HOÀN THIỆN NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ VÀ XẾP LOẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM THEO MÔ HÌNH CAMEL - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2012

Tên công trình:

HOÀN THIỆN NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ VÀ
XẾP LOẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI
VIỆT NAM THEO MÔ HÌNH CAMEL
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 1 (KD1)

Hà Nội, 2012


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2012

Tên công trình:

HOÀN THIỆN NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ VÀ
XẾP LOẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI
VIỆT NAM THEO MÔ HÌNH CAMEL
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lí 1 (KD1)

Họ và tên sinh viên:
Đỗ Trần Hiếu


Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTMCP

Tổ chức kinh tế

TCKT

Tổ chức tín dụng

TCTD

Việt Nam

VN

Hội đồng quản trị

HĐQT

Ban kiểm soát

BKS


Mục lục
Mục lục...............................................................................................................................................ii
Danh mục bảng..................................................................................................................................iv
Danh mục hình...................................................................................................................................v

.........................................................................................................................................................44
3.1Đề xuất nhằm hoàn thiện bộ chỉ tiêu đánh giá........................................................................44
3.2Đề xuất các giải pháp hỗ trợ....................................................................................................46
3.2.1Đề xuất phương pháp kiểm tra độ căng thẳng (stress test) áp dụng mô hình VAR (Vector
Autoregression) đối với các kết quả thu được từ hệ thống đánh giá và xếp loại NHTMCP VN
hiện hành (CAMEL) trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế.........................................................46
3.2.1Đề xuất nhằm nâng cao tính minh bạch và tuân thủ kỉ luật thị trường............................48
Tổng kết............................................................................................................................................50
Phụ lục..............................................................................................................................................51
Danh mục tài liệu tham khảo............................................................................................................68


Danh mục bảng
Trang

Tên bảng
Bảng 1.2.1A. Khoảng thời gian trung bình giữa các lần kiểm tra
của cơ quan giám sát đối với các NH được xếp hạng qua mô hình
CAMEL
Bảng 1.2.1B. Nội dung mô hình CAMEL áp dụng tại Mỹ
Bảng 1.2.2A. Xếp hạng năng lực cạnh tranh của các NH châu Á
Bảng 1.2.2B. Các thành phần trong mô hình CAMEL áp dụng tại
Ấn Độ
Bảng 1.2.2C. Trọng số từng thành phần trong mô hình CAMEL
áp dụng tại Ấn Độ
Bảng 1.2.3A. Ma trận xếp loại tổng hợp các tiêu chí theo quy định
Bảng 1.2.3B. Các thành phần trong mô hình CAMELS áp dụng
tại Indonesia
Bảng 2.2.2A. Vốn chủ sở hữu BIDV: 2010-2011
Bảng 2.2.2B. Phân loại nợ BIDV: 2009-2011

System 1997, trang 1)
• Mô hình CAMEL cho phép dự đoán các rủi ro NH gặp phải trước một
vài tháng so với việc dự đoán dựa theo các yếu tố thị trường bên ngoài.
(DeYoung và ctv, 1998)
• Dr.K.Sriharsha Reddy (2012) kết luận rằng mô hình CAMEL có ưu
điểm vượt bậc so với các mô hình đánh giá trước đây về các phương
diện: tần suất đánh giá, độ bao phủ cũng như mức độ tập trung về các
mặt hoạt động của NH.
• Dr.D.Maheshwara Reddy và K.V.N.Prasad (10/2011)chỉ ra rằng mô
hình CAMEL là thước đo toàn diện về chất lượng hoạt động của các
NH.


