TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2012
BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên công trình:
NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC CỦA DOANH NGHIỆP
XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 2 (KD2)
HÀ NỘI, 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2012
BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên công trình:
NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC CỦA DOANH NGHIỆP
XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Thuộc nhóm ngành: Kinh doanh và quản lý 2 (KD2 )
Họ và tên sinh viên: Trần Vũ Phương Linh
doanh nghiệp này. Chính vì vậy, nghiên cứu này được ra đời nhằm cung
cấp cho người đọc những tri thức đầy đủ và đúng đắn góp phần làm cho
khái niệm doanh nghiệp xã hội không còn là mới ở Việt Nam cũng như cổ
vũ tinh thần những chủ nhân tương lai của đất nước “dám nghĩ dám làm”.
3. Mục tiêu:
Đề tài nhằm làm rõ các mục tiêu cơ bản sau đây:
• Làm rõ thực trạng doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay
• Phân tích những khó khăn của các doanh ngiệp xã hội hiện nay và nguyên
nhân của những khó khăn đó
• Đưa ra các đề xuất với cac đối tượng liên quan nhằm hỗ trợ cho sự phát
triển của các doanh nghiệp xã hội
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
• Đối tương nghiên cứu: doanh nghiệp xã hội mẫu tại Hà Nội và 100 sinh
viên các trường đại học trên địa bàn Hà Nội.
• Nội dung nghiên cứu: khó khăn và thách thức của các doanh nghiệp
xã hội ở Việt Nam
5. Phương pháp nghiên cứu:
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, định lượng và phương
pháp tổng hợp so sánh.
2
CHƯƠNG 1: CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI VÀ SỰ
KHÁC NHAU GIỮA DOANH NGHIỆP XÃ HỘI VỚI CÁC TỔ CHỨC
PHI CHÍNH PHỦ VÀ DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG VÌ LỢI NHUẬN
1.1 Doanh nghiệp hoạt động vì lợi nhuận:
- Định nghĩa doanh nghiệp:
Theo luật doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam số 60/2005/QH11 khoá XI thông qua ngày 29/11/2005:
những cơ sở nhỏ hơn, cuối cũng tới tay những người cần tới.
3
1.3 Doanh nghiệp xã hội:
1.3.1 Định nghĩa:
- Định nghĩa doanh nhân xã hôi:
Doanh nhân xã hội được hiểu là những người tạo nên đột phá, có những ý
tưởng giải quyết các vấn đề xã hội nhằm tạo nên những thay đổi làm cho xã hội
tốt hơn. Điểm khác biệt mấu chốt giữa doanh nhân xã hội và doanh nhân thương
mại nằm ở mục đích kinh doanh của họ. Nếu như mục đích của doanh nhân
thương mại là kiếm lợi nhuận để làm giàu cho chính mình, cho doanh nghiệp thì
mục đích của doanh nhân xã hội cũng là kiếm lợi nhuận nhưng để giải quyết các
vấn đề xã hội như vấn đề việc làm, rác thải hay trẻ em đường phố… Có nghĩa là
lợi nhuận từ việc kinh doanh sẽ quay ngược lại phục vụ cộng đồng chứ không
phải để làm giàu cho cổ đông hay chủ sở hữu.
- Định nghĩa doanh nghiệp xã hội:
Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp với mục tiêu hàng đầu là xã hội,
thặng dư của doanh nghiệp chủ yếu được tái đầu tư cho các hoạt động xã hội
hoặc phát triển cộng đồng, chứ không phải để tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông
và chủ sở hữu.
1.3.2Sư ra đời của doanh nghiệp xã hội:
- Nguyên nhân ra đời của doanh nghiệp xã hội:
Sự ra đời của mọi loại hình doanh nghiệp đều xuất phát từ nhu cầu con
người, sự kỳ vọng của con người, hay thậm chí là những áp lực từ bên ngoài và
sự ra đời của doanh nghiệp xã hội cũng bắt đầu từ những nhân tố này.
Lý do cơ bản tạo tiền đề cho sự ra đời của doanh nghiệp xã hội chính
là mong muốn của con người trong việc cân bằng giá trị kinh tế và giá trị xã hội.
Thêm nữa, áp lực đối với những tổ chức không hoạt động vì lợi nhuận cũng là lý
“Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ”.
(Nguồn: Christian Seelos, Kate Ganly and Johanna Mair, Social
Entrepreneurship: Social Entrepreneurs Directly Contribute to Global
Development Goals)
Có thể thấy rõ mục tiêu 1-về đói nghèo, mục tiêu 3-về bình đẳng giới và phụ
nữ, mục tiêu 7-về môi trường và mục tiêu 8-về phát triển toàn cầu chịu sự ảnh
5
hưởng nhiều nhất từ doanh nghiệp xã hội. Và những mục tiêu còn lại về giáo
dục tiểu học, tỉ lệ tử vong ở trẻ, sức khỏe bà mẹ và các bệnh truyền nhiễm chịu
sự ảnh hưởng thấp hơn và gần như nhau từ phía các doanh nghiệp xã hội.
