TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2012
Tên công trình:
PHÁT HUY TÍNH ƯU VIỆT CỦA HỆ THỐNG ĐÀO TẠO
THEO TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Thuộc nhóm ngành khoa học: KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ 2
BẢN TÓM TẮT
2
HÀ NỘI, 2012
MỤC LỤC
MỤC LỤC.................................................................................................................2
DANH MỤC BẢNG BIỂU......................................................................................3
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................4
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN.....................................................13
2.1. Phân tích thực trạng hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại trường Đại học
Kinh tế Quốc dân................................................................................................13
CHƯƠNG III. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ PHÁT HUY TÍNH ƯU
VIỆT CỦA HỆ THỐNG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI
HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN................................................................................21
KẾT LUẬN.............................................................................................................23
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................24
LỜI MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Chất lượng và tiện ích của đào tạo theo tín chỉ so với đào tạo theo niên chế là
điều đã được khẳng định qua quá trình đào tạo nhiều năm ở các trường đại học uy
tín trên thế giới. Cùng với các trường đại học trong cả nước, Đại học Kinh tế Quốc
dân tổ chức thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ đã được năm năm (từ năm 2008).
Vì vậy, vấn đề được đặt là phải thực hiện phương thức đào tạo theo tín chỉ
như thế nào cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nhà trường.
Do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Phát huy tính ưu việt của hệ thống đào tạo
theo tín chỉ tại trường đại học Kinh tế Quốc dân” để từ việc nghiên cứu sâu hơn về
thực trạng đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại trường, chúng tôi phân tích đánh giá
những mặt tích cực đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại trong việc
thực hiện. Thông qua đó, chúng tôi xin đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy
tính ưu việt của hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại trường.
2.
Mục đích nghiên cứu
- Phát hiện những mặt tích cực đã đạt được và những hạn chế còn tồn tại
trong việc thực hiện chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại trường Đại học
Kinh tế Quốc dân.
- Phát hiện các yếu tố ảnh hưởng tới việc phát huy tính ưu việt của hệ
thống đào tạo theo tín chỉ tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.
Đối tượng nghiên cứu
+ Ưu điểm của đào tạo theo hệ thống tín chỉ so với đào tạo theo niên chế.
+ Những khó khăn sinh viên gặp phải khi học theo tín chỉ.
+ Đào tạo theo hệ thống tín chỉ có phù hợp với sinh viên Việt Nam nói
chung, sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân nói riêng hiện nay không?
+ Những khó khăn của việc đăng ký các môn học vào mỗi kỳ.
+ Hạn chế của hệ thống tín chỉ trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
+ Ý kiến đóng góp của sinh viên cho nhà trướng.
- Danh sách các sinh viên được phỏng vấn:
+ Phùng Thu Hà lớp Tài chính Doanh nghiệp K51
+ Thái Thị Mỹ Hạnh lớp Quản trị nhân lực K52
+ Nguyễn Thu Hiền lớp Quản trị nhân lực K52
+ Đinh Đắc Vũ lớp Quản trị nhân lực K51
+ Nguyễn Thị Yến lớp Quản trị nhân lực K51
4.2.2. Phương pháp phân tích
6
Phân tích, xử lí số liệu thu được bằng phần mềm Excel 2007 và phần mềm
thống kê toán học SPSS.
5. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu tính ưu việt của hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại trường Đại học
Kinh tế Quốc dân.
- Tìm hiểu những hạn chế và những vấn đề còn tồn tại trong quá trình thực
hiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại trường để từ đó phát hiện ra những cách thức,
biện pháp phát huy tính ưu việt đó.
7
8
Thứ 4: Có thể có môn học chỉ gồm một kiểu giờ tín chỉ, nhưng có thể có
những môn học nhiều hơn một kiểu giờ tín chỉ.
Thứ 5: Người học trong phương thức đào tạo theo tín chỉ được cấp bằng theo
hình thức tích luỹ đủ tín chỉ.
Thứ 6: Người học được cấp bằng không chỉ phụ thuộc vào số tín chỉ tích luỹ
được mà còn phụ thuộc vào điểm trung bình chung quy định cho từng học kỳ, từng
kiểu văn bằng.