Trong khi đó, mô hình CAMEL mới được áp dụng ở nước ta kể từ năm
2008 và chưa có nhiều bài nghiên cứu về vấn đề áp dụng mô hình CAMEL ở
Việt Nam. Luận văn của nghiên cứu sinh Đăng Uyên (2011), chỉ ra rằng mô
hình CAMEL tại Việt Nam còn nhiều hạn chế và cần hoàn thiện thêm.
2. Tính cấp thiết của đề tài
NH là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Hệ thống NH có thể bao gồm nhiều loại hình NH tùy thuộc vào sự phát triển
của nền kinh tế cũng như của hệ thống tài chính. Trong đó, ngân hàng thương
mại (NHTM) thường chiếm tỉ trọng lớn về quy mô tài sản, thị phần và số
lượng NH.
Bối cảnh nền kinh tế toàn cầu vẫn đang diễn biến khó lường và sẽ còn tiếp
tục ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế VN, chủ yếu thông qua sự sụt giảm của các
hoạt động xuất khẩu hay sự biến động của giá vàng, giá nguyên liệu. Thêm
vào đó, những bất ổn từ bên trong như lạm phát cao, cơ cấu các ngành kinh tế
và phân phối vốn bất hợp lí, năng lực cạnh tranh thấp, khả năng quản lí yếu
kém cũng đặt hệ thống NHTM vào tình trạng cần phải luôn sẵn sàng ứng phó
với những nhân tố từ cả trong lẫn ngoài nước.

3. Mục tiêu nghiên cứu
• Đánh giá thực trạng việc áp dụng mô hình CAMEL tại VN.
• Đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống đánh giá, xếp loại
NHTM tại VN theo mô hình CAMEL.


4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu bài viết có sử dụng phương pháp phân tích
định tính.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống đánh giá, xếp loại NHTM tại VN theo
mô hình CAMEL.
• Phạm vi thời gian: Từ tháng 3/2008 đến tháng 4/2012.
6. Kết cấu đề tài
Nội dung đề tài nghiên cứu khoa học được trình bày thành các chương như
sau:
Chương 1: Lý luận chung về mô hình CAMEL trong việc đánh giá và xếp
loại NHTM. Chương một giới thiệu những vấn đề cơ bản về mô hình
CAMEL , nêu ra vai trò của mô hình CAMEL trong việc đánh giá và xếp loại
NHTM và tổng hợp kết quả, kinh nghiệm từ việc áp dụng mô hình CAMEL
tại một số quốc gia trên thế giới.
Chương 2: Thực trạng áp dụng mô hình CAMEL để đánh giá và xếp loại
NHTM tại VN. Chương hai đánh giá thực trạng áp dụng mô hình CAMEL tại
VN để tìm ra những thành công và hạn chế của việc áp dụng mô hình CAMEL
ở VN.
Chương 3: Đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống đánh giá, xếp loại NHTM
tại VN. Chương ba tập trung vào việc đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện
các thiếu sót đã nêu ở phần trên.



này trong việc quản lý, giám sát hệ thống NH.
Công trình nghiên cứu của Cole và Gunther (1998) về dự đoán sự đổ vỡ
của NH đã chứng minh vai trò của mô hình CAMEL trong việc cung cấp
những thông tin phân tích, dự báo quan trọng. Mặc dù vậy, các tác giảcũng
đưa ra cảnh báo về hiệu lực của những thông tin này. Cụ thể, trong giai đoạn
1988 tới 1992, mô hình CAMEL không thể đưa ra những dự báo chính xác về
nguy cơ đổ vỡ của NH khi so sánh với mô hình thống kê sử dụng những dữ
liệu tài chính công bố trong khoảng thời gian 6 tháng trở lại.
Hirtle và Lopez (1999) nghiên cứu về tầm quan trọng của những kết quả
tính toán thu được từ mô hình CAMEL trong quá khứ đối với việc đánh giá
tình hình hiện tại của NH, cả về mức độ rủi ro cũng như kết quả hoạt động. Họ
chỉ ra rằng những báo cáo thanh tra, giám sát được tổng hợp bằng mô hình
CAMEL (mặc dù không công khai) luôn giúp những nhà quản lý có một cái
nhìn sâu hơn vào nội bộ NH, ví dụ như những quy trình quản lý nội bộ hay
quản trị rủi ro. Trong giai đoạn 1989 tới 1995, những kết quả phân tích sử
dụng mô hình CAMEL luôn có giá trị từ 1,5 cho tới 3 năm trong việc đánh giá
tình hình hiện tại của NH. Do đó, tần suất của hoạt động thanh tra, giám sát
cũng nên được điều chỉnh sao cho phù hợp với tính hiệu lực của kết quả áp
dụng mô hình CAMEL.
Có thể nói, việc đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu giám sát cũng chính là đảm
bảo cho sự ổn định của NH. Sự ổn định của NH có thể được biểu hiện thông
qua nhiều khía cạnh, song thông qua CAMEL, 2 khía cạnh rõ ràng nhất cần
được đánh giá chính là hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay của NH.
Yếu tố tiếp theo cần được lưu tâm là tính an toàn, được biểu hiện qua các mặt
chủ yếu: khả năng thanh khoản quyết định các mức dự trữ nhằm đảm bảo dự