- Những loại hình doanh nghiệp xã hội phổ biến trên thế giới:
Dưới đây là một vài loại hình doanh nghiệp xã hội phổ biến trong hai thập kỷ
qua.
•
•
•
•
•
•
Doanh nghiệp mang tính xã hội
Hợp tác xã
Quỹ tín thác
Công ty thị trường lao động trung gian
Cộng đồng doanh nghiệp
Công đoàn tín dụng
theo đuổi định
hướng thị trường;
2) Cải thiện điều
kiện kinh tế-xã hội
của các cá nhân
và/hoặc cả xã hội
3) Bền vững về mặt
môi trường/bảo tồn
văn hóa
Nhằm giải
quyết các
vấn đề xã
hội
Chủ yếu dựa
vào các
khoản đóng
góp từ thiện,
các hoạt
động gây
quỹ, quỹ
công và các
nguồn tài trợ
để trang trải
cho các
chương trình
hoạt động và
chi phí hành
chính của
họ.
Phân phối: các lợi
ích kinh tế, xã hội
và/hoặc môi trường
tới các cá nhân
và/hoặc xã hội
Doanh
nghiệp
kinh doanh
truyền
thống
Một mục
tiêu quan
trọng nhất:
Lợi nhuận
Cổ đông
hoặc các
chủ sở hữu
cá nhân hay
gia đình đã
đầu tư vốn
vào doanh
nghiệp
Tích lũy:
Giảm thiểu
chi phí và
tối đa hóa
lợi nhuận
hướng
thị trường (4)
PLN
(2)
Hỗn hợp (3)
DNgXH (1)
DN có
định
hướng
xã hội (5)
Doanh nghiệp xã hội: điển hình là Lifeart
Doanh nghiệp có định hướng xã hội: điển hình là Mai Vn
handicraft
Hỗn hợp: điển hình là công ty KOTO
Phi lợi nhuận: điển hình là chương trình tủ sách dòng họ
Phi lợi nhuận có định hướng thị trường: điển hình là trung tâm Sao
Mai
• Phân bố các doanh nghiệp xã hội theo khu vực địa lý: các doanh nghiệp
xã hội phân bố không đều chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà
Nội hay thành phố Hồ Chí Minh
9
Hình 2.2: phân bố các doanh nghiệp xã hội theo khu vực địa lý
• Tỉ lệ nguồn vốn của các doanh nghiệp: Không như các tổ chức phi lợi
nhuận hay các tổ chức tình nguyện, các doanh nghiệp phải tự lấy lợi
nhuận của doanh nghiệp mình để làm vốn chính (46%) cho các hoạt động
11
kinh doanh về sau, còn lại 50% phần vốn là do tự có hay nhờ các cá nhân
ủng hộ, nhìn chung 50% nguồn vốn này là không ổn định và thay đổi qua
các năm
Hình 2.6: Cơ cấu nguồn vốn của các doanh nghiệp xã hội
( Nguồn CSIP)
2.1.3 Những đóng góp của các doanh nghiệp xã hội Việt Nam:
Theo bà Phạm Kiều Oanh, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ sáng kiến phục vụ
cộng đồng (CSIP) , có 3 đóng góp to lớn mà các DNgXH mang lại cho cộng
đồng đó là: Cung cấp các dịch vụ cho các cộng đồng người nhiễm HIV, người
khuyết tật... Đưa ra giải pháp cho các vấn đề xã hội mà hiện giờ chưa được đưa
các NĐT, các DN, thể chế tài chính chưa chú ý tới như vấn đề năng lượng mới,
vấn đề xử lý rác thải môi trường…Hòa nhập cộng đồng những người yếu thế,
những người nghèo.
Khảo sát cho thấy, các DNXH đã tạo việc làm cho 8588 người trong 2.462
người sống trong hoàn cảnh đặc biệt (HIV, khuyết tật, cai nghiện trở về…); cải
thiện đời sống cho 377678 người ( năm 2011), đóng góp gây ảnh hưởng cho
gần 400 ngàn người sống trong cộng đồng thông qua các chương trình phát triển
giảm nghèo, nâng cao nhận thức và giáo dục cho cộng đồng…Về mặt hiệu quả
kinh tế, doanh thu của các DNXH năm 2011 là 816 tỷ đồng tỷ đồng, nghĩa là
doanh thu chỉ đạt 1.5 tỷ đồng/DNgXH. Sau đó 44,5% lợi nhuận các DN tiếp tục
dùng để đầu tư cho hoạt động phát triển về sau
từ phía các cơ quan chức trách khi mà việc xin giấp cấp phép cho doanh nghiệp
xã hội gặp khó khăn hay việc xin trợ cấp từ phía cơ quan chính quyền.