Thứ 7: Với phương thức đào tạo theo tín chỉ, tự học được xem như một
thành phần hợp pháp trong cơ cấu giờ học của sinh viên, những nội dung tự học
cũng được đưa vào thời khoá biểu và đưa vào các bài kiểm tra, bài thi.
(Nguồn tham khảo: ThS.Nguyễn Thị Hương Giang, Bộ môn Tâm lý giáo dục – Trường Đại học
Hà Tĩnh (2009), Tìm hiểu về phương thức đào tạo theo tín chỉ)
1.3.
So sánh đào tạo theo hệ thống tín chỉ và đào tạo theo niên chế
Có thể thấy được sự khác nhau cơ bản giữ hai hình thức học trên là:
Niên chế
Tín chỉ
1. Tôn chỉ
- Người dạy học là trung tâm, người - Người học là trung tâm của quá trình
học xoay quanh quỹ đạo của người dạy.
- Tổ chức theo năm học;
đào tạo.
- Chương trình học trên lớp được rút
- Chương trình học trên lớp dài hơn so ngắn khoảng 1/3 so với niên chế;
với học theo tín chỉ;
- Dễ liên thông và chuyển đổi trường,
- Liên thông theo ngành học, chuyên ngành khác nhau từ tín chỉ đã tích lũy;
ngành; khó liên thông ngành khác,
trường khác;
3. Phương pháp đánh giá kết quả học tập
- Kết quả được đánh giá theo năm học - Kết quả học tập được đánh giá theo
với số đơn vị học trình được quy định học kỳ và theo số tín chỉ được tích lũy;
sẵn;
- Sinh viên bị buộc thôi học nếu không
- Nếu sinh viên nào không đạt yêu cầu đạt được điểm trung bình chung tích lũy
học tập đối với một năm học thì có thể nào đó sau một giai đoạn nhất định;
phải học lại năm học đó (lưu ban).
- Sinh viên cần đạt đủ số tín chỉ và điểm
- Sinh viên phải thi đạt tất cả các môn trung bình chung tích lũy qui định theo
học qui định.
từng năm và cả khóa;
- Sử dụng thang điểm 10 (hoặc 100) và - Sử dụng thang điểm 4 kết hợp thang
đề cao cách tính điểm tuyệt đối.
học;
- Thường phải hoàn thành chương trình - Có thể hoàn thành chương trình bằng
học theo số năm quy định, có thể kéo cách tích lũy tín để được cấp bằng tùy
dài nhưng rất khó rút ngắn;
theo khả năng và nguồn lực của cá nhân;
- Khó chọn lựa môn học theo thực tế - Có thể lựa chọn các môn tự chọn theo
của nhà tuyển dụng;
khuynh hướng nhà tuyển dụng…
- Sinh viên cùng một lớp học có chung - Mỗi sinh viên đều có thời khóa biểu
thời khóa biểu, được quy định cụ riêng, không theo một quy luật nhất định
thể.v.v…
nào.
Theo đánh giá của ThS. Nguyễn Thị Hương Giang Trưởng Bộ môn Tâm lý –
Giáo dục Đại học Hà Tĩnh, đào tạo theo tín chỉ có một số điểm ưu việt sau:
Thứ nhất, trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, tự học, tự nghiên cứu của
sinh viên được coi trọng, được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình.
Thứ hai, độ mềm dẻo và linh hoạt của chương trình.
Thứ ba, sinh viên được cấp bằng khi đã tích lũy được đầy đủ số lượng tín chỉ
do trường đại học quy định.
Thứ tư, phương thức đào tạo theo tín chỉ phản ánh được những mối quan tâm
và những yêu cầu của người học và nhu cầu của các nhà sử dụng lao động.
Thứ năm, phương thức đào tạo theo tín chỉ sẽ khuyến khích sự di chuyển của
sinh viên, mở rộng sự lựa chọn học tập của họ, làm tăng độ minh bạch của hệ thống
- Có nhiều chuyên đề mở trong chương trình đào tạo.
- Tăng các môn tự chọn và giảm sự quy định cứng về trật tự các môn phải
tích lũy.
Yêu cầu đặt ra với hệ thống cơ sở vật chất là:
-
Hệ thống thư viện phong phú.
Có phòng làm việc riêng để tạo điều kiện cho thầy cô có thể tư vấn trả lời
thắc mắc của sinh viên.
- Có phòng vi tính được nối mạng internet.
- Có phòng tự học.
