MỤC LỤC
Trang
PHẦN A: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề …………………………………………………………………
2. Mục đích, yêu cầu………………………………………………………….
2.1 Mục đích……………………………………………………………….
2.2 Yêu cầu…………………………………………………………………
3. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………….
4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………..
5. Phạm vi nghiên cứu………………………………………………………..
6. Kết quả nghiên cứu………………………………………………………..
PHẦN B: NỘI DUNG TIỂU LUẬN...............................................................
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN.................................................................................
1.Khái niệm ô nhiễm môi trường……………………………………………
2.Các khái niệm phạm trù……………………………………………………
2.1 Nguyên nhân, kết quả………………………………………………
2.2 Bản chất, hiện tượng……………………………………………….
2.3 Cái chung, cái riêng………………………………………………..
3. Áp dụng các khái niệm phạm trù về vấn đề ô nhiễm môi trường………...
4. Ý nghĩa phương pháp luận……………………………………………….
II. THỰC TRẠNG…………………………………………………………
2.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường trên thế giới…………………………..
2.2 Hiện trạng ô nhiễm nước ở Việt Nam………………………………….
2.2.1 Ở đô thị và các khu sản xuất………………………………………
2.2.2 Ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp……………………
2.2.3 Hiện trạng ô nhiễm nước ở một số sông lớn ở nước ta……………
2.3 Nguồn gốc gây ô nhiễm………………………………………………..
2.3.1 Ô nhiễm tự nhiên …………………………………………………
2.3.2 Ô nhiễm nhân tạo…………………………………………………
i. Từ sinh hoạt……………………………………………………
ii. Từ các hoạt động công nghiệp…………………………………
nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay không chỉ là đòi hỏi
cấp thiết đối với các cấp quản lí, các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của cả
hệ thống chính trị và của toàn xã hội.Vì thế việc điều tra sự ô nhiễm môi trường được
đề ra bức thiết để hiểu rõ mức độ ô nhiễm của môi trường để đề ra giải pháp hợp lý,
giúp nước Việt Nam phát triển vững mạnh và có một môi trường sống tốt cho người
dân.
1.2 Mục đích, yêu cầu:
1.2.1 Mục đích:
Đề tài tiểu luận được viết với chủ đề ô nhiễm môi trường có mục đích nêu ra
những nguyên nhân và hậu quả, làm rõ bản chất và hiện tượng của vấn đề ô nhiễm
môi trường nhằm khơi dậy sự quan tâm của mọi người về vấn đề được xem là cấp
thiết hiện nay. Từ đó mọi người có thể nhận thức được những hậu quả của việc ô
nhiễm môi trường sẽ gây ra cho môi trường sống của chúng ta, thấy được tầm quan
trong của việc giữ gìn môi trường xung quanh chúng ta. Để mọi người có thể đưa ra
những ý kiến và cùng nhau bàn luận tìm ra những giải pháp hiệu quả thiết thực hơn
góp phần vào vịêc bảo vệ môi trường sống của chúng ta ngày càng trong lành và sạch
đẹp hơn.
1.2.2 Yêu cầu:
_ Về hình thức:
+Xây dựng một đề tài tiểu luận hay, hợp lý, thuyết phục được bạn đọc
+Phần thuyết trình phải có kết cấu chặt chẽ, trình bày dễ nhìn, không quá lạm
dụng màu sắc, các dạng trình chiếu
+ Nội dung thuyết trình không quá ngắn, không quá dài mà vẫn thể hiện đầy
đủ nội dung cần thiết quan trọng
+ Hạn chế tối đa mọi sai sót nếu là nhóm thuyết trình sau khi đã được rút kinh
nghiệm từ các nhóm khác.
_ Về nội dung :
+ Đi đúng chủ đề, đi sâu vào và làm rõ chủ đề tiểu luận, các thành viên phải
nắm được khái niệm thế nào là ô nhiễm môi trường nước, vì sao nước lại bị ô nhiễm,
từ đó đua ra các biện pháp giải quyết ô nhiễm nước.
+ Kim loại nặng : Thủy ngân ,cadimi, đồng, kẽm. coban, mangan, niken, chì,
sắt, asen, crom….đều tồn tại trong nước lẫn trầm tích đáy và đều mang tính đọc hại.