trữ bắt buộc hay thậm chí dự trữ quá mức; an toàn về vốn là việc các NH cần
đảm bảo chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu (CAR); và cuối cùng là tỉ lệ nợ xấu.
Vai trò trong việc hỗ trợ giám sát NH của công chúng (public monitoring)

(1998), đã chỉ ra vai trò của những kết quả thanh tra nội bộ trong việc định giá
các khoản nợ thứ cấp. Các tác giả này sử dụng mô hình kinh tế lượng và ước
tính những nhóm chỉ tiêu của mô hình CAMEL bằng phương trình hồi quy
cho giá trái phiếu nợ thứ cấp. Họ kết luận rằng các nhóm chỉ tiêu của mô hình
CAMEL (các biến độc lập) đóng một vai trò quyết định trong việc giải thích
sự thay đổi của giá trái phiếu (biến phụ thuộc) trong khoảng thời gian 6 tháng.
Đặc biệt, công trình nghiên cứu của Berger và Davies (1998), về mô hình
CAMEL, đã đưa ra một phát hiện tương đối thú vị. Khi kết quả thanh tra hạ
bậc xếp hạng dựa theo mô hình CAMEL của NH, điều này thường dẫn tới
việc công bố những thông tin không lạc quan về tình hình hoạt động của NH
ra thị trường.
Tóm lại, hoạt động thanh tra tại chỗ, với sự hỗ trợ của mô hình CAMEL, có
thể đưa ra những thông tin hữu dụng và đáng tin cậy hơn những thông tin mà
các nhà đầu tư có thểnắm trong tay. Không chỉ có vậy, sử dụng mô hình
CAMEL tự đánh giá, các NHTM có thể tìm ra những yếu điểm cần khắc phục
của mình để cải thiện và nâng cao chất lượng hoạt động.
1.1.2

Nội dung của mô hình CAMEL trong việc đánh giá và xếp

loại NHTM
Ở mục này, tác giả xin giới thiệu tóm tắt nội dung mô hình CAMEL (theo
nguyên bản của Mỹ) và tổng kết, đối chiếu với nội dung mô hình CAMEL
đang được áp dụng tại Việt Nam theo quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN.


Vốn tự có (Capital adequacy)
Vốn tự có dùng để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của NH. Việc đối mặt
với nhiều rủi ro (rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động) đòi hỏi NH
phải có mức vốn tự có lớn để hỗ trợ hoạt động kinh doanh và bù đắp những

• Tỉ lệ tài sản có sinh lời
• Tỉ lệ phản ánh chất lượng các khoản cam kết ngoại bảng
Năng lực quản trị (Management quality)
Năng lực quản trị là khả năng của hội đồng quản trị và ban điều hành trong
việc quản lí rủi ro và bảo đám tính an toàn, hiệu quả trong hoạt động kinh
doanh của NH tuân theo pháp luật hiện hành. Nhiều nhà phân tích cho
rằngnăng lực quản trị là yếu tố quan trọng nhất trong mô hình CAMEL, bởi vì
năng lực quản trị đóng vai trò quyết định đến thành công của NH.
Để đánh giá năng lực quản trị cần dựa vào 4 tiêu chí sau
• Chiến lược kinh doanh, tình hình tài chính
• Kiểm soát nội bộ
• Khả năng chỉ đạo của ban điều hành
• Dịch vụ cho khách hàng
(tham khảo tại phụ lục 1.2.1. Kinh nghiệm của Mỹ - Bảng 1.2.1B)
Tại Việt Nam, theo quyết định 06/2008/QĐ-NHNN, các chỉ số và yếu tố
chính của thành phần này trong mô hình CAMEL bao gồm:


• Số lượng thành viên HĐQT, BKS
• Quy chế nội bộ và thực thi, bao gồm cơ cấu tổ chức, hệ thống kế toán,
kiểm toán nội bộ.
• Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và tư cách đạo đức nghề nghiệp, xã
hội của ban điều hành và những người phụ trách chính
• Quy định về cổ đông, cổ phần, và cổ phiếu
• Tình trạng kiểm soát đặc biệt
Kết quả hoạt động kinh doanh (Earning ability)
Lợi nhuận là một tiêu chí để đánh giá hiệu quả công tác quản trị NH. Lợi
nhuận giúp gia tăng nguồn vốn của NH, bên cạnh đó lợi nhuận cao còn là một
lợi thế trong việc thu hút các nhà đầu tư trong tương lai. Lợi nhuận còn có thể
dùng làm nguồn bù đắp tổn thất từ các khoản nợ xấu và bảo đảm mức trích lập

1.2.1

Kinh nghiệm của Mỹ

Mô hình CAMEL được đưa ra và áp dụng lần đầu tiên ở Mỹ vào đầu những
năm 1970, khi chính quyền liên bang quyết định phát triển một công cụ giám
sát hiệu quả nhằm cấu trúc lại toàn bộ quá trình giám sát các NH, trong đó bao
gồm quá trình thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa (on-site and off-site
surveillance). Việc phát triển CAMEL dựa trên 2 công cụ phân tích vốn có:
các màn hình giám sát (supervisory screens) và các mô hình kinh tế lượng
(econometric models). Các màn hình giám sát là sự kết hợp các chỉ số tài
chính được rút ra từ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập trong quá khứ
để đưa ra các dự báo trước về các vấn đề an toàn và lành mạnh của NH. Sau


đó các giám sát viên sử dụng kinh nghiệm để xem xét cẩn trọng và đánh giá
nội dung thông tin từ các chỉ số. Các mô hình kinh tế lượng cũng kết nối các
thông tin từ các chỉ số tài chính, tóm tắt lại các thông tin về tình hình NH qua
báo cáo kế toán, sau đó nhờ sự hỗ trợ của máy tính để đưa ra kết quả hợp lý.
Những kết quả này có thể sử dụng để dự đoán khả năng một NH có thể phá
sản, hoặc xuống hạng trong tương lai gần.
Tiếp theo vào năm 1979, Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ
(FDIC) đưa ra Hệ Thống Xếp Loại Các Tổ Chức Tài Chính Đồng Nhất (viết
tắt là UFIRS) và được coi là mô hình CAMEL chính thức đầu tiên được áp
dụng. Theo quy định của UFIRS, mỗi NH sẽ được đánh giá và xếp loại trên 5
mặt sau: an toàn vốn, chất lượng tài sản có, năng lực quản trị, kết quả hoạt
động kinh doanh và khả năng thanh khoản. Điểm xếp hạng được quy định từ 1
tới 5, mỗi mức điểm đều có những nhận xét và đánh giá tương ứng. Cụ thể,
nếu NH đạt mức điểm 1 trong thang điểm của CAMEL chứng tỏ NH đó ở
trong tình trạng ổn định và phát triển tốt xét theo các mặt được đánh giá. Để

(đơn vị: ngày)
Năm
1979
1980
1981

Phân loại ngân hàng theo thang thang điểm CAMEL
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Mức 5 Tất cả các NH
392
456
493

396
460
482

338
402
342

285
312
279

257
286
236

379
450


446
450
499
596
656
597
497
487
436
412
396
379
357

321
309
327
369
407
386
376
373
331
323
319
296
296

262

564
609
556
477
466
411
385
373
363
354

Nguồn: FDIC, FRB, and OCC.