- Có phòng thí nghiệm hiện đại.
- Đổi mới trang thiết bị phục vụ giảng dạy để bắt kịp với tiến độ khoa họccông nghệ tân tiến trên thế giới.
I.4. Các chính sách về đào tạo theo hệ thống tín chỉ
- Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm
2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo): gồm 5 chương, 29 điều.
12
- Quy định đào tạo đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ tại Trường
Đại học Kinh tế Quốc dân (Ban hành kèm theo Quyết định số 95 /QĐ-KTQD, ngày
14 tháng 01 năm 2008 của Hiệu trưởng): gồm 6 chương, 35 điều.
13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI
14
sẽ dẫn đến tình trạng sinh viên ồ ạt đổ xô vào đăng kí một chuyên ngành đang nóng
trên thị trường.
2.1.3.
Khả năng rút ngắn thời gian kết thúc chương trình đào tạo
Kết quả điều tra cho thấy, 70,08% sinh viên được khảo sát đồng ý với việc
chủ động lựa chọn số lượng môn học và đăng ký tín chỉ. Sinh viên học nhanh có
thể ra trường sớm từ 1- 2 kỳ. Trên lý thuyết việc học tín chỉ giúp sớm hoàn thành
và rút ngắn số năm học nhưng thực tế thì lại không được như vậy. Bên cạnh đó,
việc áp dụng chế độ ra trường sớm này chỉ áp dụng với một số khoa có số lượng
sinh viên lớn như Tài chính Ngân hàng hay Quản trị Kinh doanh.
2.1.4.
Sự gắn kết và quản lý sinh viên
Sự gắn kết giữa sinh viên với sinh viên
72,02% sinh viên được khảo sát đồng ý rằng sinh viên trong các lớp chuyên
ngành ít gắn kết hơn do việc gặp gỡ và sắp xếp thời gian để tham gia hoạt động lớp
là khá khó khăn. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng việc học các lớp tín chỉ giúp
các bạn có cơ hội được học tập, giao lưu với các sinh viên đến từ các chuyên ngành
khác nhau, tạo được sự đổi mới và phong phú hơn trong học tập.
Sự gắn kết giữa sinh viên với giảng viên
Với việc áp dụng hệ thống đào tạo tín chỉ, nhà trường rất khó kiểm soát được
việc học của sinh viên, không cập nhật, nắm rõ được thông tin của sinh viên, gây
khó khăn cho cán bộ quản lý lớp cũng như giảng viên trong việc nắm sĩ số lớp và
đánh giá quá trình học tập của sinh viên. Thầy cô không quan tâm đến sinh viên
như trong việc đào tạo theo niên chế.
Sự gắn kết giữa sinh viên với quản lí của khoa
Hiện nhà trường đã xây dựng một đội ngũ cố vấn học tập cho các lớp, các
khoa, tuy nhiên cố vấn học tập vẫn chưa phát huy hết vai trò của mình. Ngoài ra,
Về khung chương trình học, 39,98% sinh viên được khảo sát cho rằng
khung chương trình còn nhiều bất cập.
Thứ nhất, chương trình quá nặng về đại cương; các môn học như thể dục là
bắt buộc, là điều kiện cần để ra trường trong khi nó nên là một môn học đòi hỏi sự
tự nguyện và yêu thích của người học.
16
Thứ hai, nhiều sinh viên không nắm được chương trình học dẫn đến đăng ký
thiếu hoặc thừa môn học; do vậy dẫn đến tình trạng nhiều sinh viên ra trường muộn
chỉ vì học thiếu một môn học.
Thứ ba, chương trình học còn chưa rõ ràng: các môn học còn chồng chéo
chẳng hạn như việc một môn học có thể nằm ở hai tổ hợp được lựa chọn để đăng
ký. Điều này gây khó khăn cho cả người học và hệ thống tính điểm.
Thứ tư, việc sửa đổi chương trình học cũng không được cập nhật trên quản lý
đào tạo và không được phổ biến sớm dẫn đến tình trạng sinh viên đăng ký nhầm.
Về việc lựa chọn môn học, có tới 63,99% sinh viên được khảo sát cho rằng
sinh viên được chủ động trong việc chọn những môn học tổ hợp và lựa chọn thứ tự
các môn học. Tuy nhiên, việc lựa chọn những môn học tổ hợp cũng gây nhiều khó
khăn cho sinh viên khi các bạn không được tư vấn rõ ràng. Hơn thế nữa nhiều sinh
viên còn không biết lựa chọn thứ tự môn học cho hợp lý để việc học đạt được trình
tự và hiệu quả cao nhất.