2.2.3 Năng lực của doanh nhân xã hội còn hạn chế:
Có thể nói doanh nhân xã hội tại Việt Nam đang gặp không ít trở ngại trên
hành trình cống hiến cho xã hội và cộng đồng. Một trong những nguyên nhân cơ
bản gây nên thực trạng hạn chế về năng lực của những doanh nhân xã hội này
chính là tại Việt Nam, sự hỗ trợ mang tính nền tảng và định hướng cho doanh
nhân xã hội còn quá nghèo nàn. Thêm vào đó, mạng lưới doanh nhân xã hội tại
Việt Nam chưa bao quát, chưa phủ sóng được toàn bộ. Vì vậy, DNhXH ít có cơ
hội được tiếp xúc và trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.
13
Khó khăn này gây cản trở rất lớn trong việc vận hành DNXH một cách hiệu quả,
ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của làn sóng DNXH tại Việt Nam.
2.2.4 Khó khăn về việc huy động nguồn lực:
Vấn đề về tài chính đang là rào cản rất lớn đối với sự phát triển của doanh
nghiệp xã hội tại Việt Nam. Một trong những nguyên nhân gây nên thực trạng
này là do khả năng tiếp cận nguồn vốn còn hạn chế. Bên cạnh đó, các nhà tài trợ
như Ford Foundation, SNV, Ngân hàng Thế giới cũng có những khoản tài trợ
nhỏ hỗ trợ doanh nghiệp xã hội trong quá trình khởi sự. Tuy nhiên, những hỗ trợ
này vẫn mang tính tạm thời và không phải doanh nghiệp nào cũng có thể nhận
hỗ trợ.
Khi nói đến vấn đề nguồn lực thường người ta chỉ nghĩ đến nguồn lực về tài
chính nhưng trên thực tế nguồn lực về con người cũng là câu hỏi chưa có lời giải
đáp. Không chỉ năng lực của doanh nhân xã hội Việt Nam còn hạn chế mà cả
nhân viên trong những doanh nghiệp này cũng làm việc chưa hiệu quả do trái
ngành trái nghề. Thực tế là rất khó huy động nguồn nhân lực trong lĩnh vực mới
mẻ này, hơn thế nguồn lực này không ổn định, và rất khó để tìm được người phù
sau: những doanh nhân trẻ tuổi, những nhà hoạt động xã hội có vốn xã hội
phong phú nhưng ít kinh nghiệm kinh doanh, những người có kinh nghiệm kinh
doanh nhưng còn hạn chế về hiểu biết các vấn đề xã hội, những người đi tiên
phong trên con đường doanh nghiệp xã hội. Một thực tế có thể nhận thấy chính
là không phải mọi doanh nhân xã hội đều hạn chế ở một khía cạnh và đều hiểu
biết ở một khía cạnh khác như nhau. Vậy những buổi giao lưu, trao đổi kỹ năng,
kiến thức, những buổi tọa đàm giữa những doanh nhân xã hội, hay thậm chí là
việc đến thăm, đến học hỏi mô hình kinh doanh của những doanh nghiệp xã hội
khác chính là bài học thực tế vô cùng quý giá.
Nhìn ở tương lai xa hơi thì chúng tôi nghĩ rằng Bộ GD-ĐT nên xem xét đến
việc đưa những kiến thức nền tảng về DNXH vào ngay các cấp học như đại học,
cao đẳng hay trung cấp,…để SV có điều kiện hiểu hơn về DNXH và coi nó như
một sự lựa chọn khác nếu có tạo lập doanh nghiệp sau này.
15
4. Tăng cường những chương trình hỗ trợ về nguồn lực:
Dưới góc nhìn của SV, nhóm tác giả nghĩ rằng hàng năm chúng ta nên tổ
chức những cuộc thi nhằm đánh giá mức độ hiệu quả của những DNXH hiện có
trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Từ đó nhà nước có thể xem xét đưa ra
mức hỗ trợ tài chính phù hợp.
Nguyên nhân thứ hai là do khả năng tiếp cận vốn của DNXH còn hạn chế bắt
nguồn từ thực tế là DNXH chưa có được sự quan tâm đúng mức từ phía những
nhà tài trợ. Vì vậy, chúng ta nên có những buổi định hướng tuyên truyền về vai
trò của DNXH, sức ảnh hưởng của DNXH, những đóng góp của DNXH trong
những năm vừa qua để khẳng định một cách có cơ sở về tầm vóc của DNXH tại
Việt Nam, để xóa đi những hoài nghi của những cá nhân, doanh nghiệp khác về
DNXH.
Không chỉ là khó khăn về nguồn tài chính hạn chế, doanh nghiệp xã hội còn