Từ bảng trên cho thấy từ 1980 tới 1986, khoảng thời gian trung bình giữa
các lần kiểm tra đối với một NH nói chung của cơ quan giám sát tăng từ 379
ngày tới 609 ngày. Trong đó, với các NH được xếp hạng cao (1 hoặc 2) con số
này tăng lên đáng kể, từ 392 ngày tới 845 ngày với NH xếp loại 1, 396 ngày
tới 656 ngày với NH xếp loại 2. Với các NH có mức xếp hạng thấp hơn, con
số này có tăng nhưng không nhiều.
Đạo luật UFIRS được chính sửa tiếp vào cuối năm 1996, và mô hình
CAMEL trở thành CAMELS, khi đưa thêm nhân tố S nhằm đánh giá thêm
mức độ nhạy cảm của ngân hàng với những rủi ro thị trường (chẳng hạn sự
biến động của lãi suất có mức độ ảnh hưởng tiêu cực như thế nào đối với các
tổ chức tài chính). Do vậy, CAMEL(S) cho phép đánh giá toàn diện hơn tình
hình tài chính, tình hình quản lý, khả năng hoạt động, và mức độ tuân thủ luật
pháp. Điều này cho phép các nhà quản lý xác định những NH yếu kém trước
khi có bất kì sự đổ vỡ nào xảy ra, đồng thời có những hành động can thiệp kịp
thời.
Cuối năm 1996 cũng cho thấy sự thay đổi trong chính sách công bố thông
tin xếp hạng NH. Thay vì chỉ báo điểm xếp hạng tổng hợp cho NH được đánh

nhiều ý kiến đối lập về vấn đề này. Bởi lẽ, các chỉ số tài chính luôn có những
giới hạn về phạm vi bản thân nó, khi đó việc tồn tại những khoảng trống trong
phân tích chắc chắn sẽ gặp phải, từ đó tạo ra cái nhìn hời hợt, không chính xác
về một vấn đề, hiện tượng. Ở đây chính là mối tương quan, thay thế giữa các
chỉ số tài chính trong một hệ thống chỉ tiêu như CAMEL.
Cuối cùng, việc công bố kết quả xếp hạng NH và các thông tin liên quan
cho tới nay vẫn đang là một chủ đề nóng tại Mỹ khi ngày càng có nhiều những
yêu cầu từ công luận, đặc biệt các nhà đầu tư, các nhà phân ích tài chính đòi
công khai một phần thông tin. Theo đó, các cơ quan chủ quản trong đó có
FDIC đã có những bước đi tích cực khi cho phép các NH công bố một phần
dữ liệu được sử dụng bởi các giám sát viên khi xếp hạng qua mô hình
CAMEL. ("Fixing FDICIA," Báo cáo thường niên 1997, The Region, tháng 3
1998). Tuy nhiên, việc công bố các thông tin xếp hạng ra bên ngoài khó có thể
thực hiện được, bởi lẽ nó tiềm ẩn một số nguy cơ tiềm tàng cho các NH bị
công bố như khiến các NH đó trở nên nhạy cảm với việc xếp hạng, do đó gây
bất lợi cho quá trình kiểm tra sau này.
Bài học kinh nghiệm của Mỹ:
Như đã đề cập ở trên, Mỹ là nước đầu tiên phát triển và ứng dụng mô hình
CAMEL trong việc đánh giá và xếp hạng các NH. Và cho tới nay, CAMEL
vẫn chứng tỏ là một công cụ giám sát hiệu quả và không thể thiếu trong hoạt
động giám sát NH tại Mỹ. Ngược lại, ở VN, mãi tới năm 2008,chúng ta mới
chính thức áp dụng mô hình này để đánh giá và xếp loại các NHTM. Và trong
tương lai, rất cần những lần bổ sung và chỉnh sửa nhằm nâng cao vai trò của
mô hình CAMEL trong việc giám sát các NH tại VN. Ở đây, chúng tôi cố
gắng so sánh mô hình áp dụng tại VN với một mô hình CAMEL tại Mỹ để tìm


ra những điểm khác nhau cơ bản, sau khi loại trừ đi các yếu tố bắt buộc một
mô hình CAMEL phải có.
Trong mô hình của Mỹ, một NH được đánh giá trên năm mặt: tính đầy đủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status