Về phương pháp học tập, khoảng 40,07% sinh viên được khảo sát cho rằng
phương pháp học tập mới khó tiếp cận và còn nhiều hạn chế.
Thứ nhất, do ảnh hưởng nhiều từ việc học ở cấp ba và tình trạng lười biếng
mà chỉ có một số lượng rất ít sinh viện thực hiện điều này dẫn đến giảng viên khó
khăn trong vấn đề giảng dạy và việc tiếp thu bài không được hiệu quả.
Thứ hai, với mục tiêu lấy sinh viên làm trung tâm nhiều môn học áp dụng
cách thức cho sinh viên làm việc nhóm để thuyết trình các bài học hoặc các chủ đề.
mới chưa thật sự hiệu quả là xuất phát từ suy nghĩ và tư tưởng của chính bản thân
sinh viên.
2.1.7.
Quy chế tính điểm môn học
Quy đinh của trường Đại học Kinh tế Quốc dân vẫn giữ nguyên cách tính
điểm phẩy trên thang đo 10 như học niên chế chuẩn xác và công bằng hơn.
Tỷ lệ về thành phần điểm về cơ bản vẫn giống như ở học niên chế: điểm quá
trình học thường chỉ chiếm 20-30%, điểm bài thi cuối kỳ vẫn chiếm tỷ trọng lớn: từ
60-70%. Như vậy, đánh giá điểm quá trình còn ít mà dồn nhiều vào kỳ thi cuối kỳ,
điều này không đánh giá được toàn diện quá trình học của sinh viên.
2.1.8.
Cơ sở vật chất
18
Hiện nay, nhà trường cũng đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc hoàn thiện
hệ thống cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu học tập của một lượng lớn sinh viên. Mặc
dù đã cố gắng hoàn thiện hệ thống phòng học, tuy nhiên, hiện nay trường vẫn đang
phải thuê phòng học ngoài. Lớp học quá đông cũng là một vấn đề trường Đại học
Kinh tế Quốc dân đang phải đối mặt hiện nay.
Hiện nay hệ thống thư viện của nhà trường cũng chưa đáp ứng được nhu cầu
sử dụng của sinh viên. Cơ chế mượn tài liệu chưa thông thoáng cho sinh viên.
Hơn nữa, nhà trường vẫn chưa có nhiều phòng vi tính và phòng tự học phục
vụ cho việc học tập của sinh viên. Không chỉ riêng sinh viên mà ngay cả đến cố vấn
học tập cũng không có phòng làm việc riêng để tiện tư vấn cho sinh viên khi cần.
2.2. Những mặt tích cực đã đạt được
2.2.1. Về phía nhà trường
Quy mô đào tạo
Việc áp dụng hình thức đào tạo theo tín chỉ đã đáp ứng nhu cầu được học tập
Nhà trường đã có quy định rõ ràng về khung chương trình cho tất cả sinh
viên thuộc các khoa, các lớp khác nhau, quy định rõ môn nào là bắt buộc, môn nào
là tự chọn để sinh viên biết phải đăng kí học như thế nào.
Giáo trình, tài liệu học tập
Hiện nay, nhà trường đã và đang tiến hành cải cách, cập nhật các kiến thức
mới, biên soạn lại một số giáo trình học để kịp thời đáp ứng nhu cầu học tập của
sinh viên.
Phương pháp giảng dạy và học tập
Đại học Kinh tế Quốc dân đã và đang hướng đến đẩy lùi và xóa bỏ hình thức
giảng dạy theo kiểu “thầy đọc, trò chép” tồn tại trong hệ thống đào tạo theo niên
chế.
2.2.2. Về phía giảng viên và cố vấn học tập
Kể từ khi áp dụng hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ đã có những sự đổi
mới đáng kể về phương pháp giảng dạy của nhiều giảng viên, nhất là các giảng
viên trẻ. Ngoài ra, các giảng viên luôn nhiệt tình giúp đỡ sinh viên trong học tập và
nghiên cứu.
