần lễ và phần hội. Phần lễ là hoạt động thờ cúng Thành Hoàng,
phần hội là các hoạt động vui chơi văn hóa, biểu diễn nghệ thuật, các trò chơi
dân gian. Đây cũng là nơi đất đai trù phú, mùa màng quanh năm tươi tốt, địa
hình thể hiện đặc tính thung lũng, nhưng bằng phẳng hơn địa hình các vùng
khác, nên được chọn là nơi đặt miếu thờ và tổ chức lễ hội Khai Hạ hàng năm.
Trong lễ hội Khai Hạ ngày này do nhiều yếu tố tác động nên phần nào nghi
thức lễ trong lễ hội Khai Hạ cũng có sự ảnh hưởng. Trước đây phần cúng lễ
được tiến hành từ ngày mùng 7, thì nay phần lễ rút gọn tiến hành vào sáng ngày
mùng 8 sau đó là phần hội được tiến hành luôn. Và trước kia phải làm lễ rước
Thánh ở bờ suối thì nay lễ rước Thánh được đưa ra ngay sân vận động ở gần đó,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status