+ Các chất phóng xạ :do việc thử vũ khí hạt nhân trên biển của các cường
quốc hạt nhân.Trong biển còn có hiện tượng phú dưỡng và thủy triều đỏ.
+ Các chất thải sinh hoạt nhu bao nilon, nước thải trong quá trình sinh hoạt.
(tắm giặc ,vệ sinh cá nhân…).
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thống kê
a.Mục đích:
_ Nghiên cứu các tài liệu lien quan đến môi trường Việt Nam trong thời kì
trước đây và tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay.
_ Thống kê, trình bày bảng số liệu chỉ tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay.
b.Tiến hành:
_ Nghiên cứu tài liệu, thống kê số liệu, tính tóan sự thay đổi các tính chất môi
trường.
_ Đưa ra các nhận xét về thay đổi môi trường và mức ô nhiễm môi trường
hiện nay.
Phương pháp biện chứng duy vật
a.Mục đích:
_ Điều tra, tìm hiểu mối liên hệ giữa qúa trình đô thị hóa và ô nhiễm môi
trường.
_ Xét sự vận động nói chung về sự phát triển, chuyển biến của hiện tượng ô
nhiễm môi trường dự đóan tương lai của quá trình.
b.Tiến hành:
_ Nghiên cứu, tài liệu về lịch sử của các nước đã phát triển về thời kì đang
phát triển, xem xét vấn đề ô nhiễm môi trường ở nước đó và chuyển biến của nó
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
a.Mục đích
_ Nghiên cứu khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động biến đổi
của môi trường
thiếu nước vào mùa khô”.Đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh hiện nay .
Trong những năm gần đây môi trường thành phố Hồ Chí Minh ngày càng ô
nhiễm trầm trọng hơn . Các nhà máy xí nghệp ngày càng nhiều nhưng hệ thống xử lí
nước thải thì không được chú trọng .
Vì vậy nguồn nước đã được xử lí của các nhà máy vẫn còn ô nhiễm .
Khi nguồn nước bị ô nhiễm thì ảnh hưởng rất lớn đến môi trương xung
quanh , đăc biệt là con người .
Cần phải tìm ra các biện pháp hơp lí nhất để giải quyết vấn đề này . Vì đây là
môi đe dọa lớn của chúng ta .
Nếu không có cách giải quyết hơp lí thì trong tương lai không xa , môi trường
của chúng ta sẽ ô nhiễm trầm trọng . Và đây là một vấn đề cần phải đặt lên hàng
đầu của xã hội Việt Nam.
Phần B: NỘI DUNG TIỂU LUẬN
I. Cơ sở lý luận
1. Khái niệm ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học–
sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước
trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước.
Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo
ngại hơn ô nhiễm đất.
Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác
công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm.
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa:
"Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng
nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông
nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã".
Hiện tượng ô nhiễm nước xảy ra khi các loại hoá chất độc hại, các loại vi
khuẩn gây bệnh, virut, kí sinh trùng phát sinh từ các nguồn thải khác nhau như chất
thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất, các loại rác thải của các bệnh viện, các loại
nước bị ô nhiễm. Sự vô ý thức của người dân trong sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp
cũng gây nên sự ô nhiễm trầm trọng. Nhưng dòng nước này chảy ra biển, cùng với
những vụ tràn dẩu làm cho biển ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng hơn. bên cạnh
những nguyên nhân chủ quan do con người thì còn có nguyên nhân khách quan khác
do thiên tai tạo nên, chẳng hạn như gió bão, lũ lụt, lũ quét...
Tất cả những nguyên nhân trên, chù quan hay khách quan đều sản sinh ra một
kết quả, chính là ÔNMT nước. Nguyên nhân và kết quả có sự tiếp nối dây chuyền với
nhau. Kết quả của sự việc này cũng chính là nguyên nhân của sự việc khác. Một
nguyên nhân có thể tạo ra nhiều kết quả, và một kết quả cũng có thể được tạo thành
từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Nhưng nguyên nhân kể trên có kết quả là ÔNMT,
và ÔNMT lại là nguyên nhân làm ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người và nhiều
loại sinh vật khác. Nhiều căn bệnh hiểm nghèo, nhiều trận đại dịch đã lấy đi rất
nhiều mạng sống con người, và những cái chết hàng loạt của nhiều sinh vật đã khiến
chúng ta phải lên tiếng.
Mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý
thức con người. Chúng ta không thể nói rằng "Do sản xuất, tôi và nhiều người phải
đưa hàng loạt chất thải vào mt nhưng tôi muốn tận hưởng một mt sạch sẽ, trong
lành". Chất thải chắc chắn sẽ làm ÔNMT, đó là điều tất nhiên, không phụ thuộc vào ý
thức, dù muốn hay không thì điều đó vẫn xảy ra. Một khi mt bị ô nhiễm , điều tất yếu
sẽ xảy đến chính là bệnh tật cho người.
4. Ý nghĩa lý luận:
Vì mối liên hệ nhân quả có tính khách quan nên cần phải tìm nguyên nhân của
các sự vật, hiện tượng dẫn đến kết quả đó.
Vì nguyên nhân có liên hệ mật thiết với kết quả, nên muốn biết được bản chất
của một hiện tượng nào đó mới xuất hiện ta có truy từ nguyên nhân ra đời của nó.
Vì mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác
các loại nguên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường
hợp cụ thể trong nhận thức vả thực tiễn.
Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả và ngược lại nên trong nhận
thức và thực tiễn cần phải có cách nhìn toàn diện và lịch sử - cụ thể trong phân tích,
gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi
trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi
nước thải, khí thải và chất thải rắn. ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất
công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử
lý chất thải. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Ví dụ: ở ngành công
nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH
trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD), nhu cầu ôxy hoá học (COD)
có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm ượng chất rắn lơ lửng... cao gấp nhiều lần
giới hạn cho phép.
Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến
84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã
gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư.
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất,
cụm công nghiệp tập trung là rất lớn.
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước
bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000
m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. ở thành phố Thái Nguyên, nước
thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu,
khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên
chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và
hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi
khó chịu…
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt
nhuộm ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử
lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực.
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ
thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương).
Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện
và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong
nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2001 của cả nước là 751.999 ha. Do nuôi trồng thuỷ sản
ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động
tiêu cực tới môi trường nước. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các
loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ,
lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một
số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất
hiện thuỷ triều đỏở một số vùng ven biển Việt Nam.
2.2.3 Hiện trạng ô nhiễm nước ở một số sông lớn ở nước ta:
Sau gần 20 năm mở cửa và đẩy mạnh kinh tế với hơn 64 khu chế xuất và khu
công nghiệp, cộng thêm hàng trăm ngàn cơ sở hóa chất và chế biến trên toàn quốc.
Vấn đề chất thải là một vấn đề nan giải đối với những quốc gia còn đang phát triển,
và chất thải lỏng trong trường hợp Việt Nam đã trở thành một vấn nạn lớn cho quốc
gia hiện tại vì chúng đã được thải hồi thẳng vào các dòng sông mà không qua xử lý.
Qua thời gian, nguy cơ ô nhiễm ngày càng tăng dần, và cho đến hôm nay, có thể nói
rằng tình trạng ô nhiễm trên những dòng sông ở Việt Nam đã tăng cường độ kinh
khủng và không còn phương cách nào cứu chữa được nữa.
Qua bá chì và truyền thanh ở VN từ hơn hai năm qua, tin tức ô nhiễm
nguồn nước ở hầu hết sông ngòi VN, đặc biệt ở những nơi có phát triển trọng điểm.
Nhiều dòng sông trước kia là nơi giặt giũ tắm rữa, và nước sông được xử dụng như
nước sinh hoạt gia đình. Nay tình trạng hoàn toàn khác hẳn. Người dân ở
nhiều nơi không thể dùng những nguồn nước sông này nữa. Những nơi được đề cập
đến có thể được chia ra từng khu vực khác nhau từ Bắc chí Nam tùy theo sự phát
triển của từng nơi một. Ðó là:
Lưu vực sông Cầu và các phụ lưu qua các tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên,
Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hải Dương.
Lưu vực sông Nhuệ, sông Ðáy chảy qua các tỉnh Hòa Bình, TP Hà Nội,
Hà Tây, Hà Nam, Nam Ðịnh, và Ninh Bình.
Lưu vực sông Ðồng Nai, sông Sài Gòn gồm các tỉnh Lâm Ðồng, Ðắc Lắc,
Ðắc Nông, Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Ðồng Nai (Biên Hòa), TP HCM, Bà
Rịa-Vũng Tàu, Ninh Thuận, và Bình Thuận.