Trưởng các khoa cũng phân công cho mỗi lớp có một cố vấn học tập để theo
dõi, chỉ đạo và giải đáp những thắc mắc của sinh viên về vấn đề học tập.
2.2.3. Về phía sinh viên
Sinh viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân hiện nay đang dần làm quen, có
xu hướng tiếp thu và thích ứng nhanh nhạy hơn với các phương pháp học mới,
20
năng động và sáng tạo hơn, kĩ năng thuyết trình cũng như làm việc theo nhóm đang
ngày càng được nâng cao hơn so với các sinh viên khóa trước.
Hơn nữa, việc áp dụng học tín chỉ còn tạo môi trường và điều kiện cho sinh
viên mở rộng mối quan hệ ra ngoài phạm vi khoa, lớp chuyên ngành qua các lớp tín
chỉ.
mong nhà trường tiến hành thay các máy tính đã hỏng tại các phòng máy, nối mạng
internet và có cơ chế cho sinh viên vào học cũng như tìm kiếm tài liệu trên mạng
tại các phòng máy của trường.
Về quy mô lớp học
Để đảm bảo hiệu quả đào tạo, tiêu chuẩn số lượng sinh viên trong một lớp
cần phải được quy định cụ thể.
Về chương trình học
Một là, cân đối lại chương trình học cho các khoa, các chuyên ngành, nâng
cao tính chuyên sau đối với từng chuyên ngành.
Hai là, giảm bớt số lượng môn học trong một kì hoặc áp dụng học cuốn
chiếu để sinh viên có thêm thời gian tự học cũng như đọc thêm tài liệu tham khảo
hay nghiên cứu khoa học.
Ba là, có nhiều chuyên đề mở trong chương trình đào tạo để sinh viên tự
tham gia nghiên cứu dưới sự trợ giúp của cố vấn học tập cũng như giáo viên hướng
dẫn, tạo điều kiện cho sinh viên có thể vận dụng kiến thức vào thực tế.
Bốn là, tăng số môn học được lựa chọn của sinh viên, ngoài ra cũng có quy
định rõ về trình tự học của các môn.
Năm là, khi sinh viên vào trường, khoa đào tạo nên sắp xếp cố vấn học tập
hướng dẫn cụ thể cho sinh viên nắm rõ chương trình học trong 4 năm của mình và
22
trong quá trình học cần cập nhật liên tục để sinh viên có thể biết và theo dõi, chủ
động trong việc đăng kí, sắp xếp môn học cho bản thân.
Về đội ngũ cố vấn học tập
Các khoa đào tạo và quản lý sinh viên phải xây dựng được đội ngũ cố vấn
học tập có trách nhiệm, sâu sát với sinh viên, có thể hỗ trợ cho sinh viên bất cứ lúc
nào sinh viên có khó khăn, khúc mắc trong vấn đề học tập. Với hệ thống công nghệ
thông tin như hiện nay, cố vấn học tập của mỗi lớp, khoa có thể lập một diễn đàn,
tất cả các phía liên quan. Điều này đòi hỏi thời gian cũng như sự phối hợp đồng bộ
các nguồn lực cần thiết.
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
TS. Nguyễn Kim Dung,Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường Đại học Sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh (2005), Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: Kinh nghiệm thế
giới và thực tế ở Việt Nam, hội thảo Đào tạo theo tín chỉ do trường Đại học Ngoại
ngữ - Tin học thành phố Hồ Chí Minh tổ chức năm 2005.
2. ThS.Nguyễn Thị Hương Giang, Bộ môn Tâm lý giáo dục – Trường Đại học
Hà Tĩnh (2009), Tìm hiểu về phương thức đào tạo theo tín chỉ.
3. TS. Lê Văn Hảo – Phòng ĐBCL&KT, Trường Đại học Nha Trang (2011),
Những khác biệt căn bản giữa đào tạo theo niên chế và đào tạo theo tín chỉ.
4. Nguyễn Tấn Hùng (2007), Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học
đáp ứng yêu cầu đào tạo tín chỉ, Tạp chí Giáo dục, Số168, Kì 2, 7-2007, tr. 17-18
5. Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ (Ban
hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Quy định đào tạo đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ tại trường Đại học
Kinh tế Quốc dân (Ban hành kèm theo Quyết định số 95/QĐ-KTQD, ngày 14 tháng
01 năm 2008 của Hiệu trưởng)
25